1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dị vật đường thở được nội soi phế quản ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/2016 đến 04/2019

6 104 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 306,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nhằm tìm hiểu về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả nội soi phế quản trong những trường hợp dị vật đường thở (DVĐT) ở trẻ em, đồng thời khảo sát những trường hợp chẩn đoán nhầm, để rút kinh nghiệm trong chẩn đoán và xử trí DVĐT, hạn chế biến chứng có thể xảy ra.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ ĐƯỢC NỘI SOI PHẾ QUẢN

Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 TỪ 01/2016 ĐẾN 04/2019

Đoàn Thị Thanh Hồng * , Lại Lê Hưng ** , Nguyễn Phương Thùy ***

TÓM TẮT

Mục tiêu: Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết

quả nội soi phế quản trong những trường hợp dị vật đường thở (DVĐT) ở trẻ em, đồng thời khảo sát những trường hợp chẩn đoán nhầm, để rút kinh nghiệm trong chẩn đoán và xử trí DVĐT, hạn chế biến chứng có thể xảy

ra

Phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định DVĐT và được nội soi phế quản lấy DV tại

bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 1/2016 đến tháng 04/2019

Kết quả: Có 51 bệnh nhân dị vật đường thở được nội soi phế quản lấy dị vật tại bệnh viện Nhi đồng 2 từ

tháng 1/2016 đến tháng 04/2019 74,5% trẻ dưới 3 tuổi Tỉ lệ nam:nữ là 2,2:1 Lý do vào viện phần lớn liên quan đến hít sặc dị vật (56,7%) Hội chứng xâm nhập được khai thác trong 82,4% các trường hợp Triệu chứng lâm sàng: ho (100%), khò khè (68,6%), co kéo cơ hô hấp phụ (82,4%), ran tắc nghẽn (51%), giảm thông khí một bên (45%) X-quang ngực: bình thường chiếm 13,7% Có 8 trường hợp cần chụp CT scan ngực có cản quang và phát hiện dị vật trong 7/8 trường hợp Kết quả nội soi: hầu hết các trường hợp dị vật được nội soi trong vòng 24 giờ đầu sau nhập viện (66,7%), và lấy được dị vật trong lần soi đầu tiên (86,4%); 45,1% dị vật được tìm thấy ở phế quản gốc phải, chủ yếu là các loại hạt (49%) Điều rị khác: hổ trợ oxy (29,4%), kháng sinh (80,4%), kháng viêm (72,5%), thuốc dãn phế quản (7,8%) Có 9 trường hợp không khai thác được hội chứng xâm nhập vào thời điểm nhập viện dẫn đến chẩn đoán nhầm

Kết luận: Cần chú ý khai thác kỹ bệnh sử về hội chứng xâm nhập ở những trẻ nghi ngờ DVĐT hoặc không

đáp ứng với điều trị, ngay cả khi X-quang ngực bình thường Việc chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời nhằm hạn chế những biến chứng và những điều trị không thích hợp khác

Từ khoá: dị vật đường thở ở trẻ em, nội soi phế quản

ABSTRACT

THE CHARACTERISTICS OF FOREIGN BODY ASPIRATION IN CHILDREN

AT CHILDREN’S HOSPITAL 2 FROM JANUARY 2016 TO APRIL 2019

Doan Thi Thanh Hong, Lai Le Hung, Nguyen Phương Thuy

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 4 - 2019: 174 – 180

Objectives: This study determine the epidemiological, clinical, subclinical characteristics and bronchoscopy

results in cases of FBA in children, and survey cases of misdiagnosis, to learn from experience in diagnosis and management of FBA, limit possible complications

Method: Case series report

Results: There were 51 patients with FBA who received bronchoscopy to remove foreign bodies from

