1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xây dựng quy trình chẩn đoán bệnh thần kinh ngoại biên di truyền Charcot-Marie-Tooth

7 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 533,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng quy trình khảo sát gen gây bệnh dựa trên đặc điểm lâm sàng và vận tốc dẫn truyền thần kinh gợi ý bệnh lý CMT thể sợi trục với tốc độ dẫn truyền bình thường.

Trang 1

XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN BỆNH THẦN KINH NGOẠI

BIÊN DI TRUYỀN CHARCOT-MARIE-TOOTH

Mai Phương Thảo*

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh Charcot-Marie-Tooth (CMT) là bệnh lý thần kinh ngoại biên di truyền thường gặp với tần suất mắc bệnh là 1/2500 Bệnh đặc trưng bởi các tổn thương vận động bao gồm yếu liệt và teo cơ, tổn thương cảm giác gây giảm hoặc mất cảm giác và giảm hoặc mất phản xạ gân xương Bệnh có thể khởi phát ở bất kỳ độ tuổi nào với các mức độ biểu hiện lâm sàng khác nhau Mặc dù không gây tử vong nhưng bệnh gây biến dạng xương khớp

và làm ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Tại Việt Nam, chẩn đoán bệnh dựa trên đặc điểm lâm sàng và kết quả điện cơ ký, gợi ý bệnh lý thần kinh ngọai biên di truyền Việc xây dựng quy trình chẩn đoán bệnh dựa trên triệu chứng lâm sàng, kết quả điện cơ ký, định hướng phân tích các gen theo trình tự có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán xác định bệnh CMT, phân loại subtype, đồng thời giảm thiếu chi phí trong quá trình làm xét nghiệm chẩn đoán bệnh

Mục tiêu: Xây dựng quy trình khảo sát gen gây bệnh dựa trên đặc điểm lâm sàng và vận tốc dẫn truyền thần kinh gợi ý bệnh lý CMT thể sợi trục với tốc độ dẫn truyền bình thường

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Phân tích đặc điểm lâm sàng, kết quả điện cơ ký, khảo sát gen MFN2 và GDAP1 bằng kỹ thuật MLPA (Multiplex ligation-dependent Probe Amplification), phương pháp PCR

và giải trình tự gen trên một gia đình bệnh nhân nghi ngờ bệnh lý thần kinh ngoại biên di truyền CMT đến khám tại phòng khám Thần kinh Bệnh viện ĐH Y Dược TPHCM

Kết quả: Phân tích gen ghi nhận một SNPs (single-nucleotide polymorphism) c.-367A>G trên exon 1 của gen MFN2 và đột biến chèn đoạn 5 nucleotides c.[656-661insTTGCA] trên exon 5 của gen GDAP1

Kết luận: Việc thiết lập quy trình khảo sát gen và phân subtype dựa vào đặc điểm lâm sàng và khảo sát dẫn truyền thần kinh giúp giảm thiều chi phí xét nghiệm cho bệnh nhân, phục vụ chẩn đoán xác định bệnh và tư vấn cho bệnh nhân

Từ khóa: bệnh lý thần kinh ngoại biên di truyền, Charcot-Marie-Tooth, điện cơ ký, MFN2, GDAP1, giải trình tự, MLPA

ABSTRACT

GENETIC TEST STRATEGY FOR HEREDITARY PERIPHERAL NEUROPATHIES

CHARCOT-MARIE-TOOTH

Mai Phuong Thao * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 1 - 2016: 1 - 7

Background - Objectives: Charcot-Marie-Tooth (CMT) disease is a group of hereditary peripheral neuropathies, affecting approximately 1 in 2500 people It is clinically characterized by motor disturbances (muscle weakness and atrophy), decreased or loss of sensory, and decreased or loss of deep tendon reflexes Onset of symptoms appears at any age with different level expressions Although the disease does not cause death, it leads

to skeletal deformities that affecting patient life quality In Vietnam, the diagnosis is based on clinical findings and electromyography characteristics It’s important to identify the genes to confirm diagnosis, strategies for treatment

of secondary complications by a team of various specialists, and genetic counseling In this study, we established a procedure for the genetic diagnosis of patients with clinically CMT disease and normal conduction velocities

* Bộ sinh Sinh lý học, ĐH Y Dược TPHCM

Trang 2

Methods: Analysis of clinical symptoms, nerve conduction studies and molecular genetic testing of MFN2 and GDAP1 in a suspected family of CMT in Neurology clinic, University Medical center in Hochiminh city Results: Analysis of database, there are a SNP as c.-367A>G on MFN2 and a mutation which has not been mentioned on database yet c [656-661 insTTGCA] + [656-661 insTTGCA] on GDAP1

Conclusion: Establishment a genetic test strategy for patients with axonal CMT based on clinical symptoms and nerve conduction studies are useful in identification of CMT subtypes, hereditary counseling and lowering the cost for diagnosis test

Keywords: hereditary peripheral neuropathies, Charcot-Marie-Tooth, nerve conduction studies, MFN2, GDAP1, gene sequencing, MLPA

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lý thần kinh di truyền thường được gọi

chung là nhóm bệnh Charcot-Marie-Tooth

(CMT)(12) Tuy nhiên, thuật ngữ này bao gồm các

bệnh lý thần kinh (TK) vận động và/ hoặc cảm

giác di truyền và các bệnh lý thần kinh khác có

liên quan(7) như bệnh thần kinh ngoại biên di

truyền dễ liệt do chèn ép (HNPP - Hereditary

Neuropathy with liability to Pressure Palsies);

bệnh TK vận động ngọn chi di truyền (dHMN –

distal Hereditary Motor Neuropathy), bệnh TK

cảm giác và tự chủ di truyền (HSAN/HSN -

Hereditary Sensory & Autonomic Neuropathy

Syndromes) và nhóm bệnh TK do nguyên nhân

chuyển hoá di truyền

Để chẩn đoán bệnh thần kinh di truyền,

bước đầu tiên cần khai thác kỹ tiền căn gia đình

có người bị bệnh, đặc điểm di truyền trội nhiễm

sắc thể thường (NST) hoặc liên kết với NST giới

tính hay không Nếu trong gia đình có nhiều anh

chị em có biểu hiện bệnh và/ hoặc có bố mẹ

mang bệnh thì gợi ý kiểu di truyền có thể lặn

trên NST thường Tuy nhiên, việc nhận diện ra

CMT đôi khi gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong

những trường hợp không ghi nhận tiền căn gia

đình hoặc gia đình ít con Các yếu tố chỉ điểm

một bệnh TK di truyền trong trường hợp này là

bệnh xuất hiện từ lúc nhỏ, diễn tiến chậm, có

biến dạng bàn chân và mất các triệu chứng cảm

giác Nhiều bệnh nhân trải qua phẫu thuật ở

chân lúc nhỏ hoặc khai gặp khó khăn khi tham

gia các hoạt động thể thao tại trường

CMT là bệnh lý TK di truyền phổ biến

nhất với tỉ lệ xấp xỉ 1/2.500(3) Đột biến lặp đoạn 17p11.2 gây CMT1A chiếm 60 -70% các trường hợp CMT1, CMT1X chiếm khoảng 20%

ca CMT1 và CMT1B chiếm <10% Chỉ khoảng 25% bệnh nhân CMT2 được xác định chẩn đoán di truyền học, trong đó đa số là CMT2A(7) Dựa trên đặc điểm di truyền và khảo sát điện sinh lý, CMT được chia thành nhiều subtype khác nhau (Bảng 1)

Bảng 1: Phân loại CMT (9)

Loại Kiểu tổn

thương TK

Đặc điểm di truyền

Vận tốc dẫn truyền thần kinh CMT1 Huỷ myelin Trội <38 m/s CMT2

Thoái hoá sợi trục

Trội ≥38m/s kèm tổn

thương sợi trục

NST X

Chậm/ trung bình

CMT5 Trội > 38m/s kèm tổn

thương sợi trục CMT6 Trội > 38m/s kèm tổn

thương sợi trục CMT

trung gian

Hủy myelin hoặc thoái hóa sợi trục

Trội hoặc lặn

Bình thường hoặc giảm

Do đa số các thể CMT đều có tổn thương vận động (VĐ) và cảm giác (CG), CMT1 và CMT2 thường được phân thành bệnh TKVĐ – CG di truyền (HMSN) type I hoặc type II Khảo sát điện sinh lý TK còn xác định một nhóm khác là CMT trung gian với tốc độ dẫn truyền TK ở mức

độ trung gian (lớn hơn hoặc nhỏ hơn 38 m/s) Các thể CMT nặng mà không ghi nhận tiền sử gia đình trước đây được cho là di truyền lặn NST thường và được xếp thành HMSN III hoặc hội chứng Dejerine-Sottas(8) Nhờ những tiến bộ của

kỹ thuật phân tử góp phần làm sáng tỏ một phần

Trang 3

cơ chế của hầu hết các trường hợp HMSN III là

do đột biến ngẫu nhiên trên các gen và bệnh di

truyền trội Hiện nay thuật ngữ HMSN III không

còn được sử dụng nữa; tuy nhiên hội chứng

Dejerine-Sottas vẫn được sử dụng để chỉ thể

bệnh CMT nặng ở trẻ sơ sinh với tốc độ dẫn

truyền thần kinh rất chậm

Việc phát hiện ra các gen gây bệnh dẫn đến

thay đổi cách phân loại CMT dựa trên gen Mỗi

nhóm CMT được chia nhỏ dựa vào gen gây bệnh

đặc hiệu Hiện nay trên thế giới đã xác định đột

biến trên 70 gen là nguyên nhân gây bệnh lý TK

di truyền

Sinh bệnh học

Một đặc điểm chung của hầu hết các gen đột

biến gây CMT là các gen này đóng vai trò quan

trọng trong việc duy trì cấu trúc hoặc chức năng

của các thành phần tế bào cấu tạo hệ TK ngoại

biên, tế bào Schwann và sợi trục của dây TK

ngoại biên

Đặc điểm lâm sàng

Mặc dù kiểu hình thay đổi, diễn tiến lâm

sàng điển hình của bệnh nhân CMT1 và CMT2

bao gồm: phát triển bình thường trước khi yếu

cơ và mất cảm giác xuất hiện trong 2 thập niên

đầu đời, gọi là “kiểu hình cổ điển” (classical

phenotype) Những đứa trẻ bị bệnh thường chạy

chậm và gặp khó khăn trong các hoạt động cần

thăng bằng Phẫu thuật chỉnh hình ở chân

thường được thực hiện trong thập niên thứ 3

Các cử động khéo léo của bàn tay có thể bị ảnh

hưởng nhưng bàn tay hiếm khi bị tác động như

bàn chân Đa số bệnh nhân có đời sống cũng như

tuổi thọ bình thường(9)

Một số ít bệnh nhân có kiểu hình nặng hơn

như chậm phát triển vận động và khởi phát giai

đoạn sơ sinh, gọi là bệnh lý Dejerine-Sottas, các

trường hợp nặng đặc biệt được phân loại là huỷ

myelin bẩm sinh nếu quá trình myelin hoá trong

quá trinhg phát triển phôi thai bị ngừng trệ

Nhiều bệnh nhân có bất thường trội NST thường

mới (de-novo) và thuật ngữ Dejerine-Sottas được

sử dụng để chỉ các kiểu hình lâm sàng khởi phát

sớm cho dù đặc điểm di truyền thế nào(8) Sinh lý thần kinh

Khảo sát tốc độ dẫn truyền TK giúp phân biệt bệnh lý thần kinh huỷ myelin và bệnh TK sợi trục Trong thực hành lâm sàng, khoảng 60% bệnh nhân CMT là CMT thể tổn thương huỷ myelin (CMT1) và 20% làm CMT thể thoái hoá sợi trục (CMT2) Khảo sát điện sinh lý thường hữu ích trong việc nhận diện các tổn thương cảm giác Ngoài ra nó còn giúp phân loại tổn thương

TK sợi trục di truyền thành bệnh TK sợi trục vận động và cảm giác (CMT2), tổn thương sợi trục vận động đơn thuần (dHMN) và tổn thương đơn thuần sợi trục cảm giác (HSAN/HSN)(2,4,13) Phần lớn bệnh nhân CMT1, hay CMT1A có vận tốc dẫn truyền chậm đồng nhất khoảng 20 m/s Tuy nhiên, chậm không đối xứng là đặc điểm của HNPP vẫn có thể gặp trên bệnh nhân

có đột biến sai nghĩa (missense dominant) trên

gen PMP22, MPZ, EGR2, GJB1(13)

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng khảo sát

Điện cơ ký

Khảo sát dẫn truyền thần kinh vận động và cảm giác bằng máy điện cơ Medtronic A/S Tonshakken 16-18 DK- 2740 Skovlunde – Denmark Kỹ thuật khảo sát được thực hiện theo các chuẩn đã hướng dẫn của Preston và Shapiro Các dây thần kinh ở chi trên gồm: dây thần kinh giữa vận động-cảm giác, dây thần kinh trụ vận động-cảm giác, dây thần kinh quay cảm giác Các dây thần kinh ở chi dưới được khảo sát gồm

có dây thần kinh chày vận động, dây thần kinh mác sâu vận động, dây thần kinh mác nông cảm giác, dây thần kinh bắp chân cảm giác

Phân tích di truyền học

Tách chiết DNA từ mẫu máu ngoại vi, phản ứng PCR khuyếch đại và giải toàn bộ trình tự

của gen MFN2 và GDAP1, kỹ thuật MLPA xác định mất hoặc lặp đoạn gen MFN2 được thực

hiện tại Trung tâm Y Sinh học Phân tử, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm lâm sàng và điện cơ ký

Gia đình người Việt, dân tộc Kinh, có 5 thành

viên: bố (BN1), mẹ (BN2) không biểu hiện triệu

chứng thần kinh, 03 người con (2 nữ, 1 nam:

BN3, BN4, BN5) có biểu hiện và diễn tiến bệnh

tương tự nhau (Hình 1): Bệnh khởi phát từ lúc 27

tháng, gia đình ghi nhận bệnh nhân chậm biết

đi, đi không vững, dễ té, không thể chạy được,

phát triển tâm thần bình thường

Hình 1: Phân tích phả hệ gia đình bệnh nhân CMT BN1(bố), BN2(mẹ), BN3,4,5 (các con)

Khám thần kinh ghi nhận các triệu chứng trình bày trong bảng 2, 3 và hình 2 Các cơ quan khác không ghi nhận bất thường

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng và điện cơ ký trên các đối tượng bệnh nhân

Đặc điểm lâm sàng Dẫn truyền thần kinh Điện cơ kim BN1 Không ghi nhận các triệu chứng bất thường

về vận động – cảm giác

BN2

BN3 Bất thường vận động – cảm giác Mất đáp ứng vận động – cảm giác đối xứng

trên các dây thần kinh được khảo sát.

Mất phân bố và tái phân bố thần kinh

BN5 Không khảo sát được Tổn thương kiểu sợi trục thần kinh, vận tốc

dẫn truyền bình thường > 50m/s

Không khảo sát

Bảng 3: Triệu chứng vận động và cảm giác dương tính và âm tính trên bệnh nhân BN03

Triệu chứng vận động Triệu chứng cảm giác Tay -Teo cơ nội tại bàn tay

-Sức cơ ngọn chi 1/4, gốc chi 4/4

-Co rút bàn tay -Phản xạ gân cơ nhị đầu, tam đầu mất

-Cảm giác nông, cảm giác đau còn -Rung âm thoa giảm

Ưu thế ngọn chi hơn gốc chi Chân -Teo cơ bàn chân, cẳng chân

-Sức cơ ngọn chi 1/4, gốc chi 4/4 -Bàn chân hình vòm (pes cavus) -Phản xạ gối-gót mất

-Cảm giác nông, cảm giác đau mất -Rung âm thoa giảm

Ưu thế ngọn chi hơn gốc chi

Hình 2: Biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân BN3 (A,B) Teo cơ nội tại bàn tay, (C) Teo cơ vùng cẳng chân, bàn chân hình vòm (pes cavus)

Kết quả khảo sát gen MFN2 và GDAP1

Trên cơ sở phân tích đặc điểm lâm sàng và

kết quả điện cơ ký nghi ngờ gia đình bệnh nhân

này có bệnh thần kinh ngoại biên di truyền

Charcot-Marie-Tooth thể mất sợi trục khởi phát

ở lứa tuổi nhỏ (27 tháng) Để xác định chẩn đoán,

chúng tôi tiến hành khảo sát gen MFN2 là

nguyên nhân thường gặp gây CMT type 2A(14), chiếm 2/3 số trường hợp CMT thể sợi trục Chúng tôi tìm thấy một SNP trên exon 1 c.-367A>G (rs2236054) nằm ở vùng không mã hóa protein chức năng: BN1 dị hợp tử, BN2 bình thường, BN3, 4, 5 biểu hiện đồng tử

Bằng kỹ thuật MLPA phát hiện lặp/mất đoạn gen, chúng tôi chưa ghi nhận đột biến lặp hoặc

Trang 5

mất đoạn trên gen MFN2 trên cả 5 thành viên

(Hình 3)

Hình 3: Phân tích gen MFN2 (Trái) Kết quả giải

trình tự gen phát hiện một SNP trên exon 1

(c.-367A>G, rs2236054) (Phải) Khảo sát lặp và mất

đoạn gen bằng kỹ thuật MLPA chưa phát hiện đột

biến

Kết quả khảo sát gen GDAP1

Tuy nhiên, với biểu hiện đột biến trên 05

thành viên trong gia đình, gợi ý đây là một

kiểu hình bình thường, không phải là nguyên

nhân gây bệnh lý thần kinh trên 3 đối tượng

BN 03-04-05 Chúng tôi tiếp tục khảo sát gen

GDAP1(1), ghi nhận đột biến chèn 1 đoạn 5

nucleotide c.[656-661 insTTGCA] (Hình 4)

nằm trên exon 5 của gen GDAP1 gây lệch

khung dịch mã protein, BN1 và BN2 đột biến

chèn đoạn trên 1 allele, BN3-4-5 biểu hiện

chèn đoạn trên cả 2 allele Đột biến này chưa

được công bố trên y văn thế giới(1,10)

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

Dựa trên đặc điểm lâm sàng có bất thường

vận động và cảm giác với triệu chứng đối xứng

hai chi, ưu thế ngọn chi hơn gốc chi, trội các triệu

chứng về vận động, tuổi khởi phát sớm, diễn tiến mạn tính, bất thường khảo sát dẫn truyền thần kinh kiểu tổn thương sợi trục và đột biến

trên gen GDAP1 giúp chẩn đoán và phân

subtype chính xác trên bệnh nhân này là CMT type 4A(11)

Chúng tôi cũng đưa ra quy trình khảo sát gen được thực hiện tại Trung tâm Y sinh học phân tử, ĐH Y Dược TPHCM trên các đối tượng nghi ngờ Charcot-Marie-Tooth như sau (Hình 5)

Hình 4: Đột biến c.[656-661 insTTGCA]+[656-661 insTTGCA] trên GDAP1 phát hiện bằng kỹ thuật giải trình tự chuỗi DNA

Khảo sát gen và quy trình chẩn đoán Xét nghiệm gen được thực hiện sau khi hỏi tiền căn gia đình, thăm khám thần kinh và khảo sát điện sinh lý kĩ càng Đánh giá phân tử là tiêu chuẩn vàng để xác định chẩn đoán bệnh TK di truyền Chiến lược khảo sát gen mục tiêu dựa vào đặc điểm di truyền, kiểu hình lâm sàng và tốc độ dẫn truyền TK vận động Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra quy trình khảo sát gen gây bệnh CMT thể sợi trục, với vận tốc dẫn truyền ≥ 45m/s hoặc mất đáp ứng vận động (CMAP) Nguyên nhân phổ biến của CMT thể sợi trục là CMT2A với triệu chứng lâm sàng xuất hiện giai đoạn sơ sinh hoặc trẻ nhỏ Nếu các

Trang 6

khảo sát này âm tính, các dấu hiệu lâm sàng có

thể giúp gợi ý nhà lâm sàng chỉ định khảo sát các

gen khác nhau(5,6,11)

Hình 5 Sơ đồ khảo sát gen trên bệnh nhân

Charcot-Marie-Tooth có vận tốc dẫn truyền thần

kinh ≥ 45m/s (9)

Khi đã xét nghiệm gen thực hiện trên bệnh

nhân, các thành viên khác trong gia đình không

cần xét nghiệm gen mà có thể xác định bằng

đánh giá lâm sàng cùng với khảo sát dẫn truyền

TK Chúng tôi không khảo sát nhiều gen CMT

cùng lúc, chỉ xem xét phân tích gen gây bệnh

trên các thành viên gia đình có biểu hiện bệnh

trên lâm sàng khi kiểu hình của họ không giống

với thể bệnh CMT trong gia đình Chúng tôi chỉ

tiến hành khảo sát điện sinh lý giới hạn, không

khảo sát điện cơ kim trên những trẻ có triệu

chứng CMT bới vì những thay đổi chậm dẫn

truyền đồng nhất, khảo sát trên một dây thần

kinh thường đủ để hướng dẫn khảo sát gen hoặc

xác định trẻ có bểu hiện lâm sàng trong gia đình

CMT

Với sự phát triển nhanh của kỹ thuật giải

trình tự thế hệ mới trong thực hành lâm sàng

cho phép xác định trình tự của toàn bộ genome

hoặc exome trong vài ngày Tuy nhiên, kỹ thuật

mới này không phải là không có sai sót, chẳng hạn như NST X và vùng giàu G – C không được bao phủ trong giải trình tự toàn bộ genome hay giải trình tự exome Ngay cả giải trình tự Sanger được coi là tiêu chuẩn vàng của kỹ thuật phân tử vẫn có thể sót những đột biến mất hoặc chèn đoạn nhỏ (đột biến này có thể phát hiện bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới) Ở đây, chỉ những vùng phiên mã của gen gây bệnh CMT mới

được khảo sát Nhiều gen trong đó có MFN2 gây

CMT2A có nhiều polymorphism không gây bệnh

Mặc dù đã đạt được nhứng tiến bộ to lớn trong việc hiểu biết cơ chế sinh học của bệnh thần kinh di truyền dựa trên sự phát triển của sinh học phân tử và mô hình động vật chuyển gen, hiện tại vẫn chưa có phương thức điều trị hữu hiệu cho bất cứ thể CMT nào

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Baxter RV, Vance JM, et al (2002) Ganglioside-induced differentiation-associated protein-1 is mutant in Charcot-Marie-Tooth disease type 4A/8q21 Nat Genet 30:21–22 doi: 10.1038/ng796

2 Dubourg O, LeGuern E, et al (2001) The frequency of 17p11.2 duplication and Connexin 32 mutations in 282 Charcot-Marie-Tooth families in relation to the mode of inheritance and motor nerve conduction velocity Neuromuscul Disord NMD 11:458–463

3 Harding AE, Thomas PK (1980) The clinical features of hereditary motor and sensory neuropathy types I and II Brain

J Neurol 103:259–280

4 Harding AE, Thomas PK (1980) Genetic aspects of hereditary motor and sensory neuropathy (types I and II) J Med Genet 17:329–336

5 Lewis RA, Sumner AJ (1982) The electrodiagnostic distinctions between chronic familial and acquired demyelinative neuropathies Neurology 32:592–596

6 Lewis RA, Sumner AJ, Shy ME (2000) Electrophysiological features of inherited demyelinating neuropathies: A reappraisal in the era of molecular diagnosis Muscle Nerve 23:1472–1487

7 Patzko A, Shy ME (2012) Charcot-Marie-Tooth disease and related genetic neuropathies Contin Minneap Minn 18:39–59 doi: 10.1212/01.CON.0000411567.34085.da

8 Plante-Bordeneuve V, Said G (2002) Dejerine-Sottas disease and hereditary demyelinating polyneuropathy of infancy Muscle Nerve 26:608–621 doi: 10.1002/mus.10197

9 Saporta MA, Shy ME (2013) Inherited peripheral neuropathies Neurol Clin 31:597–619 doi: 10.1016/j.ncl.2013.01.009

10 Senderek J, Schröder JM, et al (2003) Mutations in the ganglioside-induced differentiation-associated protein-1

Trang 7

(GDAP1) gene in intermediate type autosomal recessive

Charcot-Marie-Tooth neuropathy Brain J Neurol 126:642–649

11 Shy ME (2011) Inherited peripheral neuropathies Contin

10.1212/01.CON.0000396963.75069.66

12 Skre H (1974) Genetic and clinical aspects of

Charcot-Marie-Tooth’s disease Clin Genet 6:98–118

13 Thomas PK, Harding AE (1993) Inherited neuropathies: the

interface between molecular genetics and pathology Brain

Pathol Zurich Switz 3:129–133

14 Verhoeven K, Timmerman V, et al (2006) MFN2 mutation distribution and genotype/phenotype correlation in Charcot-Marie-Tooth type 2 Brain J Neurol 129:2093–2102 doi: 10.1093/brain/awl126

Ngày nhận bài báo: 24/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w