1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ảnh hưởng nước súc miệng chứa tinh dầu trên mảng bám ở đối tượng mang mắc cài chỉnh nha

8 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 513,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả giảm mảng bám răng của nước súc miệng chứa tinh dầu trên đối tượng đang điều trị khí cụ chỉnh hình răng mặt cố định.

Trang 1

ẢNH HƯỞNG NƯỚC SÚC MIỆNG CHỨA TINH DẦU TRÊN MẢNG BÁM

Ở ĐỐI TƯỢNG MANG MẮC CÀI CHỈNH NHA

Phan Phương Đoan*, Phan Ái Hùng**

TÓM TẮT

Mở đầu: Kiểm soát mảng bám tốt là hết sức cần thiết để phòng ngừa các bệnh răng miệng (sâu răng, viêm

nướu…); đặc biệt quan trọng ở đối tượng mang mắc cài chỉnh nha do đặc tính dễ tích tụ mảng bám

Mục tiêu: Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả giảm mảng bám răng của nước súc miệng

chứa tinh dầu trên đối tượng đang điều trị khí cụ chỉnh hình răng mặt cố định

Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng bắt chéo, ngẫu nhiên, mù đôi

trên 35 bệnh nhân mang mắc cài chỉnh nha Mỗi đối tượng trải qua 2 giai đoạn thử nghiệm: sử dụng nước súc miệng chứa tinh dầu và sử dụng giả dược Việc súc miệng được thực hiện hai lần mỗi ngày (sáng/tối-20ml/lần), sau khi chải răng (theo phương pháp Bass cải tiến) Vôi răng, mảng bám và vết dính được làm sạch hoàn toàn vào đầu mỗi giai đoạn Sau 2 tháng, ghi nhận chỉ số mảng bám Plague Index và ghi nhận các mảng bám non, trưởng thành, axit dưới sự hỗ trợ của chất nhuộm GC Tri Plague ID Gel Không sử dụng bất kỳ loại nước súc miệng nào trong thời gian rửa 1 tháng giữa hai giai đoạn thử nghiệm

Kết quả: Nhóm sử dụng nước súc miệng chứa tinh dầu sau 2 tháng có chỉ số mảng bám non giảm 30%,

mảng bám trưởng thành giảm 74%, mảng bám axit giảm 85% và chỉ số mảng bám nói chung giảm 54% so với nhóm chứng (p<0,001)

Kết luận: Nước súc miệng chứa tinh dầu có hiệu quả giảm mảng bám đáng kể trên đối tượng điều trị chỉnh

hình răng mặt cố định

Từ khóa: nước súc miệng chứa tinh dầu, mảng bám răng, chỉnh hình răng mặt cố định, mắc cài chỉnh nha

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF AN ESSENTIAL OIL MOUTHWASH IN DENTAL PLAQUE IN PATIENTS WITH

ORTHODONTIC BRACES

Phan Phuong Doan, Phan Ai Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 111 - 118

Background – Objectives: The aim of the study was to evaluate the effectiveness of essential mouth rinse in

reduction of dental plaque in patients wearing fixed orthodontic appliances

Method: The study was designed as a double-masked, randomized, crossover clinical trial, involving 35

patients with orthodontic braces Each patients underwent two experimental periods: washing with the essential oil mouthwash and washing with the placebo mouthwash The washing took place after brushing (with Modified Bass technique), twice a day (morning/evening, each 20ml) At the beginning of each period, a thorough professional prophylaxis was performed to remove all the dental plaque, stain, debris, calculus After 2 months, the plaque was accessed by the plaque index and with the aid of GC Tri Plaque ID Gel the new plaque, mature plaque

and acidic plaque were recorded

Results: After 2 months, the essential oil group has reduced 30% new plaque index, 74% mature plaque

* Học viên Cao học khóa 2013-2015, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM

** Bộ môn Răng Trẻ Em, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM

Tác giả liên lạc: ThS Phan Phương Đoan ĐT: 0936527388 Email: doanphuongphan@yahoo.com

Trang 2

index, 85% acidic plaque index and 54% plaque index in comparison with the control group (p<0.001)