Children's Hospital 2 from January 2016 to April 2019 74.5% patients are under 3 years old Male: female ratio

is 2.2: 1 The reason for hospitalization is largely related to inhaled foreign bodies (56.7%) History of choking was found in 82.4% cases Clinical symptoms: cough (100%), wheezing (68.6%), respiratory muscle contraction (82.4%), congestion (51%), reduced one-sided ventilation (45%) Chest X-ray: normal (13.7%) There are 8

cases that require chest CT scans and 7 of them revealed foreign bodies Endoscopic results: most cases were endoscopic within the first 24 hours after admission (66.7%), and the rate of foreign bodies removed completely

in the first time of bronchoscopy was 86.4%; 45.1% foreign bodies are found in the right main bronchus, mainly nuts (49%) The other supportive treatments included: support oxygen (29.4%), antibiotics (80.4%),

anti-*Bệnh viện Nhi Đồng 2

Tác giả liên lạc: BS Đoàn Thị Thanh Hồng ĐT: 0904427364 Email: doantthong@gmail.com

Trang 2

inflammatory (72.5%), bronchodilator (7.8%) There are 9 cases which have no history of choking at the time of admission, leading to misdiagnosis

Conclusion: The history of choking should be carefully considered in children who suspect FBA or not

responding to treatment, even if the chest X-ray is normal Early diagnosis and timely management limit the

complications and other inappropriate treatment

Keyword: foreign body aspiration, bronchoscopy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dị vật đường thở (DVĐT) là trường hợp cấp cứu

thường gặp ở trẻ em, có khả năng đe dọa tính mạng

do dị vật gây tắc nghẽn đường thở, làm giảm thông

khí và thiếu oxy DVĐT ở trẻ em được nghĩ đến khi

có hội chứng xâm nhập Ngược lại, trong những

trường hợp không ghi nhận được hội chứng xâm nhập

do người chăm sóc không chứng kiến hoặc không

được khai thác bởi nhân viên y tế, thì việc chẩn đoán

đòi hỏi phải xem xét cẩn thận từ bệnh sử, diễn tiến

lâm sàng, những bằng chứng về hình ảnh học và nội

soi, tránh chẩn đoán nhầm hoặc bỏ sót

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm

sàng và kết quả nội soi phế quản trong những trường

hợp DVĐT ở trẻ em, đồng thời khảo sát những trường

hợp chẩn đoán nhầm, góp phần rút kinh nghiệm trong

chẩn đoán và xử trí DVĐT, hạn chế biến chứng có thể

xảy ra

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định DVĐT và

được nội soi phế quản lấy dị vật tại Bệnh viện Nhi

Đồng 2 từ tháng 01/2016 đến tháng 04/2019

Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân DVĐT được nội soi phế quản lấy dị

vật từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2019

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân được chẩn đoán DVĐT không được

nội soi hoặc nội soi không thấy dị vật

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca

Y đức

Nghiên cứu được chấp thuận bởi Hội đồng Khoa

học công nghệ Bệnh viện Nhi Đồng 2 số

919/CĐT-NĐ2

KẾT QUẢ

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Trong số 51 bệnh nhân DVĐT được nội soi phế quản lấy dị vật được khảo sát, tỉ lệ nam chiếm đa số

so với nữ (68,6% và 31,4%) Tuổi trung bình là 31,1 tháng (7 tháng đến 12 tuổi) thường gặp nhất là nhóm tuổi dưới 3 tuổi chiếm 74,5%

Đặc điểm khởi phát bệnh

Bảng 1 Đặc điểm khởi phát DVĐT (n=51)

Đặc điểm khởi phát bệnh Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Lý do nhập viện

Ho sặc

Ho Khò khè Khó thở Sốt

Ho ra máu

BV tuyến trước chuyển vì DVĐT

29

5

6

3

3

1

4

56,7 9,8 11,8 5,9 5,9

2 7,8 Hội chứng xâm nhập

Có Nhi đồng 2 khai thác Tuyến trước khai thác Không

42

20

22

9

82,4

17,6 Hoàn cảnh xảy ra

Lúc ăn Lúc chơi Không rõ

32

10

9

62,7 19,6 17,7 Thời gian bệnh (giờ/ngày) 6,7 ngày (12 giờ - 30 ngày) Qua phân tích cho thấy, lý do nhập viện thường gặp nhất là ho sặc (56,7%) Hội chứng xâm nhập được tìm thấy trong trường hợp 82,4%, trong đó, tỉ lệ khai thác bệnh sử tìm hội chứng xâm nhập khi bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Nhi Đồng 2 và tại cở sở khám chữ bệnh ở tuyến trước khá tương đương Hội chứng xâm nhập xảy ra chủ yếu trong lúc ăn (62,7%)

(Bảng 1)

Thời gian bệnh trung bình là 6,7 ngày

Đặc điểm trước can thiệp nội soi

Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng trước nội soi (n=51)

Triệu chứng cơ năng

Trang 3

Khàn tiếng 2 3,9

Triệu chứng thực thể

Thở co kéo cơ hô hấp phụ 42 82,4

Giảm phế âm một bên 23 45

Thở nghe tiếng kèn* 1 2

*Đây là triệu chứng phát sinh thêm trong quá trình lấy mẫu

Qua khảo sát, triệu chứng ho hiện diện trong tất

cả các trường hợp dị vật đường thở chiếm 100%, tiếp

theo là khò khè (68,6%) và sốt (27,5%) Triệu chứng

thực thể hay gặp là thở co kéo cơ hô hấp phụ (82,4%),

ran tắc nghẽn (51%), giảm thông khí một bên (45%)

(Bảng 2)

Bảng 3 Đặc điểm cận lâm sàng qua X-quang ngực

thẳng (n=51)

Tất cả bệnh nhân DVĐT được nội soi gắp dị vật

trong nghiên cứu đều được chụp X-quang ngực thẳng

trước nội soi, tỉ lệ viêm phổi (66,7%), xẹp phổi

(33,3%), ứ khí khu trú (31,4%) Tỉ lệ phát hiện dị vật

cản quang trên X-quang là 23,5% Và có 13,7% có

hình ảnh bình thường trên X-quang (Bảng 3)

Bảng 4 Đặc điểm cận lâm sàng qua CT scan ngực có

cản quang (n=51)

Đặc điểm CT scan ngực có cản quang Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Số bệnh nhân được chụp CT Scan

Số bệnh phân phát hiện được DVĐT

trên CT Scan

8

7

15,7 13,7 Trong tổng số bệnh nhi được khảo sát, có 8

trường hợp cần chụp CT scan ngực có cản quang

(15,7%), trong đó, tỉ lệ phát hiện dị vật qua hình ảnh

CT scan là 7/8 bệnh nhân (Bảng 4)

Đặc điểm kết quả nội soi lấy dị vật

Kết quả phân tích cho thấy, phần lớn bệnh nhân

DVĐT được nội soi phế quản lấy dị vật trong vòng 24

giờ đầu sau nhập viện (66,7%) Đa số bệnh nhân được

nội soi một lần để lấy hết dị vật (86,4%) Vị trí thường

thấy dị vật nhất là ở phế quản gốc bên phải (45,1%),

kế đến là phế quản gốc trái (27,5%), hạ thanh môn

(11,8%) Có 49% dị vật là các loại hạt như hạt đậu

phộng, hạt dưa, hạt bí Tiếp theo là dị vật xương (29,4%), còn lại là những đồ chơi và vật dụng nhỏ

khác (21,6%) (Bảng 5)

Bảng 5 Đặc điểm kết quả nội soi gắp dị vật (n=51)

Đặc điểm kết quả nội soi Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Thời gian (giờ)

≤ 24 giờ

>24 giờ

34

17

66.7 33,3

Số lần nội soi gắp được dị vật (lần)

1

2

3

4

1,2 (1-4)

44

5

1

1

86,4 9,8 2,0 2,0

Vị trí DV

Hạ thanh môn Khí quản Carina Phế quản gốc (P) Phế quản thùy dưới (P) Phế quản gốc (T) Hai vị trí

6

4

4

23

1

14

1

11,8 7,8 7,8 45,1 2,0 27,5 2,0 Loại DV

Các loại hạt Hạt đậu phộng Hạt dưa Hạt bí Hạt mảng cầu Hạt chôm chôm Hạt chùm ngây Hạt hướng dương Xương Xương lươn Xương cá Xương heo Đầu tôm Không rõ loại

Đồ chơi, vật dụng nhỏ Kim loại Thủy tinh

Khác

25

8

7

5

2

1

1

1

15

6

1

3

1

4

11

6

2

3

49,0 15,7 13,7 9,8 3,9 2,0 2,0 2,0 29,4 11,8 2,0 5,9 2,0 7,8 21,6 11,8 3,9 5,9

Đặc điểm các can thiệp điều trị khác trước và sau nội soi lấy DV

Về các can thiệp điều trị khác trước và sau can thiệp nội soi phế quản lấy dị vật, có khoảng 29,4% các trường hợp cần hổ trợ hô hấp với tỉ lệ cần cung cấp oxy hoặc NCPAP hoặc thở máy là như nhau (9,8%)

Có 80,4% các trường hợp được điều trị với kháng sinh Tỉ lệ sử dụng kháng viêm là 72,5% Và chỉ có 7,8% bệnh nhân có sử dụng thuốc dãn phế quản

Đặc điểm kết quả điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 1 trường hợp

tử vong (2%)

Trang 4

Đặc điểm của những trường hợp chẩn đoán nhầm

Có 9 trường hợp không ghi nhận được hội chứng

xâm nhập trước đó, thời gian từ lúc có triệu chứng đến

khi nhập viện trung bình là 17,1 ngày, hầu hết là sau 5

ngày Triệu chứng cơ năng thường gặp là ho (88,9%),

sốt (66,7%), khò khè (33,3%) và ho ra máu (11,1%)

Còn triệu chứng cơ năng gồm co kéo cơ hô hấp phụ

(66,7%), ran tắc nghẽn (66,7%), giảm thông khí một

bên (11,1%) (Bảng 6)

Chẩn đoán ban đầu trước khi nghi ngờ dị vật

đường thở ở những bệnh nhân này chủ yếu là viêm

phổi kéo dài (55,6%), viêm phổi tái phát (33,3%)

Hình ảnh viêm phổi hiện diện hầu hết trên

X-quang của những trường hợp này (100%), xẹp phổi

(55,6%), ứ khí một bên (22,2%), dị vật cản quang

(11,1%)

Hầu hết các trường hợp được nội soi sau 24 giờ

nhập viện (77,8%)

Bảng 6 Đặc điểm khởi phát, lâm sàng, cận lâm sàng

của những trường hợp không khai thác được hội

chứng xâm nhập (n=9)

Thời gian khởi phát (ngày) 17,1(5-30)

Triệu chứng cơ năng

Sốt

Ho

Khò khè

Ho ra máu

6

8

3

1

66.7 88,9 33,3 11,1 Triệu chứng thực thể

Co kéo cơ hô hấp phụ

Ran tắc nghẽn

Giảm thông khí 1 bên

6

6

1

66,7 66,7 11,1 X-quang ngực thẳng

Viêm phổi

Xẹp phổi

Ứ khí một bên

Dị vật cản quang

9

5

2

1

100 55,6 22,2 11,1 Chẩn đoán trước nội soi

Viêm phổi

Viêm phổi kéo dài

Viêm phổi tái phát

1

5

3

11,1 55,6 33,3 Thời gian được nội soi

≤ 24 giờ

>24 giờ

2

7

22,2 77,8

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này tỷ lệ bệnh nhân nam cao

hơn bệnh nhân nữ Đặc điểm này cũng tương tự trong

nghiên cứu của Chapin MM (2009) nghiên cứu từ

năm 2001 đến 2009 với tỉ lệ bệnh nhi nam là 55,2%(1);

Tamer Ali Sultan (2016) tỉ lệ nam:nữ là 2:1(11); hay

Even L (2005) thì tỉ lệ nam 59% so với nữ là 41%(3);

có lẽ do bản chất hiếu động của trẻ nam nhiều hơn trẻ

nữ Tuổi trung bình mắc dị vật đường thở trong nghiên cứu là 31,1 tháng Đối tượng nghiên cứu tập trung vào nhóm ≤ 3 tuổi Nhóm tuổi trong nghiên cứu cũng tương đồng với nhóm tuổi của Trần Lan Anh (2014) tại bệnh viên Nhi Đồng 2 là 83,3% trẻ dưới 3 tuổi(12); Even L (2005) trung bình là 24 tháng(3); Kim

IA (2015) tuổi trung bình là 3,6±0,3(4); Tamer Ali Sultan (2016) phần lớn <4 tuổi (trung bình là 12-24 tháng)(11)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian từ lúc có triệu chứng đến khi nhập viện trung bình 6,7 ngày; thấp nhất là 12 giờ và cao nhất là 30 ngày

Lý do chính bệnh nhân đi khám là có triệu chứng hít sặc dị vật (56,7%) Tương tự trong nghiên cứu Mortellaro VE (2013) có 81% bệnh nhân dị vật đường thở nhập viện vì có hít sặc(6) Ngoài ra còn có các lý

do nhập viện khác như: khò khè (11,8%), ho (9,8%) Hội chứng xâm nhập được ghi nhận trong 42 trường hợp (82,4%) Có 9 trường hợp không khai thác được hội chứng xâm nhập (17,6%) có thể do thân nhân không chứng kiến, hay do sự giám sát không chặt chẽ trong các hoạt động của trẻ Tỉ lệ trong nghiên cứu cũng khá tương đồng với Ramon M Esclamado (1987) nghiên cứu 20 ca trong 11 năm, có 18 trường hợp đến khám vì hội chứng xâm nhập (90%)(2), Phan Hữu Nguyệt Diễm (2011) 78,1%(9) Do đó việc khai thác bệnh sử là rất quan trọng, phải chú ý khai thác vấn đề hít sặc, có biểu hiện hội chứng xâm nhập nên nghi ngờ mắc dị vật đường thở cho đến khi loại trừ Trong số 51 bệnh nhân bị DVĐT được nội soi phế quản lấy dị vật, triệu chứng cơ năng ho biểu hiện

ở tất cả bệnh nhân (100%), tỉ lệ này có khác so với nghiên cứu của Phan Hữu Nguyệt Diễm (2011) là 41%(9); Trần Lan Anh (2014) là 31,7%(12).Tiếp theo là khò khè (68,6%) và sốt (27,5%), tím tái (15,7%), khó thở (9,8%), khàn tiếng (3,9%), và có 1 trường hợp ho

ra máu, 1 trường hợp hít thở nghe tiếng kèn (2%) Các triệu chứng thực thể như: thở co kéo cơ hô hấp phụ (82,4%), ran tắc nghẽn (51%), giảm thông khí một bên (45%), tím tái và thở rít (23,5%), thở nhanh (15,7%), và có 1 trường hợp thở ra tiếng kèn Những

tỉ lệ này thay đổi khác nhau ở những nghiên cứu, do việc ghi nhận triệu chứng từ người chăm sóc và người khám lâm sàng khác nhau, chỉ hồi cứu lại hồ sơ bệnh nhân Nhưng những biểu hiện triệu chứng thì tương đối giống nhau

Qua khảo sát đặc điểm kết quả X-quang ngực thẳng, tỉ lệ phát hiện dị vật cản quang trên X-quang

là 23,5% Kết quả này tương đương với nghiên cứu Linegar (1992) có 21% trường hợp thấy dị vật trên hình ảnh X-quang(7); cao hơn tác giả Trần Lan Anh (2014) có 10,6%(12) Tỉ lệ này tùy thuộc vào bản

Trang 5

chất dị vật trẻ mắc phải Và có 13,7% có hình ảnh

bình thường trên X-quang ngực thẳng Ngoài ra

hình ảnh viêm phổi (66,7%), xẹp phổi (33,3%), ứ

khí khu trú (31,4%), những tỉ lệ này có sự thay đổi

ở các nghiên cứu khác nhau có thể do khác biệt về

mẫu nghiên cứu

Có 8/51 bệnh nhân được chụp CT scan ngực cản

quang (15,7%) và có 7/8 bệnh nhân phát hiện dị vật

trên hình ảnh CT scan Chủ yếu là những bệnh nhân

chẩn đoán nhầm viêm phổi kéo dài, viêm phổi tái phát

kém đáp ứng điều trị, hay bệnh nhân nghi ngờ dị vật

đường thở có X-quang bình thường hoặc không rõ

ràng

Phần lớn bệnh nhân DVĐT được nội soi phế quản

lấy dị vật trong vòng 24 giờ đầu sau nhập viện

(66,7%) Dị vật đường thở là một trường hợp cấp cứu

nên cần được can thiệp sớm nếu có nghi ngờ, theo

nghiên cứu của Linegar (1992) nguy cơ biến chứng

lâu dài tăng tương quan với thời gian chẩn đoán(7),

việc chẩn đoán sớm và nội soi phế quản lấy dị vật

giúp giảm biến chứng tử vong ở trẻ(10), tỉ lệ này cao

hơn của Trần Lan Anh (2014) 33,3%(12), có thể do khả

năng phát hiện và nhận diện của nhân viên y tế đối với

những trường hợp dị vật đường thở được nâng cao và

nhận thức được sự cấp bách của vấn đề, cũng như

bệnh viện đã xây dựng quy trình nội soi khẩn cho

những trường hợp dị vật đường thở như đã trình bày ở

trên

Đa số bệnh nhân nội soi phế quản 1 lần lấy được

hết dị vật (86,4%) Một số ít trường hợp phải nội soi

lần hai (9,8%), 1 trẻ nội soi lần ba và 1 trẻ phải nội soi

lần 4 Những trường hợp phải nội soi nhiều lần

thường do dị vật vỡ thành nhiều mảnh, và/hoặc dị vật

di chuyển đến nhánh phế quản nhỏ hơn gây khó khăn

cho việc lấy dị vật trong khi tình trạng bệnh nhân

không cho phép duy trì quá trình nội soi lâu hơn, mặc

khác quá trình soi gây phù nề, xuất huyết trong lòng

đường thở cũng góp phần gây trở ngại cho việc nội

soi

Vị trí thường thấy dị vật nhất là ở phế quản gốc

bên phải (45,1%), kế đến là phế quản gốc trái

(27,5%), hạ thanh môn (11,8%), khí quản (7,8%),

carina (7,8%) Jianmin Liang (2015) nghiên cứu 2000

ca ở các bệnh viện thuộc khu vực Tây Bắc Trung

Quốc cho thấy 91,5% dị vật nằm ở các nhánh phế

quản, trong đó 52,1% bên phải(10) Liên quan đến vị trí

của dị vật, hầu hết các nghiên cứu đã báo cáo sự phát

hiện ưu tiên của dị vật ở trẻ em và người lớn nằm ở

phế quản chính bên phải so với phế quản chính bên

trái

Trong nghiên cứu này, 49% dị vật là các loại hạt, nhiều nhất là hạt đậu phộng, tiếp theo là hạt dưa, hạt

bí Sau đó là dị vật xương (29,4%) và các vật dụng, đồ chơi khác (21,6%) Kết quả khá tương đồng với tác giả Trần Lan Anh (2014) 51,6% là các loại hạt, xương 23,3%(12) và Phan Hữu Nguyệt Diễm (2011) dị vật là các loại hạt chiếm 56,2% Điều này cũng khá dễ hiểu,

vì đây là những thức ăn vặt hay được dùng, chúng trơn nên dễ đi vào đường thở nhất là trẻ vừa ăn vừa cười đùa, chạy giỡn Những loại hạt này cũng thường được trưng bày trong dịp Tết cổ truyền của người Việt Nam, trẻ có thể ăn không có sự giám sát của người lớn dễ xảy ra tai nạn Xương cũng là một dị vật thường gặp ở trẻ em, do quá trình chế biến thức ăn cho trẻ còn sót lại, mà trẻ nhỏ thì chưa nhai kỹ để kiểm tra thức ăn hoặc trẻ nuốt trọng, là yếu tố nguy cơ mắc dị vật

Trong nghiên cứu khảo sát các can thiệp điều trị khác, cho thấy có 29,4% được hổ trợ hô hấp, trong đó có 5 trường hợp thở oxy qua cannula, 5 trường hợp thở NCPAP, và 5 trường hợp thở máy 80,4% bệnh nhân trong nghiên cứu được điều trị kháng sinh và 72,5% có sử dụng kháng viêm, chỉ có 7,8% có dùng thuốc dãn phế quản

Có 1 trường hợp tử vong trong 51 bệnh nhân dị vật đường thở được phân tích Trường hợp này là bé gái 5 tuổi, nhập viện vì khò khè, bệnh 30 ngày, được điều trị ở tuyến trước với chẩn đoán khò khè kéo dài, không ghi nhận được hội chứng xâm nhập trước đó Bệnh nhân được điều trị kháng sinh kém đáp ứng điều trị, suy hô hấp tăng dần và được thở máy Bệnh nhân được chụp CT scan, phát hiện dị vật cản quang ở phế quản gốc phải, sau đó được nội soi lấy dị vật vào ngày

21 sau nhập viện, dị vật là đầu của cây xúc xích có khoanh kim loại Bệnh nhân tử vong trong tình trạng viêm phổi nặng, ARDS, nhiễm trùng huyết Biến chứng tử vong cũng được Jianmin Liang và cộng sự (2015) báo cáo 7 trường hợp(10); Kim IA (2015) tỉ lệ

tử vong 1,8%±0,4%(5) Trong 51 bệnh nhân DVĐT trong nghiên cứu, có

9 trường hợp không khai thác được hội chứng xâm nhập, điều này dẫn đến đánh giá và chẩn đoán ban đầu nhầm lẫn với những bệnh khác Các bệnh nhân này có thời gian từ lúc xuất hiện triệu chứng đến khi nhập viện trung bình là 17,1 ngày, hầu hết là sau 5 ngày Chẩn đoán muộn về dị vật đường thở được xác định là xảy ra sau 3 ngày từ lúc hít dị vật hoặc từ lúc xuất hiện các triệu chứng đến lúc chẩn đoán chính xác(4) Triệu chứng cơ năng thường gặp là ho (88,9%), sốt (66,7%), khò khè (33,3%) và ho ra máu (11,1%) Triệu chứng thực thể gồm co kéo cơ hô hấp phụ (66,7%), ran tắc nghẽn (66,7%), giảm thông khí một

Trang 6

bên (11,1%) Vấn đề chính liên quan đến dị vật bỏ

quên là thực tế có thể không có triệu chứng hoặc các

triệu chứng không đặc hiệu, có thể nhằm với những

bệnh cảnh như viêm phổi, viêm tiểu phế quản, suyễn,

ho ra máu chưa rõ nguyên nhân Việc này dẫn đến sự

chậm trễ trong xử trí, do đó làm tăng nguy cơ biến

chứng(8) Những trường hợp nói trên, chẩn đoán ban

đầu chủ yếu là viêm phổi kéo dài (55,6%), viêm phổi

tái phát (33,3%) Theo báo cáo của Jianmin và cộng

sự (2015) thường dị vật ở nhánh phế quản phân thùy

được chẩn đoán nhầm viêm phổi(10)

Đặc điểm hình ảnh X-quang ngực ở 9 bệnh nhân

này cho thấy 100% trường hợp có viêm phổi, điều này

cũng dễ hiểu đây là hậu qủa của việc dị vật bị bỏ quên

trong đường thở một thời gian lâu, và hệ quả là 100%

bệnh nhân được điều trị kháng sinh Ngoài ra còn có

hình ảnh của xẹp phổi (55,6%), ứ khí một bên

(22,2%), dị vật cản quang (11,1%) Trong khi đó, theo

khảo sát của tác giả Trần Lan Anh (2014) hình ảnh

X-quang ngực của nhóm DVĐT chẩn đoán nhầm: ứ khí

(51,7%), xẹp phổi (17,2%), và viêm phổi chiếm

69%(12) Hầu hết các trường hợp này được nội soi sau

24 giờ nhập viện (77,8%) Một đánh giá 136 trường

hợp DVĐT được tiến hành tại một bệnh viện ở Israel

đã chứng minh rằng những trẻ em đến trung tâm

chăm sóc sức khỏe sau 2 ngày (hoặc nhiều hơn) sau

hít sặc dị vật có nguy cơ biến chứng tăng gấp 2 lần

Một nghiên cứu khác, được thực hiện trên 263 trẻ em

đã tìm thấy dị vật khí quản, chứng minh rằng không

có biến chứng nào xảy ra ở những bệnh nhân được

chuyển đến bệnh viện trong vòng 24 giờ kể từ khi xảy

ra hội chứng xâm nhập, trong khi các biến chứng

được báo cáo cho những trẻ được chuyển đến trung

tâm chăm sóc sức khỏe sau thời gian đó(8)

Rõ ràng, loại dị vật, vị trí giải phẫu, một yếu tố

quan trọng khác liên quan đến nguy cơ biến chứng là

thời gian trẻ em được chuyển đến bệnh viện: sự chậm

trễ trong nhập viện hoặc trong chẩn đoán làm tăng

nguy cơ và/hoặc làm xấu đi các biến chứng(8)

KẾT LUẬN

Dị vật đường thở nên được nghi ngờ khi trẻ đột

ngột có những triệu chứng hô hấp hoặc những bệnh

nhân không đáp ứng điều trị với chẩn đoán viêm phổi,

suyễn hoặc viêm thanh khí quản trước đó

Hội chứng xâm nhập gợi ý nhiều dị vật đường thở, ngay cả khi nó xảy ra vài ngày hoặc vài tuần trước đó Ngay cả khi không có hội chứng xâm nhập thì cũng không loại trừ dị vật đường thở, vì có thể không được chứng kiến bởi người chăm sóc hoặc là không được khai thác

Đối với bệnh nhân nghi ngờ dị vật đường thở không có triệu chứng hoặc có triệu chứng ổn định, bước đầu tiên là chụp X quang ngực thẳng Các bước tiếp theo phụ thuộc vào mức độ nghi ngờ của dị vật đường thở như chụp CT scan hay nội soi phế quản Nội soi bằng ống cứng để loại bỏ dị vật đường thở ở trẻ em, thủ thuật này phải được thực hiện bởi bác sĩ có kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chapin MM, Rochette LM, Annest JL, et al (2013) Nonfatal choking

on food among children 14 years or younger in the United States,

2001-2009 Pediatrics, pp.132-275

2 Esclamado RM, Richardson MA (1987) Laryngotracheal foreign

bodies in children A comparison with bronchial foreign bodies Am J Dis Child; 141: 259

3 Even L, Heno N, Talmon Y (2005) Diagnostic evaluation of foreign

body aspiration in children: a prospective study J Pediatr Surg;

40:1122

4 Kim IA, Shapiro N, Bhattacharyya N (2015) The national cost burden

of bronchial foreign body aspiration in children Laryngoscope,

125:1221

5 Liang J, Hu J, Chang H, et al (2015) Tracheobronchial foreign bodies

in children – a retrospective study of 2,000 cases in Northwestern

China Ther Clin Risk Manag, 11:1291–1295

6 Mortellaro VE, Iqbal C, Fu R (2013 Predictors of radiolucent foreign

body aspiration J Pediatr Surg; 48:1867

7 Mu L, He P, Sun D (1991) The Causes and Complications of Late Diagnosis of Foreign Body Aspiration in Children: Report of 210

Cases Arch Otolaryngol Head Neck Surg, 117(8):876-879

8 Passali D, Gregori D, Lorenzoni G, Cocca S, Loglisci M, Passali FM,

Bellussi L (2015) Foreign body injuries in children: a review Acta Otorhinolaryngol Italt; 35(4):265–271

9 Phan Hữu Nguyệt Diễm, Châu Kim Phụng (2011) “Đặc điểm các dị

vật đường thở ở trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng 1” Nghiên cứu Y học,

pp.327

10 Ruiz FE, Mallory GB, Torrey SB, Hoppin AG (2017) Airway foreign

bodies in children Literature Review Current Through, pp.125

11 Tamer Ali Sultan, Arjan Bastiaan van As (2016) Review of tracheobronchial foreign body aspiration in the South African

paediatric age group J Thorac Dis, 8(12):3787–3796

12 Trần Lan Anh, Phạm Thị Minh Hồng (2014) “Đặc điểm dị vật đường

thở ở trẻ em được nội soi tại bệnh viện Nhi đồng 2” Nghiên cứu Y học,

pp.59

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/06/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm