1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của sinh thiết màng phổi mù trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi

5 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 289,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá hiệu quả và tính an toàn của sinh thiết màng phổi mù trong chẩn đoán nguyên nhân của tràn dịch màng phổi dịch tiết.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA SINH THIẾT MÀNG PHỔI MÙ TRONG CHẨN ĐOÁN

TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI

Ngô Thế Hoàng*, Lê Hà Hồng Thạnh * , Hoàng Thái Dương * , Đỗ Thanh Sơn * , Hứa Thị Ngọc Quỳnh * ,

Trần Quốc Hoàn * , Nguyễn Thị Hồng *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của sinh thiết màng phổi mù trong chẩn đoán nguyên nhân

của tràn dịch màng phổi dịch tiết

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, sinh thiết màng phổi mù trên 74 bệnh nhân được xác định tràn dịch

màng phổi dịch tiết chưa rõ nguyên nhân nhập khoa Nội Hô hấp bệnh viện Thống Nhất từ 1/2015 đến 9/2016

Kết quả: 49 bệnh nhân được chẩn đoán lao màng phổi, 21 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư di căn, 4 bệnh

nhân được chẩn đoán tràn dịch màng phổi cận viêm Giá trị chẩn đoán chung của sinh thiết màng phổi mù là 68,6%; chẩn đoán lao màng phổi 73,5%; ung thư di căn 57,1% Tỉ lệ biến chứng chung 12,2%; không tràn máu màng phổi, tràn khí màng phổi chỉ gặp 2 trường hợp (2,7%; không cần phẫu thuật), sốc phế vị 4,1%; đau ngực 5,4%

Kết luận: Sinh thiết màng phổi mù có giá trị cao trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi dịch tiết (lao, ung

thư) và tương đối an toàn, ít biến chứng

Từ khóa: Tràn dịch màng phổi dịch tiết, sinh thiết màng phổi mù

ABSTRACT

ROLE OF BLIND PERCUTANEOUS PLEURAL BIOPSIES IN THE DIAGNOSIS OF PLEURAL

EFFUSIONS

Ngo The Hoang, Le Ha Hong Thanh, Hoang Thai Duong, Do Thanh Son, Hua Thi Ngoc Quynh, Tran Quoc Hoan, Nguyen Thi Hong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 6 - 2016: 103 - 107

Objective: To evaluate the diagnostic value and the safe of blind percutaneous pleural biopsy in the diagnosis

of exudative pleural effusions

Method: Prospective study was carried out on 74 patients with undiagnosed exudative pleural effusions All

of them were performed blind percutaneous pleural biopsies

Results: Forty-nine patients suffered from tuberculous pleural effusion, twenty-one patients suffered from

malignant pleural effusion, and 4 patients suffered from parapneumonic pleural effusion For all diagnoses, blind biopsy had a sensitivity of 68.8% (48/70) Diagnostic value of blind percutaneous pleural biopsy for tuberculous pleurisies was 73.5%; for malignant pleural effusions was 57.1% Complications were recorded in 12.2% of patients (pneumothorax 2.7%; vasovagal reaction 4.1%, chest pain 5.4%), no haemothorax.

Conclusion: Blind percutaneous pleural biopsies had high diagnostic value for diagnosed exudative effusions

(TB, cancer) and were relatively safe, complications were low

Keywords: Exudative pleural effusions, blind percutaneous pleural biopsies (blind closed pleural biopsy,

BCPB)

* Khoa Hô Hấp, Bệnh viện Thống Nhất

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tràn dịch màng phổi (TDMP) là một hội

chứng thường gặp trong thực hành lâm sàng, do

nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng chẩn đoán xác

định căn nguyên của TDMP dịch tiết vẫn còn là

một thách thức Kỹ thuật sinh thiết màng phổi

(STMP) mù bằng kim Abrams là một trong

những phương pháp căn bản và có giá trị thực

tiễn trong điều kiện ở Việt Nam Đã có nhiều

nghiên cứu cho thấy kỹ thuật này có hiệu quả

cao trong chẩn đoán nguyên nhân TDMP(2,6,8,9,10)

(do lao và ung thư) với độ nhạy và độc đặc hiệu

cao, đặc biệt với sự hỗ trợ của các phương tiện

chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp cắt lớp

điện toán STMP mù (hay còn gọi STMP kín,

được thực hiện từ năm 1958) lấy mẫu mô màng

phổi để khảo sát mô học, được tiến hành cùng

lúc chọc dò khoang màng phổi Lần đầu tiên

được áp dụng tại bệnh viện Thống Nhất, chúng

tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định giá

trị chẩn đoán và độ an toàn của kỹ thuật sinh

thiết màng phổi mù bằng kim Abrams trong

chẩn đoán nguyên nhân của tràn dịch màng

phổi dịch tiết

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Các bệnh nhân TDMP dịch tiết dựa vào tiêu

chuẩn Light’s(4), nhập khoa Hô hấp bệnh viện

Thống Nhất từ tháng 10/2014 đến 10/2016 đồng ý

tham gia nghiên cứu Bệnh nhân được hỏi bệnh

sử, tiền căn, khám lâm sàng, làm xét nghiệm

thường quy

Loại khỏi nghiên cứu những bệnh nhân có

chống chỉ định sinh thiết màng phổi khi chưa có

chẩn đoán xác định nguyên nhân tràn dịch

màng phổi

Thiết kế nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả, cắt ngang

Các bước thực hiện(1)

Chuẩn bị

Thực hiện STMP mù ít nhất 01 bác sỹ đã

được đào tạo và 01 điều dưỡng

Chuẩn bị phim chụp Xquang phổi, CTscan ngực (nếu có), siêu âm màng phổi, xét nghiệm công thức máu, đông máu cơ bản

Kiểm tra lại chỉ định STMP mù

Giải thích cho người bệnh và gia đình mục đích của thủ thuật, các tai biến có thể xảy ra trong quá trình làm và ký giấy đồng ý

Đặt người bệnh ở tư thế ngồi, lưng cong Hướng dẫn người bệnh các động tác hít vào, thở ra và nín thở để người bệnh phối hợp theo yêu cầu trong quá trình sinh thiết

Xác định vị trí sinh thiết màng phổi: dựa vào thăm khám lâm sàng, Xquang phổi, CT scan ngực, siêu âm màng phổi Vị trí sinh thiết luôn ở

bờ trên xương sườn để tránh bó mạch thần kinh liên sườn Nếu là sinh thiết lần 2 tránh vùng đã sinh thiết lần 1

Điều dưỡng tiêm dưới da 1 ống Atropin 1/4mg trước khi làm thủ thuật 15 phút

Thuốc và dụng cụ

Atropin 1/4mg: 2 ống, Lidocain 2% 2ml: 5 ống Hộp thuốc chống shock

Bơm tiêm 5ml, bơm tiêm 20ml, kim 20G, kim luồn, dây truyền, chạc ba

Gạc 2 Lưỡi dao mổ: 1 cái

Bộ kim sinh thiết Abrams: một bộ trocat, kim

cắt và kim lấy bệnh phẩm

Ống đựng bệnh phẩm dịch xét nghiệm, lọ chứa formol bảo quản bệnh phẩm sau sinh thiết Đĩa petri đựng nước muối sinh lý để bệnh phẩm khi sinh thiết, bình dẫn lưu dịch

Găng tay vô trùng, săng vô trùng

Tiến hành

Sát trùng vùng định sinh thiết

Trải săng lỗ

Gây tê thành ngực theo từng lớp, từ da vào đến lá thành màng phổi Tránh bơm Lidocain

Trang 3

vào trong lòng mạch Dùng kim gây tê chọc

thăm dò dịch màng phổi

Đánh dấu dộ dày thành ngực

Dùng lưỡi dao mổ rạch da một vết nhỏ ở vị

trí định sinh thiết

Đưa trocat vào qua vết rạch theo hướng

vuông góc với thành ngực Rút nòng trocat gắn

bơm tiêm 20ml vào vỏ của trocat, hút thử, nếu ra

dịch là trocat đã vào đến khoang màng phổi

Tháo bơm 20ml, đưa nhanh kim cắt vào

trong vỏ của trocat, tiến hành cắt Dựa vào mốc

đánh dấu trên kim cắt và trên vỏ của trocat để

đặt kim sao cho mặt cắt của kim quay về phía lá

thành màng phổi

Áp sát kim sinh thiết vào thành ngực, tay trái

cố định chặt vỏ trocat, tay phải kéo mạnh kim cắt,

nếu thấy nặng tay là được Kim cắt vẫn ở trong

lòng trocat, đưa từ từ cả 2 kim về tư thế vuông

góc với thành ngực, rút nhanh kim cắt ra khỏi vỏ

trocat, lắp thay thế ngay bơm 20ml

Dùng kim lấy bệnh phẩm để lấy mảnh màng

phổi ở đầu cắt của kim cắt và để vào đĩa petri có

sẵn nước muối sinh lý

Tiến hành sinh thiết 3 mảnh bệnh phẩm tại

vị trí 3, 6, 9 giờ Các mảnh mô được ngâm vào lọ

formol làm xét nghiệm giải phẫu bệnh

Mỗi lần thay kim hay bơm tiêm, hay rút kim

sinh thiết phải dặn người bệnh thở ra hết rồi nín

thở để hạn chế tràn khí màng phổi

Sau sinh thiết chọc tháo dịch màng phổi,

thay bằng kim 20G hoặc kim catheter tĩnh mạch

ngoại biên, được nối với bộ chạc ba, dây truyền

Dịch màng phổi sẽ được xét nghiệm sinh hóa

(pH, protein, LDH, glucose), tế bào, AFB, đúc

khối tế bào

Theo dõi sau sinh thiết

Dấu hiệu sinh tồn, dấu hiệu của biến chứng

sớm (đau ngực, khó thở, chảy máu…) ngay sau

thủ thuật và trong vòng 24 giờ, kiểm tra X quang

ngực để kịp thời phát hiện tràn khí, tràn máu

màng phổi

Thu thập và xử lý số liệu

Sử dụng bệnh án mẫu, thu thập số liệu từ các bảng theo dõi bệnh nhân, các xét nghiệm có trong bệnh án Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 for Window

Chẩn đoán lao màng phổi khi có một trong các tiêu chuẩn sau: (1) AFB/dịch màng phổi (+); (2) AFB/đàm (+) ở bệnh nhân có TMDP dịch tiết

ưu thế lympho bào và không nghi ngờ nguyên nhân khác; (3) PCR lao/dịch màng phổi (+); (4)

Có hình ảnh nang lao kèm hoại tử bã đậu ở mô sinh thiết màng phổi hoặc mô sinh thiết phế quản, sinh thiết hạch

Chẩn đoán ung thư màng phổi khi có một trong các tiêu chuẩn sau: (1) Dịch màng phổi có

tế bào ác tính; (2) Mô sinh thiết màng phổi có hình ảnh ung thư màng phổi hoặc ung thư di căn màng phổi; (3) Mô sinh thiết phế quản, sinh thiết hạch có chẩn đoán ác tính

Nếu kết quả giải phẫu bệnh chỉ ghi nhận viêm xơ mạn tính hay kết quả không rõ ràng, có thể tiến hành lần thứ 2, nhưng không quá 3 lần

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm dân số nghiên cứu

Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu dung được 74 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong đó nam 70,3% (52/74), nữ 29,7% (22/74); tỉ

lệ nam/nữ ~ 2,4/1

Biểu đồ 1: Phân bố theo nhóm tuổi

Tuổi trung bình 59,22 ± 22,32 (từ 17 - 94) Nhóm tuổi thường gặp TDMP dịch tiết từ 20 - 60 (40,6%) (biểu đồ 1)

Trang 4

Bảng 1: X quang phổi

Kết quả STMP mù

Bảng 2: Kết quả mô học của STMP mù

Bảng 3: Chẩn đoán cuối cùng của TDMP

Bảng 4: Hiệu quả của STMP mù

Biến chứng của STMP mù:

Bảng 5: Biến chứng của STMP mù

BÀN LUẬN

Dịch tễ học

Trong số 74 trường hợp TDMP dịch tiết của

nghiên cứu này được STMP mù, nam giới gặp

nhiều hơn nữ giới (70,3% so với 29,7%), tỉ lệ

nam/nữ là 2,4/1 Tuổi trung bình 59,22 ± 22,32

(17-94), nhóm tuổi mắc bệnh nhiều nhất từ 20 -

60 tuổi, nhưng trên 80 tuổi chiếm hơn 1/5 dân số

nghiên cứu, đây là một trong những đặc điểm

riêng của bệnh viện Thống Nhất, bảo vệ sức khỏe, khám chữa bệnh cho người cao tuổi

X quang phổi

X quang phổi qui ước chẩn đoán xác định tất

cả các trường hợp TDMP Đa số là TDMP 1 bên (91,9%), bên (P) nhiều hơn bên (T) (52,7% so với 39,2%); chỉ 8,1% TDMP 2 bên Kết quả này tương

tự so với một số nghiên cứu trước đây(3,6) Trong nghiên cứu này, có 5 trường hợp khi STMP mù cần có siêu âm đánh dấu vị trí tràn dịch (TDMP lượng ít), trong đó có 3 trường hợp cần STMP mù lần 2 Không có trường hợp nào cần hỗ trợ của CT Scanner Phù hợp với nhận định vai trò của siêu âm hỗ trợ tích cực khi chọc

dò hoặc STMP(7)

Giá trị chẩn đoán của STMP mù

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 70 trường hợp có chẩn đoán xác định, STMP mù giúp chẩn đoán xác định 48 trường hợp (đạt 66,8%); kết quả này thấp hơn của Maturu và cs 84,5%(5) Giá trị của STMP mù chẩn đoán xác định nguyên nhân TDMP dịch tiết như lao màng phổi là 73,5%, với

độ chuyên biệt 100%; chẩn đoán ung thư di căn màng phổi là 57,1%, với độ chuyên biệt 100% (bảng 4) So với nghiên cứu của Ngô Thanh Bình(6), STMP mù chẩn đoán nguyên nhân TDMP dịch tiết đạt 72,7%; chẩn đoán lao màng phổi 78,3%; chẩn đoán ung thư 69,2% Kết quả của chúng tôi thấp hơn trong chẩn đoán ung thư

có thể do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ và nghiên cứu chỉ được thực hiện ở bệnh nhân trong một khoa nội Nhưng kết quả của chúng tôi tương tự với một số nghiên cứu khác gần đây Kết quả nghiên cứu của Tomlinson JR(9), STMP mù gần

3000 bệnh nhân TDMP dịch tiết, tỉ lệ chẩn đoán lao 75% và ung thư 57% Theo Valdes L và cs(10), STMP mù chẩn đoán lao màng phổi đạt 80%, tỉ

lệ này tăng đến 91% khi kết hợp nhuộm soi AFB

và cấy Nghiên cứu của Chakrabarti B và cs(2), STMP mù chẩn đoán ung thư 51% Nhưng kết quả nghiên cứu của Pereyra MF và cs(8), chẩn đoán ung thư là 59,2% và lao màng phổi là 92%

Trang 5

Biến chứng

Tỉ lệ biến chứng chung của STMP mù

khoảng 5-15%, của chúng tôi là 12,2%; của

Maturu VN là 8,3%(5), của Pereyra MF là 14,4%(8)

Hai biến chứng quan trọng nhất của STMP mù

cần lưu ý là tràn máu và tràn khí màng phổi

Tràn máu màng phổi

Tất cả 74 bệnh nhân đều được thực hiện

STMP mù, chúng tôi không ghi nhận có trường

hợp nào tràn máu màng phổi Nghiên cứu của

Ngô Thanh Bình ghi nhận tỉ lệ này là 0,8%(6)

Tràn khí màng phổi

Tràn khí màng phổi do STMP mù đã được

nhiều tác giả đề cập đến và tỉ lệ cần phải dẫn lưu

ngực kín thay đổi tùy nghiên cứu Tuy nhiên,

trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có 2

trường hợp (2,7%) tràn khí màng phổi lượng ít,

không đe dọa tính mạng, không cần phải can

thiệp Tỉ lệ này theo Ngô Thanh Bình là 3,1%(6)

Trong khi nghiên cứu của Chakrabarti B, cỡ mẫu

75 lại ghi nhân 8 trường hợp (11%) tràn khí

màng phổi, có 2 trường hợp phải can thiệp(2)

Nghiên cứu của Pereyra tỉ lệ tràn khí màng phổi

9,4%(8)

Sốc phế vị

Hay gặp ở bệnh nhân có tâm lý không ổn

định, sợ hãi hoặc do đau khi tê tại chỗ không đủ

Theo Pereyra tỉ lệ sốc vagal 4,1%(8); Ngô Thanh

Bình là 2,2%(6); chúng tôi ghi nhận 2,7% Xử trí

ngưng thủ thuật, thở oxy, thường hồi phục sau

nghỉ ngơi, truyền dịch

Đau ngực nơi sinh thiết

Là biến chứng thường gặp Tuy nhiên ít có

ảnh hưởng chức năng sống Thường chỉ cần bổ

sung thuốc giảm đau nhẹ 5,4% có đau ngực sau

sinh thiết trong nghiên cứu này, tương tự kết quả 5,6% của Pereyra và cs(8)

KẾT LUẬN

Giá trị chẩn đoán TDMP dịch tiết chưa rõ nguyên nhân của STMP mù đạt 68,6%

Trong nghiên cứu này, STMP mù chẩn đoán lao màng phổi có độ nhạy 73,5%; độ đặc hiệu 100%, đối với chẩn đoán ung thư độ nhạy 57,1%;

độ đặc hiệu 100%

Kỹ thuật STMP mù tương đối an toàn, ít tai biến

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y Tế (2014), “Sinh thiết màng phổi mù”, Hướng dẫn quy

trình kỹ thuật Nội khoa chuyên ngành Hô hấp, số 1981/QĐ-BYT

2 Chakrabarti B, Ryland I, et al (2006), “The role of Abrams percutaneous pleural biopsy in the investigation of exudative

pleural effusions”, Chest, 129(6):1549-55

3 Đặng Thị Hương, Hoàng Thị Thái (1991), “Lao màng phổi”,

Nội san Bệnh lao và bệnh phổi, 9, tr.65-66

4 Light RW, Macgregor MI, et al (1972), “Pleural effusion;the

diagnostic separation of transudates and exudates”, Ann

Intern Med 77(4): 507-13

5 Maturu VN, Dhooria S, et al (2015), “Role of medical thoracoscopy and closed-blind pleural biopsy in undiagnosed exudative pleural effusions: a single-center experience of 348

patients”, J Bronchology Interv Pulmonol, 22(2):121-9

6 Ngô Thanh Bình (2007), “Vai trò của sinh thiết màng phổi mù

trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi”, Tạp chí Y học TpHCM,

11(1), tr 227-34

7 O’Moore P.V, et al (1987), “Sonographic guidance in diagnostic and therapeutic interventions in the pleural space”,

AJR, 149:1-5

8 Pereyra MF, San-José E, et al (2013), “Role of blind closed

pleural biopsy in the management of pleural exudates”, Can

Respir J, 20(5):362-66

9 Tomlinson J.R (1987), “Invasive procedures in the diagnosis of

pleural disease”, Semin Respir Med, (9):30-36

10 Valdes L, et al (1998), “Tuberculosis pleurisy: a study of 254

patients”, Arch Intern Med, (158):2017-21

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm