1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp tắc tĩnh mạch thận ghép xảy ra muộn sau ghép thận

6 69 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 277,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tắc tĩnh mạch thận ghép là một biến chứng ít gặp, hầu hết các trường hợp thường xảy ra vài tuần sau ghép, tuy nhiên đã có những báo cáo tắc mạch thận ghép xảy ra muộn vài năm sau ghép. Mất thận ghép là hậu quả thường gặp.

Trang 1

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP TẮC TĨNH MẠCH THẬN GHÉP XẢY RA MUỘN SAU GHÉP THẬN

Hoàng Khắc Chuẩn * , Trần Anh Vũ * , Lý Hoài Tâm * , Nguyễn Duy Điền * , Thái Minh Sâm,

Trịnh Vũ Nghĩa ** , Phạm Minh Ánh **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tắc tĩnh mạch thận ghép là một biến chứng ít gặp, hầu hết các trường hợp thường xảy ra vài

tuần sau ghép, tuy nhiên đã có những báo cáo tắc mạch thận ghép xảy ra muộn vài năm sau ghép Mất thận ghép

là hậu quả thường gặp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi báo cáo một trường hợp tắc tĩnh mạch thận ghép và

tĩnh mạch chậu đùi khoeo chân phải xảy ra 8 tháng sau ghép Bệnh nhân được điều trị thành công bằng phương pháp can thiệp nội mạch bơm thuốc tiêu sợi huyết

Kết quả: Bệnh nhân được can thiệp nội mạch phục hồi lưu thông tĩnh mạch thận ghép bằng thuốc tiêu sợi

huyết tại chỗ qua ống thông đặt vào tĩnh mạch chậu đùi phải và tĩnh mạch thận ghép Siêu âm vào hậu phẫu ngày thứ 5 ghi nhận: thận ghép tưới máu tốt, RI: 0,71, lưu lượng máu qua tĩnh mạch thận 25cm/s, crea/HT giảm từ 4,3mg/dL lúc nhập viện xuống 1,43 mg/dL

Kết luận: Chẩn đoán sớm và can thiệp nội mạch bơm thuốc tiêu sợi huyết là phương pháp hiệu quả trong

điều trị tắc tĩnh mạch thận ghép xảy ra muộn

Từ khóa: thuyên tắc tĩnh mạch thận ghép, ghép thận

ABSTRACT

LATE ALLOGRAFT RENAL VEIN THROMBOSIS: A CASE REPORT

Hoang Khac Chuan,Tran Anh Vu, Ly Hoai Tam, Nguyen Duy Dien, Thai Minh Sam,

Trinh Vu Nghia, Pham Minh Anh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 275 – 280

Background: Allograft renal vein thrombosis is a rare phenomenon, most of cases occur in the first week,

however some cases have been described many years after transplantation surgery Allograft renal loss is the usual outcome

Methods: We describe a renal transplantation recipient with allograft renal vein thrombosis associated with

deep venous thrombosis of right lower limb, 8 months after transplantation He was successfully treated by percutaneous catheter directed thrombolysis

Result: The patient was treated with percutaneous catheter directly thrombolysis inside femoral iliac vein

and renal allograft vein Five days later, the doppler ultrasound was done and revealed complete re-permeabilization of allograft renal vein, RI: 0.71, with maximal velocity of 25 cm/s, the serum creatinine was reduced from 4.3mg/dL to 1.43mg/dL

Conclusion: Early diagnosis and prompt endovascular treatment of the thrombosis might be able to promote

total recovery of allograft renal function after late venous thrombosis

Keywords: allograft vein thrombosis, kidney transplantation

Tác giả liên lạc: BS Hoàng Khắc Chuẩn ĐT: 0913846817 Email: hoangkhacchuan@gmail.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ghép thận là một trong các phương pháp