Conclusion: The essential oil mouthwash considerably reduces the dental plaque in patients wearing fixed

orthodontic appliances

Keyword: essential-oils mouthwash, dental plaque, fixed orthodontics, orthodontic braces

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chỉnh hình răng mặt là một chuyên ngành

trong nha khoa điều trị những lệch lạc của răng

và xương hàm Tuy nhiên, khí cụ chỉnh hình lại

làm cản trở vệ sinh răng miệng, tăng vị trí tích tụ

mảng bám, tạo điều kiện cho sự hình thành sâu

răng trên cả những mặt láng - vốn là những vị trí

thường ít khi nhạy cảm với sâu răng Các nghiên

cứu gần đây cho thấy tỉ lệ sang thương sâu răng

sớm quanh mắc cài chỉnh nha khá cao, dao động

từ 2 đến 97%, trong đó tỉ lệ mới xuất hiện là

30-70%(6) Có nhiều nghiên cứu nhấn mạnh mối liên

hệ giữa khí cụ chỉnh hình với sự gia tăng hình

thành mảng bám trong miệng(7,17) Sự tồn tại lâu

dài của mảng bám thúc đẩy sự mất khoáng

thông qua việc cung cấp dinh dưỡng và nơi trú

ngụ cho vi khuẩn, cản trở hoạt động tái khoáng

từ nước bọt(9) Đồng thời hoạt động của vi khuẩn

trong mảng bám làm gia tăng tình trạng viêm

nướu và các bệnh nha chu khác ở đối tượng điều

trị chỉnh hình răng mặt cố định(5) Vì thế mà việc

kiểm soát mảng bám là hết sức cần thiết

Hiện nay, kiểm soát mảng bám bằng biện

pháp cơ học như chải răng vẫn là biện pháp

hiệu quả để phòng ngừa bệnh răng miệng;

nhưng những bệnh nhân có khí cụ chỉnh hình

trong miệng khó vệ sinh hiệu quả, nhất là đối

với trẻ em và thanh thiếu niên(1) Biện pháp hỗ

trợ kiểm soát mảng bám phổ biến là phối hợp

với các biện pháp hóa học, như nước súc

miệng kháng khuẩn Mặc dù nước súc miệng

chứa chlorhexidine là tiêu chuẩn vàng trong

giảm viêm nướu, giảm mảng bám nhưng nó

lại có những hậu quả không mong muốn khi

sử dụng trong thời gian dài như nhiễm màu

răng, thay đổi vị giác, cho cảm giác bỏng trên

mô mềm(10) Vì thế mà nhiều tác nhân hóa học

khác được lựa chọn thay thế để hạn chế tác

dụng phụ Trong đó, nước súc miệng chứa

tinh dầu có hiệu quả giảm mảng bám và viêm nướu được chứng minh trong nhiều nghiên cứu(3,11,13,16) Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của nước súc miệng chứa tinh dầu trên mảng bám răng ở những đối tượng mang mắc cài chỉnh nha với các mục tiêu cụ thể như sau:

1 So sánh sự khác biệt về tình trạng mảng bám nói chung giữa nhóm sử dụng nước súc miệng chứa tinh dầu với nhóm sử dụng giả dược

2 So sánh sự khác biệt về tình trạng mảng bám theo các tính chất (non, trưởng thành, axit) giữa 2 nhóm

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các bệnh nhân đến khám và đồng ý điều trị chỉnh hỉnh răng mặt tại khoa Răng hàm mặt, trường Đại học Y Dược TPHCM được khám sàng lọc Các tiêu chí chọn vào như sau: bệnh nhân chưa từng điều trị chỉnh hình (kể

cả khí cụ tháo lắp); không có răng sâu, sang thương nha chu (túi sâu trên 5mm); không sử dụng kháng sinh và nước súc miệng 1 tháng trước nghiên cứu; có kế hoạch điều trị chỉnh hình răng mặt cố định cả hai hàm với khâu, mắc cài được sử dụng cùng loại, cùng số lượng Những bệnh nhân không tuân thủ hướng dẫn của người nghiên cứu, bị dị ứng với thành phần của nước súc miệng và sử dụng thuốc kháng sinh hoặc các sản phẩm có florua tại chỗ (trừ kem đánh răng) bị loại khỏi nghiên cứu Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng y đức trường Đại học Y Dược TPHCM

Đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, bắt chéo ngẫu nhiên 2 nhóm, mù đôi Các đối tượng được cung cấp kiến thức về tình trạng sâu răng, viêm nướu xung quanh những vị trí mang mắc cài Phương pháp chải răng theo Bass cải tiến

Trang 3

được hướng dẫn và kiểm tra đánh giá nhằm

đảm bảo sự đồng nhất về kỹ năng vệ sinh răng

miệng ở các đối tượng trong suốt thời gian

nghiên cứu Nhật ký súc miệng và tin nhắn nhắc

nhở là các biện pháp sử dụng để kiểm tra sự

tuân thủ hướng dẫn của người tham gia

Vào ngày đầu tiên của mỗi giai đoạn nghiên

cứu, sau khi nhuộm mảng bám bằng thuốc

nhuộm GC Tri Plague ID gel, mỗi bệnh nhân

được làm sạch vôi răng, mảng bám, vết dính và

nhuộm lần 2 để đảm bảo đã làm sạch hoàn toàn

Bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên, đồng

thời một người không tham gia nghiên cứu tiến

hành đóng gói và mã hóa các chai nước súc

miệng chứa tinh dầu và giả dược (nước cất, màu

thực phẩm và chất tạo hương) Nhóm thử

nghiệm được phát nước súc miệng chứa tinh

dầu và nhóm chứng được phát giả dược Tất cả

bệnh nhân được hướng dẫn súc miệng 2

lần/ngày, súc 20ml trong 30 giây và không được súc lại bằng nước

Sau 2 tháng, mảng bám được khám đánh giá bằng mắt thường, dưới ánh sáng đèn ghế nha với chỉ số mảng bám theo Silness và Löe, biến đổi bởi Williams và cộng sự cho đối tượng mang mắc cài chỉnh nha (Hình 1) Với điểm số 0, không có mảng bám; điểm số 1, mảng bám chỉ thấy được sau khi nhuộm hoặc cạo bằng thám trâm; điểm số 2, mảng bám trung bình thấy được bằng mắt thường; điểm số 3, mảng bám nhiều (trên 2/3 bề mặt) Sau đó, nhuộm mảng bám bằng GC Tri Plague ID Gel và ghi nhận tính chất mảng bám theo màu nhuộm: màu hồng/đỏ: mảng bám non; màu xanh đậm/tím: mảng bám trưởng thành, màu xanh dương nhạt: mảng bám axit (Hình 2) Tất cả các biến số được khám và ghi nhận bởi cùng một điều tra viên đã được làm

mù, và huấn luyện định chuẩn

Hình 1 Chỉ số mảng bám Silness và Löe, biến đổi bởi Williams cho đối tượng mang mắc cài chỉnh nha

Hình 2 Mảng bám răng theo các tính chất non, trưởng thành, axit

Giai đoạn rửa 1 tháng được tiến hành giữa

2 giai đoạn thử nghiệm Bệnh nhân được yêu

cầu không sử dụng nước súc miệng ở giai đoạn này Mỗi bệnh nhân trong nghiên cứu

Mảng bám axit Mảng bám non

Mảng bám trưởng thành

Trang 4

được chia nhóm ngẫu nhiên bằng cách phát

một phong thư đánh số ngẫu nhiên tại buổi

đầu tiên của nghiên cứu

Phân tích thống kê

Cỡ mẫu của nghiên cứu được ước lượng dựa

trên giá trị trung bình và độ lệch chuẩn chỉ số

mảng bám trong nghiên cứu trước đó của tác giả

Phạm Lệ Quyên Trước khi tiến hành nghiên

cứu, điều tra viên được tập huấn và định chuẩn

với điều tra viên chuẩn Nghiên cứu sử dụng

phần mềm SPSS 16.0 với phép kiểm t test bắt cặp

nhằm phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

giữa 2 nhóm về trung bình chỉ số mảng bám, chỉ

số mảng bám theo tính chất, số vị trí có mảng

bám và số vị trí có mảng bám theo tính chất Tất

cả đều được tính với độ tin cậy 95% (giá trị p≤0,05), kiểm định 2 đuôi

KẾT QUẢ

Có 38 đối tượng được chọn vào nghiên cứu nhưng có 3 đối tượng không đến đúng lịch hẹn nên bị loại khỏi nghiên cứu Như vậy có tổng cộng 35 đối tượng hoàn tất nghiên cứu (trong đó

có 9 nam, 26 nữ, tuổi từ 12 đến 36), và không có trường hợp dị ứng với nước súc miệng được ghi nhận Tất cả bệnh nhân đều tuân thủ hướng dẫn

và có tổng số lần không súc miệng và không chải răng không quá 1 tuần

Sơ đồ 1: Sơ đồ tóm tắt quá trình nghiên cứu

Nhóm giả dược: n=35 Nhóm NSM: n=35

Phân tích kết quả nghiên cứu

Chia nhóm ngẫu nhiên

Sử dụng Giả dược

(n=19)

Sử dụng nước súc miệng (n=19)

Bắt chéo

Sử dụng nước súc miệng

(n=18)

Sử dụng Giả dược

Giai đoạn chuẩn bị mẫu nghiên

Theo dõi 2 tháng

 Ghi nhận chỉ số mảng bám

 Ghi nhận tính chất mảng bám

1 tháng không sử dụng nước súc miệng

Theo dõi 2 tháng

 Ghi nhận chỉ số mảng bám

 Ghi nhận tính chất mảng bám

Làm sạch vôi răng, mảng bám và vết dinh

Làm sạch vôi răng mảng bám và vết dính

Rửa (washout)

Giai đoạn 1

Nhóm 1

Nhóm 2 Giai đoạn 2

Trang 5

Tình trạng mảng bám (non, trưởng thành,

axit)

Tình trạng mảng bám được đánh giá thông

qua chỉ số mảng bám và số vị trí có mảng bám

Chỉ số mảng bám ở nhóm thử nghiệm và nhóm

chứng được trình bày ở bảng 1 Phân tích thống

kê cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa về trung bình chỉ số mảng bám và số vị trí có mảng bám giữa 2 nhóm

Bảng 1 Chỉ số mảng bám và số vị trí có mảng bám (non, trưởng thành, axit)

MB non 0,35 0,07 0,5 0,15 <0,001(a) 17,63 6,98 24,94 10,81 <0,001(a)

MB trưởng thành 0,11 0,1 0,43 0,22 <0,001(a) 2,86 3,21 11,11 6,56 <0,001(a)

MB axit 0,02 0,03 0,13 0,12 <0,001(b) 0,46 0,61 3,11 2,92 <0,001(b)

(a): Kiểm định t-test bắt cặp (b): Kiểm định Wilcoxon Signed Ranks

Tình trạng mảng bám nói chung

Tình trạng mảng bám nói chung là mảng

bám được ghi nhận bằng chỉ số mảng bám mà

không xét đến tính chất non, trưởng thành hay

axit Tình trạng mảng bám nói chung có sự khác

biệt có ý nghĩa giữa nhóm sử dụng nước súc

miệng và nhóm sử dụng giả dược, trong đó cả

chỉ số mảng bám lẫn số vị trí có mảng bám đều

khác biệt có ý nghĩa (Biểu đồ 1, 2) Cụ thể chỉ số mảng bám trung bình xét ở cả hai hàm sau khi

sử dụng nước súc miệng chứa tinh dầu trong nghiên cứu này là 0,47 và sau khi sử dụng giả dược là 1,07 Độ lệch 0,6 có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm Số vị trí có mảng bám nói chung giá trị trung bình tương ứng của hai nhóm là 21,03

và 39,2 (p<0,05)

Biểu đồ 1 Chỉ số mảng bám nói chung Biểu đồ 2 Số vị trí có mảng bám nói chung

Độ giảm tình trạng mảng bám giữa 2 nhóm

theo tuổi

Hiệu quả giảm mảng bám của nước súc

miệng lên 3 nhóm độ tuổi không khác nhau

(p>0,05) Riêng chỉ số mảng bám non ở nhóm

“<=18 tuổi” giảm ít hơn nhóm “19-26 tuổi” có

ý nghĩa thống kê (p<0,05) (Biểu đồ 3, 4) (Trong

đó, nhóm “<=18 tuổi” có 7 bệnh nhân, nhóm

“19-26 tuổi” có 22 bệnh nhân và nhóm “>=27”

có 6 bệnh nhân)

Độ giảm tình trạng mảng bám giữa 2 nhóm theo tuổi giới tính

Kết quả trong nghiên cứu này cho thấy mặc

dù tình trạng mảng bám của nam giới cao hơn

nữ giới nhưng kết quả chưa thực sự có ý nghĩa thống kê (Biểu đồ 5, 6) Cụ thể là độ giảm chỉ số mảng bám và số vị trí có mảng bám nói chung

và mảng bám axit không khác nhau theo giới tính (p>0,05) Độ giảm chỉ số mảng bám non và

số vị trí có mảng bám non ở nữ nhiều hơn nam (p<0,05), độ giảm chỉ số mảng bám trưởng thành

ở nam lại nhiều hơn nữ (p<0,05)

Trang 6

Biểu đồ 3 Chỉ số mảng bám theo tuổi Biểu đồ 4 Số vị trí có mảng bám theo tuổi

(*): p<0,05 ; (**): p>0,05 (*): p<0,05 ; (**): p>0,05

Biểu đồ 5 Chỉ số mảng bám theo giới tính Biểu đồ 6 Số vị trí có mảng bám theo giới tính

(*): p<0,05 ; (**): p>0,05 (*): p<0,05 ; (**): p>0,05

BÀN LUẬN

Chất nhuộm màu mảng bám GC Tri Plague

ID Gel giúp nhận diện mảng bám thành ba loại:

non, trưởng thành, axit Trong đó, mảng bám

non là lớp mỏng, mới hình thành dưới 24 tiếng

trên bề mặt răng được làm sạch Mảng bám non

có lượng vi sinh thấp, ít có nguy cơ gây sâu răng

hay viêm nướu Quan điểm hiện nay xem mảng

bám non là dạng màng sinh học luôn tồn tại và

phát triển trên bề mặt răng(19) Chỉ khi có sự thay

đổi bất lợi trong môi trường sống, vi khuẩn sinh

bệnh mới lấn át và xuất hiện bệnh lý(8) Tuy vậy

sự hiện diện càng nhiều mảng bám càng tăng

nguy cơ trở thành những mảng bám bệnh lý Vì

thế, sự giảm mảng bám non trong nghiên cứu

này là có lợi hay có hại, ít hay nhiều cần những

nghiên cứu sâu hơn Do đó, trong phòng ngừa

bệnh răng miệng, vấn đề quan trọng là kiểm soát mảng bám chứ không phải loại bỏ hoàn toàn mảng bám

Mảng bám trưởng thành là mảng bám dày lên từ mảng bám non, có thời gian hình thành trên 48 giờ, pH chưa đạt mức nguy hiểm (>4,5) Thành phần vi sinh và hoạt động của chúng trong mảng bám lúc này đã nhiều hơn, các sản phẩm axit gây mất khoáng mô răng và các độc tố gây viêm được sản sinh nhiều hơn Vì thế, nếu tiếp tục tồn tại trên răng, một khi có điều kiện thuận lợi thì mảng bám trưởng thành sẽ dễ dàng chuyển thành mảng bám sinh axit gây bệnh lý Mảng bám trưởng thành có thể xem là chuyển tiếp giữa mảng bám non (không gây bệnh) và mảng bám axit (gây bệnh) Mặc dù với pH>4,5 nhưng tùy theo cơ địa từng cơ thể mà có khả năng gây mất khoáng mô răng; đồng thời hoạt

(*)

(*)

(*) (**)

(**)

(**)

(**)

(**)

(*)

(**) (**)

(**)

(**) (**)

(**)

(**)

Trang 7

động của hệ vi sinh trong mảng bám trưởng

thành này với thời gian đủ lâu có thể kích thích

viêm nướu và ở một số cơ địa có thể chuyển

thành viêm nha chu(4) Do đó, xét cho cùng sự

giảm mảng bám trưởng thành là có lợi

Bằng chất nhuộm màu mảng bám, mảng

bám axit được nhận diện khi có màu xanh

dương nhạt Đây là dấu hiệu chỉ thị cho thấy

có sự tạo axit của vi sinh trong mảng bám (pH

nhỏ hơn hoặc xấp xỉ 4,5) Mảng bám axit càng

nhiều trên răng, thì càng có nhiều nguy cơ mất

khoáng mô cứng do tác động trực tiếp từ pH

thấp của mảng bám, dẫn đến tình trạng sâu

răng nếu sự tái khoáng xảy ra không cân bằng

kịp thời với sự mất khoáng(19) Kết quả của

nghiên cứu này cho thấy sau 2 tháng sử dụng

nước súc miệng chứa tinh dầu, mảng bám

non, trưởng thành, axit đều giảm có ý nghĩa so

với nhóm chứng Kết quả tương đồng với

nghiên cứu của nhiều tác giả như Tufekci(18) và

cs (2008), Alves và cs (2010)(2), Sekino và cs

(2005)(15), Pilloni và cs (2010)(12) Riêng nghiên

cứu của tác giả Alves và cộng sự (2010), mặc

dù nhóm sử dụng nước súc miệng chứa tinh

dầu có chỉ số mảng bám giảm có ý nghĩa

thống kê so với nhóm không sử dụng nước

súc miệng, nhưng so với nhóm sử dụng giả

dược tuy có ít hơn nhưng chưa có ý nghĩa

thống kê Sự khác biệt này có lẽ trong nghiên

cứu trên, tác giả không phân biệt thời gian

tính từ thời điểm gắn mắc cài đến thời điểm

nghiên cứu, không phân biệt giai đoạn điều

trị, loại dây cung chỉnh nha được sử dụng, vì

thế các đối tượng nghiên cứu có kinh nghiệm

chăm sóc vệ sinh răng miệng khi có mắc cài

trong miệng rất khác nhau

Có thể kết luận rằng trong nghiên cứu này

nước súc miệng chứa tinh dầu cho hiệu quả như

nhau trên các nhóm tuổi Do đa phần mẫu nằm

ở độ tuổi 21, có trình độ học vấn cao Hơn nữa,

điều trị chỉnh hình răng mặt là một loại hình

điều trị chuyên môn với chi phí khá cao Nên

những đối tượng tiếp cận với loại hình điều trị

này thường là những đối tượng có điều kiện

kinh tế xã hội ở mức khá Vì vậy mà thường có ý thức vệ sinh răng miệng tốt(14) Ngoài ra có thể do ảnh hưởng của chương trình nha học đường nên hiệu quả hướng dẫn và sự tích cực thực hiện của người tham gia nghiên cứu đạt kết quả tốt Có lẽ

vì vậy mà hiệu quả giảm mảng bám giữa các nhóm tuổi của nước súc miệng chứa tinh dầu khác nhau không có ý nghĩa thống kê

Đối với ảnh hưởng lên giới tính, nghiên cứu này chưa tìm thấy được quy luật của độ giảm mảng bám sau khi sử dụng nước súc miệng chứa tinh dầu giữa nam và nữ Có lẽ do sự chênh lệch về số lượng nam và nữ trong nghiên cứu và cũng có thể do tình trạng mảng bám liên quan trực tiếp đến ý thức và sự tích cực thực hiện vệ sinh răng miệng hơn là liên quan về giới tính nên kết quả chưa thực sự rõ ràng

KẾT LUẬN

Nước súc miệng chứa tinh dầu cho hiệu quả giảm chỉ số mảng bám và số vị trí có mảng bám nói chung và theo các tính chất (non, trưởng thành, axit) so với nhóm chứng sử dụng giả dược trong 2 tháng sử dụng liên tục ở các đối tượng mang mắc cài chỉnh nha

Các bác sĩ chỉnh nha nên hướng dẫn bệnh nhân súc miệng 2 lần/ngày với 20ml nước súc miệng chứa tinh dầu bên cạnh việc chải răng, nhằm làm giảm mảng bám răng, từ đó đó giảm sâu răng, viêm nướu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alexander SA (1993) The effect of fixed and functional appliances on enamel decalcifications in early Class II treatment

Am J Orthod Dentofacial Orthop: 45-47

2 Alves KM, Goursand D, Zenobio EG, Cruz RA (2010) Effectiveness of procedures for the chemical-mechanical control

of dental biofilm in orthodontic patients J Contemp Dent Pract: 041-048

3 Cavalca CS, Cavallini F, Regueira Alves MF, et al (2009) Clinical and microbiological effects of an essential-oil-containing mouth rinse applied in the "one-stage full-mouth disinfection" protocol a randomized doubled-blinded preliminary study Clin Oral Investig: 189-194

4 Dumitrescu LA (2010) Etiology of periodontal disease: dental plague and calculus In: Dumitrescu L.A Etiology and pathogenesis of periodontal disease, 02-38 Springer, Norway

5 Folco AA, Benitez-Roge SC, Iglesias M, Calabrese D, Pelizardi C,

et al (2014) Gingival response in orthodontic patients:

Trang 8

Comparative study between self-ligating and conventional

brackets Acta Odontol Latinoam: 120-124

6 Heymann GC, Grauer D (2013) A contemporary review of

white spot lesions in orthodontics J Esthet Restor Dent: 85-95

7 Lindel ID, Elter C, Heuer W, Heidenblut T, Stiesch M, et al

(2011) Comparative analysis of long-term biofilm formation on

metal and ceramic brackets Angle Orthod: 907-914

8 Marsh PD (2006) Dental plaque as a biofilm and a microbial

community - implications for health and disease BMC Oral

Health: S14

9 Ogaard B, Rolla G, Arends J (1988) Orthodontic appliances and

enamel demineralisation Part 1 Lesion Development Am J

Orthod Dentofacial Orthop: 68-73

10 Overholser CD, Meiller TF, DePaola LG, Minah GE, Niehaus C

(1990) Comparative effects of 2 chemotherapeutic mouthrinses

on the development of supragingival dental plaque and

gingivitis J Clin Periodontol: 575-579

11 Pan PC, Harper S, Ricci-Nittel D, Lux R, Shi W (2010) In-vitro

evidence for efficacy of antimicrobial mouthrinses J Dent: S16-20

12 Pilloni A, Pizzo G, Barlattani A, Di Lenarda R, Giannoni M, et al

(2010) Perceived and measurable performance of daily brushing

and rinsing with an essential oil mouthrinse Ann Stomatol

(Roma): 29-32

13 Quintas V, Prada-Lopez I, Prados-Frutos JC, Tomas I (2015) In

situ antimicrobial activity on oral biofilm: essential oils vs 0.2 %

chlorhexidine Clin Oral Investig: 97-107

14 Reisine ST, Psoter W (2001) Socioeconomic status and selected behavioral determinants as risk factors for dental caries J Dent Educ: 1009-1016

15 Sekino S, Ramberg P (2005) The effect of a mouth rinse containing phenolic compounds on plaque formation and developing gingivitis J Clin Periodontol: 1083-1088

16 Stoeken JE, Paraskevas S, van der Weijden GA (2007) The long-term effect of a mouthrinse containing essential oils on dental plaque and gingivitis: a systematic review J Periodontol:

1218-1228

17 Taha M, El-Fallal A, Degla H (2015) In vitro and in vivo biofilm adhesion to esthetic coated arch wires and its correlation with surface roughness Angle Orthod: 1-7

18 Tufekci E, Casagrande ZA, Lindauer SJ, Fowler CE, Williams KT (2008): Effectiveness of an essential oil mouthrinse in improving oral health in orthodontic patients Angle Orthod: 294-298

19 Walsh LJ (2009) Recent developments in chairside diagnostics for dental plague assessment Auxiliary: 28

20 Wilkins ME (2012) Dental Biofilms and Other Soft deposites In: Wilkins ME Clinical Practice of the Dental Hygienist, 11 th ,

283-295, Lippincott Williams & Wilkins

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w