điều trị thay thế thận được ưa chuộng cho bệnh

nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối Cho đến

nay mặc dù sống còn của mảnh ghép được cải

thiện rất nhiều trong những thập niên qua do

các kỹ thuật ngoại khoa trong ghép thận đã

được gần như hoàn thiện, thuốc ức chế miễn

dịch có những bước cải tiến và đột phá mạnh

mẽ, song các biến chứng sau ghép thận vẫn xảy

ra, trong đó biến chứng về mạch máu là một

trong những biến chứng nguy hiểm nhất có thể

gây mất thận ghép

Tắc tĩnh mạch thận ghép hiếm gặp và hầu

hết các trường hợp thường xảy ra sớm vài tuần

sau ghép, tuy nhiên có một số trường hợp báo

cáo tắc tĩnh mạch thận ghép xảy ra muộn vài

năm sau ghép đã được báo cáo trên y văn và mất

thận ghép là hậu quả thường gặp Chúng tôi báo

cáo một trường hợp tắc tĩnh mạch thận ghép và

tĩnh mạch chậu đùi khoeo chân phải xảy ra 8

tháng sau ghép thận và được điều trị thành công

bằng phương pháp can thiệp nội mạch bơm

thuốc tiêu sợi huyết

TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

Bệnh nhân (BN): NGUYỄN SỸ N, nam, sinh

năm 1983

Địa chỉ: Krông Năng, Đắc Lắc

Nhập viện: 27/6/2017 Số nhập viện:

23170061836

Tháng 07/2014 bệnh nhân mệt mỏi ăn uống

kém, đi khám bệnh được chẩn đoán bệnh thận

mạn Tháng 05/2015 bệnh nhân chẩn đoán bệnh

thận mạn giai đoạn cuối và được chạy thận nhân

tạo định kỳ bằng catheter tĩnh mạch đùi phải 6

tuần, sau đó sử dụng tĩnh mạch đầu cẳng tay

trái Tháng 10/2016 bệnh nhân được ghép thận

từ người hiến là em ruột, không tương hợp HLA

1/6, PRA (-) Thận ghép được lấy từ bên trái có 1

động mạch và 1 tĩnh mạch được nối ghép với

động mạch và tĩnh mạch chậu ngoài Mạch máu

vùng chậu không ghi nhận bất thường Cuộc mổ

diễn tiến thuận lợi, thời gian thiếu máu nóng 5

phút, thời gian thiếu máu lạnh 91 phút Bệnh nhân có nước tiểu tại bàn, chức năng thận cải thiện tốt và xuất viện với creatinine huyết thanh (crea/HT) 1,3 mg/dL Bệnh nhân được sử dụng thuốc ức chế miễn dịch dẫn nhập với Simulect

và thuốc ức chế miễn dịch duy trì: Neoral, Cellcept và Prednisone

Bệnh nhân theo dõi sau ghép định kỳ với crea/HT 1,3-1,5 mg/dL Siêu âm Doppler thận ghép tại thời điểm 1 tháng sau ghép thận (11/2016) không phát hiện bất thường

Cách nhập viện 2 ngày, bệnh nhân thấy phù nhẹ chân phải, nước tiểu giảm dần, thiểu niệu sau đó vô niệu vào tối 26/7/2017, kèm với đau vùng thận ghép, không tiểu máu, nên đã nhập viện (tại thời điểm 8 tháng sau ghép)

Khám lúc nhập viện (27/6/2017): mạch 90 l/phút, huyết áp 140/70 mmHg, nhiệt độ 370C Phù mềm chân phải Mạch mu chân (+) Thận ghép ở hố chậu phải, căng to, đau

Crea/HT: 4,3 mg/dL

Hồng cầu: 4,7 T/L, hemoglobin: 121 G/L, Hct 39,3%; bạch cầu 14,1 x 109 G/l; tiểu cầu: 235 x

109G/L; Fibrinogen: 2,9 g/L; APTT: 26,2 s; PT: 12,6 s, INR: 1,14; Dimer: >10.000 ng/mL

Các yếu tố đông máu: II: 93,3 (50-150); V:

92,6 150); VII: 122 150); VIII: 114,2 (50-150); IX: 199,2 (50-(50-150); X: 101,4 (50-(50-150); PAI-1: 6,14 (0,3-3,5)

Các yếu tố chống đông máu trong giới hạn

bình thường: Protein C: 113,8 (70-135); Protein S:

159,5 (62-145); Anti Thrombin: 142 (80-130) Các xét nghiệm miễn dịch học: kháng thể kháng nhân, ANCA, các kháng thể màng đáy cầu thận, kháng thể kháng phospholipid đều

âm tính

CMV-PCR âm tính

Siêu âm Doppler ngày 27/6:

Thận ghép nằm ở hố chậu phải kích thước:

65 x 127 x 78 mm, tĩnh mạch thận ghép có huyết khối gần hoàn toàn, tăng kháng lực động mạch thận ghép RI: 0,71

Tĩnh mạch chậu-đùi sâu-khoeo chân phải

Trang 3

dãn to, đè không xẹp, có huyết khối Tắc gần

hoàn toàn hệ tĩnh mạch chậu-đùi-khoeo chân

phải do huyết khối

Bệnh nhân được chẩn đoán: Suy thận cấp,

tắc tĩnh mạch chậu chung, đùi sâu, khoeo chân

phải Tắc tĩnh mạch thận ghép/ ghép thận

Bệnh nhân được nhập viện cấp cứu và sử

dụng Heparin bolus tĩnh mạch 5000 UI +

Heparin 10.000 UI SE 5 mL/giờ Bệnh nhân

được chỉ định can thiệp đặt catheter tĩnh mạch

chậu đùi khoeo phải và tĩnh mạch thận ghép

Dưới hướng dẫn của siêu âm chọc kim vào

tĩnh mạch khoeo, chụp kiểm tra thấy tĩnh

mạch chậu đùi khoeo phải tắc hoàn toàn, tĩnh

mạch thận ghép tắc hoàn toàn Bệnh nhân

được đặt catheter bơm thuốc tiêu sợi huyết

Urokinase 180.000 UI vào tĩnh mạch chậu đùi

khoeo phải và tĩnh mạch thận ghép, hút ra

nhiều huyết khối và được duy trì Urokinase

liều 1.000 UI/kg/giờ và Heparin 600 UI/kg/24

giờ Trong mổ sử dụng 100 ml thuốc cản

quang Xenetix

Ngay sau can thiệp bệnh nhân có nước tiểu trở lại, lượng nước tiểu dao động từ 100 – 150 mL/giờ

Thời gian sử dụng Urokinase trong 60 giờ Liều sử dụng 940 UI/kg/giờ

Biểu đồ 1: Sự thay đổi crea/HT theo diễn biến bệnh Bảng 1 Kết quả diễn tiến siêu âm Doppler thận ghép và tĩnh mạch chậu đùi khoeo phải

Ngày Kích thước thận ghép (mm) Tĩnh mạchchậu đùi khoeo Tĩnh mạch thận ghép RI

Bệnh nhân được xuất viện sau 6 ngày nằm

viện với crea/HT 1,43 mg/dL và được sử dụng

kháng đông rivaroxaban (Xarelto) 20 mg/ngày

Sau 9 tháng theo dõi, không xảy ra huyết khối và

chảy máu, crea/HT của bệnh nhân vẫn ổn định

1,4-1,6 mg/dL Bệnh nhân vẫn duy trì thuốc

chống đông máu dạng uống Xarelto 20 mg/ngày

(Bảng 1, Biểu đồ 1)

BÀN LUẬN

Ghép thận làm tăng chất lượng cuộc sống và

cải thiện sống còn của bệnh nhân bệnh thận mạn

giai đoạn cuối Tuy nhiên, chúng ta cần theo dõi

sát bệnh nhân sau ghép thận do có thể xảy ra các

biến chứng nội khoa và ngoại khoa, biến chứng

sớm và muộn, trong đó, tắc tĩnh mạch thận ghép

là một biến chứng hiếm gặp nhưng đáng sợ trong ghép thận vì thường dẫn tới mất thận ghép(12) Tắc tĩnh mạch thận ghép giai đoạn sớm trong vòng hai tuần đầu tiên sau khi mổ ghép thận với tỷ lệ 0,4-6%(12) Tắc tĩnh mạch thận ghép giai đoạn trễ sau ngày thứ mười bốn trong ngày phẫu thuật hiếm gặp hơn với tỷ lệ 0,5-4%(4) Tỉ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân ghép thận là 2,9/1000(5) Mặc dù biến chứng này có tỉ lệ rất thấp nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào sau ghép thận, trong đó phổ biến nhất là trong tháng đầu tiên sau phẫu thuật với tần suất 80%, so sánh với tần suất trong năm đầu tiên là 93%(11)

Tỷ lệ tắc tĩnh mạch thận ghép của chúng tôi 2/675 trường hợp, một trường hợp xảy ra sớm

Crea/HT (mg/dL)

Thời gian (ngày)

Trang 4

trong tuần đầu và một trường hợp xảy ra muộn

sau mổ ghép thận 8 tháng

Bệnh nhân ghép thận có các nguy cơ bị

huyết khối tắc mạch cao hơn, ngoài các yếu tố

nguy cơ thông thường (đái tháo đường, béo phì,

các biến cố huyết khối trước đây…) còn có các

yếu tố liên quan đến quá trình suy thận, ghép

thận như: phẫu thuật, sử dụng thuốc ức chế

miễn dịch, bệnh thận nguyên phát, phương

pháp lọc máu trước đây (bệnh nhân thẩm phân

phúc mạc có nguy cơ cao hơn bệnh nhân lọc

máu), tình trạng đa hồng cầu và nhiễm trùng(3,11)

Các nguyên nhân phổ biến nhất của huyết

khối tĩnh mạch thận ghép giai đoạn sớm thường

liên quan đến lỗi kỹ thuật: xoắn tĩnh mạch thận,

hẹp miệng nối tĩnh mạch, giảm dòng chảy do

giảm thể tích tuần hoàn và tình trạng tăng đông

máu sau mổ(13) Tắc tĩnh mạch thận ghép giai

đoạn muộn ít gặp hơn, có thể là kết quả của tình

trạng tăng đông, bị chèn ép bên ngoài từ nang

bạch mạch, nang giả niệu, máu tụ, khối u hay

huyết khối tĩnh mạch chậu đùi sâu lan lên tĩnh

mạch thận ghép(3)

Số trường hợp báo cáo điều trị thành công

tắc tĩnh mạch thận ghép được ghi nhận trong y

văn rất ít(1)

Melamed ML (2005) báo cáo hai trường hợp

huyết khối tĩnh mạch thận trễ do bệnh cầu thận

màng de novo xảy ra sau 5 và 26 tháng sau ghép

thận Siêu âm không phát hiện được tắc mạch do

huyết khối mà chẩn đoán dựa trên hình ảnh của

cộng hưởng từ Cả hai trường hợp đều được

điều trị bằng hút lấy huyết khối qua da và sử

dụng thuốc tiêu sợi huyết Chức năng thận sau

can thiệp có cải thiện Một bệnh nhân do đến trễ

nên crea/HT tăng từ 1,9 mg/dL lên 3,5 mg/dL và

chạy thận nhân tạo sau 1 năm(8)

Jill A Jones (2014) báo cáo 1 trường hợp phụ

nữ 29 tuổi ghép thận- tụy đồng thời, tắc tĩnh

mạch thận ghép sau mổ 8 tháng do tĩnh mạch

thận bị chèn bởi 1 nang buồng trứng lớn bên

phải Ban đầu bệnh nhân được phẫu thuật lấy

huyết khối, đặt stent và dùng kháng đông

nhưng huyết khối được tái lập lại nên phải can thiệp phẫu thuật cắt1 thận ghép(4,6)

Krishnaswamy SK (2014) báo cáo 1 trường hợp bệnh nhân nam, 55 tuổi, ghép thận lần thứ 2

từ người hiến thận sống, lần ghép đầu mất thận ghép do thải ghép kháng steroid, diễn tiến cuộc

mổ thuận lợi, sau 1 tuần bệnh nhân xuất viện với lượng nước tiểu 3,5 lít/24 giờ, crea/HT 0,9 mg/dL 4 tuần sau mổ, bệnh nhập viện vô niệu

và phù chân trái, crea/HT 2,2 mg/dL, siêu âm cho thấy có huyết khối tĩnh mạch đùi, chậu ngoài trái và tĩnh mạch thận ghép Bệnh nhân được điều trị thành công bằng sử dụng thuốc tiêu sợi huyết tại chỗ với streptokinase (250.000

IU liều tải và liều duy trì 100.000 IU / giờ trong

12 giờ) Chụp tĩnh mạch sau 12 giờ, thấy còn tắc một phần tĩnh mạch thận ghép, tiếp tục điều trị thuốc tiêu sợi huyết tại chỗ trong 6 giờ tiếp theo sau đó thấy không còn huyết khối tĩnh mạch thận Lượng nước tiểu và creatinine huyết thanh cải thiện dần Bệnh nhân được bắt đầu sử dụng thuốc kháng đông uống và aspirin Crea/HT lúc xuất viện 0,8 mg/dL và không phát hiện được các bất thường về rối loạn tăng đông(7)

Ferreira 2016, báo cáo 1 trường hợp tắc tĩnh mạch thận ghép xảy ra sau 9 năm do huyết khối tĩnh mạch sâu Bệnh nhân nhập viện với crea/HT 3,4 mg/dL, vô niệu được chạy thận nhân tạo và

sử dụng heparine liều kháng đông Sau 5 ngày bệnh nhân có nước tiểu và chức năng thận hồi phục dần, crea/HT 2,65 mg/dL và tiếp tục được

sử dụng warfarin Sau 30 tháng theo dõi không

có biến chứng huyết khối và chảy máu, crea/HT trong khoảng 1,6 – 1,8 mg/dL Đây là một trường hợp tắc mạch thận rất hiếm gặp và được can thiệp thành công Không có yếu tố nguy cơ nào được tìm thấy trên bệnh nhân này(2)

Chẩn đoán sớm luôn là chìa khóa để giảm tình trạng rối loạn chức năng thận và mất thận ghép Triệu chứng lâm sàng điển hình của tắc tĩnh mạch thận ghép bao gồm: tiểu máu, thiểu niệu rồi vô niệu, đau vùng thận ghép, phù chi dưới cùng bên thận ghép và suy thận cấp(1)

Trang 5

Bệnh nhân của chúng tôi có gần đủ các triệu

chứng này ngoại trừ tiểu máu

Mặc dù chụp mạch máu có thuốc cản quang

là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán tắc mạch máu,

nhưng các kỹ thuật này xâm lấn và có độc tính

trên thận Hầu hết các trường hợp có thể phát

hiện tắc mạch thận ghép trên siêu âm Siêu âm

thường là xét nghiệm thường được sử dụng

trong đánh giá rối loạn chức năng ghép thận vì

có thể cho biết đồng thời cả bất thường mạch

máu cũng như biến chứng nhu mô thận và

đường tiết niệu Tắc tĩnh mạch thận ghép có thể

thấy hình ảnh trên siêu âm thận ghép tăng kích

thước, phù nề, mất phân biệt giới hạn vỏ - tuỷ, tụ

dịch quanh thận ghép, hình ảnh giãn tĩnh mạch

thận và có cấu trúc echo kém trong lòng mạch

Siêu âm Doppler không có dòng chảy tĩnh mạch

và đảo ngược dòng chảy tâm trương ở động

mạch Hình ảnh chụp cộng hưởng từ mạch máu

không có độc tính trên thận và độ nhạy cao hơn

siêu âm(2,8)

Điều trị tắc tĩnh mạch thận ghép nhằm duy

trì chức năng thận ghép bao gồm phẫu thuật

và sử dụng thuốc chống đông Tiên lượng của

những bệnh nhân tắc tĩnh mạch thận ghép

thường xấu vì nguy cơ mất thận ghép rất cao(2)

Hầu hết các trường hợp tắc tĩnh mạch thận

ghép giai đoạn sớm sau mổ thường được điều

trị bằng phẫu thuật lấy huyết khối và điều

chỉnh các biến chứng do lỗi kỹ thuật Tuy

nhiên, tắc tĩnh mạch thận ghép trong giai đoạn

muộn, tỷ lệ điều trị thành công bảo tồn chức

năng thận ghép thường thấp Sử dụng thuốc

tiêu sợi huyết thường được lựa chọn để điều

trị trong giai đoạn tắc tĩnh mạch thận ghép xảy

ra trong giai đoạn muộn(7) Can thiệp nội mạch

qua da và/hoặc sử dụng thuốc tiêu sợi huyết

tại chỗ với yếu tố hoạt hóa plasminogen

(streptokinase, urokinase,…) có thể có ích

trong trường hợp huyết khối tĩnh mạch thận

cấp hoặc huyết khối tĩnh mạch thận một phần

với mục tiêu tái lập lưu thông lại mạch máu và

bảo tồn thận ghép Phẫu thuật lấy huyết khối

tái lập lưu thông tĩnh mạch thường thất bại

Phẫu thuật thám sát và cắt thận ghép là cách điều trị phổ biến nhất đối với phần lớn các trường hợp chủ yếu để tránh vỡ thận và tử vong(9)

Bệnh nhân của chúng tôi có tắc tĩnh mạch thận ghép 8 tháng sau ghép thận, được can thiệp nội mạch và sử dụng thuốc tiêu sợi huyết thành công Trên bệnh nhân này chúng tôi chưa tìm được yếu tố nào thực sự gây tình trạng huyết khối tĩnh mạch thận ghép ngoại trừ bệnh nhân

có tiền căn sử dụng tĩnh mạch chậu ngoài bên phải để chạy thận nhân tạo trong 6 tuần, tuy nhiên khi phẫu thuật ghép thận không ghi nhận bất thường của tĩnh mạch chậu Chúng tôi đã tầm soát các yếu tố đông máu, yếu tố chống đông máu, chỉ ghi nhận tăng PAI-1, gợi ý tình trạng tăng đông trong khi các xét nghiệm còn lại bình thường Chúng tôi tiếp tục các xét nghiệm miễn dịch của các bệnh lý tự miễn nhằm xác định gây tăng đông huyết khối nhưng vẫn chưa xác định được nguyên nhân huyết khối Trong trường hợp này chúng tôi chưa xét nghiệm đột biến gen yếu tố V Leiden và đột biến gen prothrombin

Để dự phòng huyết khối trên bệnh nhân có tắc mạch máu thận ghép, Claudio Ponticelli đã đưa ra chiến lược dự phòng dựa vào có hay không có tiền sử hay các yếu tố nguy cơ liên quan huyết khối, hoặc tắc tĩnh mạch sâu hay thuyên tắc phổi Nếu có tiền sử hay các yếu tố nguy cơ liên quan huyết khối nên tầm soát tình trạng tăng đông bao gồm: kháng thể kháng phospholipid, thiếu hụt protein C, protein S, yếu

tố V Leiden, đột biến gen Prothrombin G20210A, thiếu hụt antithrombin(10)

KẾT LUẬN

Tắc tĩnh mạch thận ghép xảy ra muộn là biến chứng rất hiếm gặp sau ghép nhưng thường nghiêm trọng và dẫn đến mất thận ghép Vấn đề sống còn là làm sao để chẩn đoán sớm và có hướng điều trị kịp thời có thể cứu và duy trì chức năng thận ghép Can thiệp nội mạch, sử dụng thuốc tiêu sợi huyết là phương pháp hiệu quả trong điều trị tắc tĩnh mạch thận ghép xảy ra

Trang 6

muộn Bên cạnh đó, cần tầm soát và ghi nhận các

yếu tố nguy cơ để dự phòng huyết khối

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abbott KC, Cruess DF, Agodoa LY, et al (2014) Early renal

insufficiency and late venous thromboembolism after renal

transplantation in the United States Am J Kidney Dis; 43:120-130

2 Ferreira C et al (2016) Late Allograft Renal Vein Thrombosis

Treated With Anticoagulation Alone: A Case Report Transplant

Proc, 48:3095-3098

3 Giustacchini P, Pisanti F, Citterio F, et al (2002) Renal vein

thrombosis after renal transplantation: an important cause of

graft loss Transplant Proc, 34:2126-2127

4 Hogan JL, Rosenthal SJ, Yarlagadda SG, Jones JA et al (2015)

Late-onset renal vein thrombosis: A case report and review of

the literature International Journal of Surgery Case Reports, 6:73–

76

5 Humar A, Key N, Ramcharan T, et al (2001) Kidney

retransplants after initial graft loss to vascular thrombosis Clin

Transplant, 15:6-10

6 Jones JA, Rosenthal SJ (2014) Late Onset of Renal Vein

Thrombosis After Renal Transplantation Ultrasound Quarterl;

30(3):228-229

7 Krishnaswamy SK, et al (2014) Successful thrombolysis of renal

allograft venous thrombosis – A case report Indian J Transplant,

8(2):57-59

8 Melamed ML, et al (2005) Combined percutaneous mechanical and chemical thrombectomy for renal vein thrombosis in

kidney transplant recipients Am J Transplant, 5(3):621-626

9 Pillot P, Bardonnaud N, Lillaz J, et al (2012) Risk factors for surgical complications after renal transplantation and impact on

patient and graft survival Transplant Proc, 44:2803 -2808

10 Ponticelli C, Moia M, Montagnino G (2009) Renal allograft

thrombosis Nephrology Dial Transplant, 24:1388–1393

11 Ramirez PJ, Gohh RY, Kestin A, et al (2002) Renal allograft loss due to proximal extension of ileo femoral deep venous

thrombosis Clin Transplant, 16:310-313

12 Ripert T, et al (2009) Preventing graft thrombosis after renal transplantation: a multi center survey of clinical practice

Transplant Proc, 41(10):4193–4196

13 Schwieger J, Reiss R, Cohen JL, et al (1993) Acute renal allograft dysfunction in the setting of deep venous thrombosis: a case of successful urokinase thrombolysis and a review of the literature

Am J Kidney Dis; 22:345-350

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/06/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm