1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của phẫu thuật TVT trong thời đại phổ biến của phẫu thuật TOT điều trị tiểu không tự chủ do áp lực ở phụ nữ

5 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 318,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phẫu thuật TVT (Tension-free Vaginal Tape) xuất hiện từ năm 1996, sớm trở thành trào lưu mới trong điều trị tiểu không tự chủ (TKTC) do áp lực ở phụ nữ. Phẫu thuật TOT (Transobturator Tape) ra đời muộn hơn từ năm 2001 với cùng chỉ định điều trị và cũng được chứng tỏ có hiệu quả tương đương.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA PHẪU THUẬT TVT TRONG THỜI ĐẠI PHỔ BIẾN CỦA

PHẪU THUẬT TOT ĐIỀU TRỊ TIỂU KHÔNG TỰ CHỦ

DO ÁP LỰC Ở PHỤ NỮ

Nguyễn Văn Ân *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Phẫu thuật TVT (Tension-free Vaginal Tape) xuất hiện từ năm 1996, sớm trở thành trào

lưu mới trong điều trị tiểu không tự chủ (TKTC) do áp lực ở phụ nữ Phẫu thuật TOT (Transobturator

Tape) ra đời muộn hơn từ năm 2001 với cùng chỉ định điều trị và cũng được chứng tỏ có hiệu quả tương

đương Dường như các nhà phẫu thuật niệu khoa và sản phụ khoa ngày càng ưa chuộng phương pháp TOT

hơn, có lẽ do rất ít bị biến chứng thủng bàng quang Vậy hiện nay phương pháp TVT có còn vai trò trong

điều trị TKTC do áp lực ở phụ nữ?

Đối tượng và phương pháp: Đây là báo cáo loạt trường hợp lâm sàng Đối tượng nghiên cứu là

những trường hợp (TH) TKTC do áp lực, nhưng được đánh giá là khó thành công bởi các kỹ thuật mổ đặt

dải treo dưới niệu đạo thông thường Chúng tôi thực hiện kỹ thuật mổ tương tự phương pháp TVT của

Umsten đề xuất từ năm 1996, nhưng với sự cải biên là có điều chỉnh sức căng của mảnh ghép prolene vừa

đủ để hết són tiểu tại bàn mổ

Kết quả: Từ 11/2016-3/2019, chúng tôi đã thực hiện 11 phẫu thuật TVT cải biên cho 11 bệnh nhân TKKC

do áp lực dạng khó, gồm 5 TH đã được mổ trước đó mà thất bại và 6 TH bị suy cơ thắt nội tại niệu đạo Theo dõi

từ 3 tháng tới 24 tháng: 7 trường hợp hết són tiểu hoàn toàn, 2 TH cải thiện rõ tình trạng són tiểu, còn 2 TH

không cải thiện

Kết luận: Đối với trường hợp TKTC do áp lực có suy cơ thắt trong niệu đạo hoặc tái phát sau phẫu thuật

điều trị TKTC trước đó, loạt bệnh của chúng tôi ghi nhận 81,8% khỏi bệnh hoặc cải thiện đáng kể tình trạng són

tiểu Như thế, phẫu thuật TVT (cải biên) vẫn giúp điều trị thành công với tỉ lệ cao cho những trường hợp TKKC

do áp lực loại khó ở phụ nữ

Từ khóa: tiểu không tự chủ, suy cơ thắt trong niệu đạo

ABSTRACT

ROLE OF TVT PROCEDURE IN THE WIDESPREAD PERIOD OF TOT PROCEDURE FOR

TREATMENT OF STRESS URINARY INCONTINENCE IN WOMEN

Nguyen Van An * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 91 – 95

Objective: TVT procedure (Tension-free Vaginal Tape) appeared in 1996 then has early become new model

for treatment of stress urinary incontinence (SUI) in women TOT (Transobturator Tape) was born later in 2001

with the same indication for SUI and has been proved have similar efficacy compared with TVT It seems that

urologists and gynecologists have preferred to apply TOT more than TVT recently The reason may be very low

risk of bladder perforation while performing TOT procedure We wonder that do TVT still has a role for treatment

of SUI at the moment?

Methods: This is case series study Women who were diagnosed severe SUI such as ISD (intrinsic sphincter

insufficiency) or recurrence after former treatment were collected Our techniques are modified by the TVT

*Khoa Niệu học chức năng, BV Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS Nguyễn Văn Ân ĐT: 0908163284 Email: bsan.nieukhoa@gmail.com

Comment [LT1]: Đè nghị đổi thành “

We wonder if TVT still has a role for treatment

of SUI”

Trang 2

procedure of Umsten, but with a little bit tension of the tape to cease urinary leakage while making Valsava’s pression on full bladder

Results: From Nov 2016 to March 2019, we have realized 11 cases of severe SUI in women, composed

of 5 recurrences and 6 ISD Following-up from 3 to 24 months: 7 cases have been cured, 2 improved significantly and 2 failed

Conclusion: For treatment of complicated SUI caused by ISD or recurrence, our series reports 81.8% cured

or improved results Therefore, TVT procedure (modified) still have a role for treatment of severe SUI in women

Keywords: urinary incontinence, intrinsic sphincter insufficiency

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo dõi y văn thế giới

Phương pháp mổ TVT (Tension-free Vaginal

Tape) do tác giả Umsten (Thụy điển) khởi xướng

từ năm 1996 đã mở đầu một trào lưu mới trong

điều trị tiểu không tự chủ do áp lực (Stress

Urinary Incontinence- SUI) ở phụ nữ(17) Do kỹ

thuật thực hiện đơn giản mà đem lại hiệu quả

điều trị rất cao, nên phương pháp TVT nhanh

chóng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước Tuy

nhiên, do kỹ thuật thực hiện TVT có xuyên thích

kim đi vào hốc chậu có thể gây một số tai biến

như thủng bàng quang, tổn thương ruột, tổn

thương mạch máu lớn…, cho nên dù có tỉ lệ biến

chứng thấp nhưng cần phải soi bàng quang

trong khi mổ và cẩn thận khi thao tác Năm 2001,

tác giả Delorme (Pháp) trình bày một phương

pháp tương tự để điều trị SUI gọi là TOT (Trans

Obturator Tape)(3), có tỉ lệ thành công tương

đương với TVT Nghiên cứu tổng quan và phân

tích gộp trên gần 2000 bài báo y văn quốc tế về

điều trị SUI ở phụ nữ bằng đặt mảnh ghép dưới

niệu đạo, khảo sát trong 16 năm 2000-2016 với

việc theo dõi dài hạn trên 5 năm, Maggiore & cs

(2017) kết luận rằng hiệu quả của 2 phương

pháp là tương đương nhau về tính hiệu quả và

an toàn(10) Tương tự, Huang & cs (2018) cũng

báo cáo nghiên cứu tổng quan và phân tích gộp

các bài báo với khoảng 5.000 trường hợp SUI

được điều trị bằng đặt mảnh ghép dưới niệu

đạo, gồm khoảng 2.500 trường hợp TVT và

khoảng 2.500 trường hợp TOT: báo cáo ghi nhận

không có khác biệt đáng kể về hiệu quả và biến

chứng giữa 2 phương pháp(7)

Tuy nhiên trên thực tế, càng về sau này các

báo cáo trong y văn thế giới có khuynh hướng

áp dụng phương pháp TOT phổ biến hơn phương pháp TVT Có lẽ vì việc xuyên thích chỉ giới hạn trong vùng bẹn nên hầu như không làm thủng bàng quang và ruột hoặc các cơ quan khác trong bụng và hốc chậu, thậm chí không nhất thiết phải soi bàng quang trong lúc mổ

Tình hình cũng tương tự ở Việt Nam

Lúc đầu chỉ có một tác giả báo cáo về TVT(12,13), rồi sau đó có vài tác giả áp dụng cả TVT và TOT(6,11), nhưng về sau hầu như chỉ thấy các bài trình bày về TOT(9,14,15) Như vậy, trên thế giới cũng như ở trong nước, phương pháp TOT dần dần đã trở nên phổ biến hơn TVT

Chúng tôi tự hỏi: phương pháp TVT có còn vai trò trong điều trị SUI ở phụ nữ? Theo dõi y văn trên thế giới, chúng tôi nhận thấy có không ít các báo cáo vẫn còn sử dụng TVT, đặc biệt cho những bệnh nhân có suy cơ thắt nội tại (ISD - Intrinsic Sphincter Defficiency) của niệu đạo, hoặc những trường hợp đã phẫu thuật bằng phương pháp khác để điều trị SUI

mà thất bại(4,8,16)

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Đây là báo cáo loạt trường hợp lâm sàng

Đối tượng nghiên cứu

Loại trừ

Tiểu không tự chủ gấp (UUI- urge urinary incontinence),

Đang bị nhiễm khuẩn niệu, Đang bị viêm nhiễm cấp tính vùng âm hộ -

âm đạo, Bệnh lý ác tính vùng âm hộ - âm đạo,

Trang 3

Rối loạn đông máu chưa điều chỉnh

Chọn bệnh

Những phụ nữ bị tiểu không tự chủ do áp

lực được đánh giá là khó thành công nếu áp dụng phương pháp TOT Cụ thể:

Kỹ thuật mổ

Dùng kỹ thuật của Umsten, xuyên thích và

đặt mảnh ghép nâng đỡ dưới niệu đạo ra sau

xương mu hướng lên phía trên Tuy nhiên,

chúng tôi có điều chỉnh áp lực của mảnh ghép

đủ căng để làm hết són tiểu khi làm nghiệm

pháp Valsava với bàng quang chứa > 300 ml

nước, nghĩa là không thực sự tension-free

KẾT QUẢ

Từ 11/2016-3/2019, chúng tôi đã thực hiện 11

phẫu thuật TVT cải biên cho 11 phụ nữ bị TKKC

do áp lực dạng khó:

Tuổi trung bình (TB) = 54,4 ± 3,7 (min = 49,

max = 61) Trong số 11 bệnh nhân có đặc điểm

nguyên nhân sau:

Bảng 1 Đặc điểm nguyên nhân

Đặc điểm nguyên nhân Số trường hợp

Tiền căn phẫu thuật điều trị tiểu

không tự chủ nhưng thất bại

5 Suy cơ thắt nội tại niệu đạo, niệu

đạo không tăng động

6

Bảng 2 Các phẫu thuật đã thực hiện bị thất bại

Bệnh nhân Tiền căn phẫu thuật Năm

Nguyễn Thị A., 1949 PT dải treo mu-âm đạo 2005

Đặng Tuyết M., 1960 Phẫu thuật nội soi Burch 2005

Nguyễn Thị C., 1958 - Phẫu thuật nội soi cố định

âm đạo vào mỏm nhô

- Đặt mesh ngả âm đạo điều trị sa bàng quang

2005

2010 Nguyễn T Thu Ng, 1966 Phẫu thuật nội soi Burch 2006

Trương Thị Ng., 1957 Phẫu thuật TPT 2016

5 BN đã được mổ trước đó mà thất bại, gồm:

1 TH đã phẫu thuật TOT năm 2006, 2 TH đã

phẫu thuật nội soi theo phương pháp Burch năm

2006 và 2007, 1 TH phẫu thuật dải treo bằng cơ

thẳng bụng (pubovaginal sling) năm 2005, 1 TH

được phẫu thuật nội soi cố định âm đạo vào mỏm nhô năm 2005 rồi đặt mảnh ghép ngả âm

đạo điều trị sa bàng quang (Bảng 2)

Bảng 3.Các g iá trị LPP được ghi nhận

Bệnh nhân Leak point pressure (cm

H 2 O)

Trung bình 41,5 ± 7,3 cm H 2 O

6 BN được chẩn đoán suy cơ thắt nội tại niệu đạo (khám lâm sàng không ghi nhận tăng động niệu đạo và thực hiện niệu động lực học ghi

nhận Leak Point Pressure thấp) (Bảng 3)

ALPP TB = 42,8 ± 7,3 (min=35, max=55 cm H2O)

Theo dõi từ 3 tháng tới 24 tháng

Bảng 4 Tỉ lệ cải thiện tình trạng són tiểu

Kết quả điều trị Số BN Tỉ lệ %

Cải thiện khá (giảm 70 – 80%)

Về tai biến – biến chứng

Không có trường hợp nào bị biến chứng trong mổ hoặc ngay sau mổ, như thủng bàng quang, thủng ruột, tổn thương tạng hay mạch máu lớn để phải mổ lại

Theo dõi ngắn hạn và trung hạn, chúng tôi chưa ghi nhận những biến chứng sau mổ như nhiễm khuẩn niệu hay nhễm trùng vết mổ, tụ máu hốc chậu, đau vùng hạ vị hay hội âm … Cho đến nay cũng chưa ghi nhận biến chứng lộ

TKTC do áp lực đã được phẫu thuật

nhưng thất bại hoặc tái phát

TKTC do áp lực có suy cơ thắt nội

tại niệu đạo

Chọn bệnh = TKTC do áp lực dạng phức tạp

Trang 4

mảnh ghép

BÀN LUẬN

Bàn về các trường hợp TKTC do áp lực (SUI)

xếp loại khó (nghĩa là nếu phẫu thuật để điều

trị có tỉ lệ thành công thấp)

Abdel-Hardy (2005) chia 4 phân nhóm gọi

là dạng phức tạp của TKTC do áp lực

(complicating SUI)(1): suy cơ thắt nội tại của

niệu đạo (ISD), phẫu thuật thất bại trước đó,

béo phì (BMI > 30) và tuổi già (>70) Các phân

nhóm này thường có tỉ lệ thành công kém hơn

SUI thông thường

Loạt bệnh của chúng tôi còn ít (chỉ 11 TH),

không có người nào quá già (49 – 61 tuổi), cũng

không có người nào quá mập, nên chúng tôi chỉ

có 2 nhóm SUI khó trị là ISD và phẫu thuật trước

đây để điều trị SUI mà thất bại

Về tiêu chuẩn đánh giá bệnh nhân bị suy cơ

thắt nội tại của niệu đạo - ISD:

Các sách giáo khoa và nhiều báo cáo đều

thống nhất tiêu chuẩn để xác định tình trạng

ISD: khi Valsava Leak Point Pressure < 60 cm

H2O hoặc khi Maximal Urethral (MUCP) < 20 cm

H2O Ghezzi và cs (2006) đánh giá bằng 35 TH bị

ISD bằng cả 2 tiêu chuẩn VLPP và MUCP(4)

Trong khi Bai và cs (2007) báo cáo 111 SUI gồm

31 ISD và 80 non-ISD, được đánh giá bằng VLPP

hoặc MUCP(2)

Chúng tôi chọn tiêu chuẩn VLPP (còn gọi là

ALPP) vì dễ thực hiện và thuận tiện khi dùng

vật tư tiêu hao để đo niệu động lực học

Chọn kỹ thuật mổ cho những trường hợp tiểu

không tự chủ do áp lực mà có suy cơ thắt nội

tại của niệu đạo

Nghiên cứu của Schierlitz và cs (2012)(16)

trên 147 BN bị SUI-ISD theo dõi được 3 năm

sau khi đặt dải treo niệu đạo giữa, gồm 75 BN

được làm TOT và 72 BN được làm TVT Kết

quả tái phát của nhóm TOT là 20% (15/75)

trong khi của nhóm TVT rất thấp 1,4% (1/72)

Số liệu trên là minh chứng rất tốt cho ưu thế

của phương pháp TVT so với TOT cho những

BN bị SUI mà có ISD

Một báo cáo khác của Kim và cs (2012)(8) với

157 BN bị SUI-ISD, gồm 105 được làm TVT và 52 được làm TOT Thời điểm theo dõi sau 12 tháng:

tỉ lệ thành công của nhóm TVT là 95,2% cao hơn nhiều so với nhóm TOT là 82,7% (p = 0,009)

Do vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn phẫu thuật TVT (và có cải biên bằng điều chỉnh mức

độ căng đủ để hết són tiểu trong lúc mổ) cho những BN bị SUI có ISD

Chọn kỹ thuật mổ khi phẫu thuật điều trị SUI trước đó đã thất bại

Han và cs (2012)(5) trình bày 66 TH đã thực hiện phẫu thuật đặt dải treo dưới niệu đạo (MUS) trước đó để điều trị SUI nhưng thất bại

do vẫn bị hay tái phát són tiểu Nghiên cứu chia các bệnh nhân làm 2 nhóm: nhóm SUI có ISD và nhóm SUI có mức độ nặng Tác giả mổ lại với 36

TH đặt MUS khác và 30 TH làm ngắn dải treo Đối với các BN bị SUI-ISD thì làm lại MUS cho tỉ

lệ thành công là 76,5% cao hơn nhiều so với làm ngắn dải treo với tỉ lệ thành công chỉ 40,0% Còn đối với các BN bị SUI mức độ nặng thì tỉ lệ thành công của làm lại MUS là 79,2% vẫn cao hơn nhiều so với làm ngắn dải treo là 43,8%

Theo kinh nghiệm đó, chúng tôi thường chọn đặt lại dải treo kiểu TVT (cải biên) cho những BN đã phẫu thuật trước đó bị thất bại

Về hiệu quả điều trị của phương pháp TVT trên các bệnh nhân SUI loại khó

Theo Ghezzi và cs (2006)(4), tỉ lệ thành công của chung của phẫu thuật TVT trên SUI nói chung là 91,4%, trong khi nhóm có ISD là 87% và nhóm có phẫu thuật trước đo là 86%

Số liệu của Bai và cs (2007)(2): kết quả sau 1 tháng cho tỉ lệ thành công của nhóm ISD là 87% trong khi nhóm non-ISD là 100%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,0053 Tuy nhiên, theo dõi sau 3, 6, 12 tháng thì tỉ lệ thành công của 2 nhóm lại tương đương Tác giả cũng tự nhận xét

sự giới hạn của kết luận do số lượng không tương đồng giữa 2 nhóm

Kết quả của chúng tôi khi thực hiện phương pháp TVT cải biên cho các BN bị SUI xếp loại

Trang 5

khó: 63,6% hết són tiểu, và 81,8% hết hoặc cải

thiện nhiều tình trạng són tiểu Tỉ lệ này dường

như khiêm tốn hơn 2 báo cáo của Ghezzi và Bai,

nhưng được xem là khả quan so với tác giả Han

KẾT LUẬN

Tỉ lệ 81,8% hết hoặc cải thiện són tiểu cho

những trường hợp tiểu không tự chủ do áp lực

loại khó, bao gồm nhóm suy cơ thắt nội tại của

niệu đạo và nhóm đã thất bại sau phẫu thuật

trước đây, được xem là đáng khích kệ Chúng tôi

cần nghiên cứu thêm để số liệu có nhiều bệnh

nhânh hơn và thời gian theo dõi kéo dài hơn

nhằm có kết luận đúng đắn hơn Dù sao, kết quả

nêu trên cũng chứng tỏ rằng phương pháp TVT

vẫn còn vai trò trong trào lưu nhiều phẫu thuật

viên niệu khoa và sản phụ khoa ưa thích

phương pháp TOT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abdel-Hady ES, Constantine G (2005) “Outcome of the use of

tension-free vaginal tape in women with mixed urinary

incontinence, previous failed surgery, or low valsalva pressure”

J Obstet Gynaecol Res, 31 (1):38–42

2 Bai SW, Jung IH, Jeon MJ, et al (2007) “Treatment outcome of

tension-free vaginal tape in stress urinary incontinence:

comparison of intrinsic sphincter deficiency and nonintrinsic

sphincter deficiency patients” Int Urogynecol J, 18:1431–1434

3 Delorme E (2001) “Transobturator urethral suspension:

mini-invasive procedure in the treatment of stress urinary

incontinence in women” Prog Urol, 11(6):1306-13

4 Ghezzi F, Serati M, Cromi A, et al (2006) “Tension-free vaginal

tape for the treatment of urodynamic stress incontinence with

intrinsic sphincteric deficiency” Int Urogynecol J, 17: 335–339

5 Han JY, Moon KH, Park CM, Choo MS (2012) “Management of

recurrent stress urinary incontinence after failed midurethral

sling: tape tightening or repeat sling?” Int Urogynecol J, 23:1279–

1284

6 Hồ Nguyên Tiến & cs (2010) “Kết quả điều trị són tiểu khi gắng

sức bằng kỹ thuật đặt bandelette dưới niệu đạo” Y học TPHCM,

10(2): 80-84

7 Huang ZM, Xiao H, Ji ZG, et al (2018) “TVT versus TOT in the

treatment of female stress urinary incontinence: a systematic

review and meta-analysis” Therapeutics and Clinical Risk Management, 14:2293–2303

8 Kim HG, Park HK, Paick SH, Choi WS (2016) “Comparison of Effectiveness between Tension-Free Vaginal Tape (TVT) and TransObturator Tape (TOT) in Patients with Stress Urinary

Incontinence and Intrinsic Sphincter Deficiency” PLOS ONE, May 26;11(5): e0156306

9 Lê Sĩ Trung (2012) “Điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức

ở phụ nữ bằng phương pháp Trans-Obsturator-Tape (T.O.T):

Kinh nghiệm 15 trường hợp đầu tiên” Y học TP Hồ Chí Minh,

16(3):249-254

10 Maggiore ULR, Agrò EF, Soligo M et al (2017) “Long-term outcomes of TOT and TVT procedures for the treatment of female stress urinary incontinence: a systematic review and

meta-analysis” Int Urogynecol J, 28:1119–1130

11 Nguyễn Ngọc Tiến, Nguyễn Thành Vinh (2008) “Điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ bằng phương pháp ít xâm lấn: miếng nâng đỡ dưới niệu đạo TOT và TVT, kết quả

ban đầu tại bệnh viện FV TP Hồ Chí Minh” Y học TP Hồ Chí Minh, 12(1):335-341

12 Nguyễn Văn Ân (2004) “Nhân 6 trường hợp áp dụng kỹ thuật băng treo lỏng âm đạo TVT (Tension-free Vaginal Tape) để điều

trị tiểu không kiểm soát gắng sức ở phụ nữ” Y học TP Hồ Chí Minh, 8(1):285-288

13 Nguyễn Văn Ân (2006) “Điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ bằng phương pháp băng treo lỏng âm đạo TVT”

Y học TP Hồ Chí Minh, 10(1):154-159

14 Nguyễn Văn Ân (2012) “Kết quả trung hạn điều trị tiểu không

kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ bằng phẫu thuật TOT” Y học

TP Hồ Chí Minh, 16(3):233-238

15 Nguyễn Vũ Khải Ca, Hoàng Long, Nguyễn Hoài Bắc & cs (2012) “Kết quả lâm sàng và niệu động học của phẫu thuật đặt đai niệu đạo qua lỗ bịt điều trị đái rỉ khi gắng sức ở phụ nữ tại

bệnh viện Việt Đức” Y Học TPHCM, 16(3): 156-159

16 Schierlitz L, Dwyer PL, Rosamilia A, et al (2012) “Three-Year Follow-Up of Tension-Free VaginalnTape Compared With Transobturator Tape in Women With Stress Urinary

Incontinence and Intrinsic Sphincter Deficiency” O bstetrics & Gynecology, 119(2):321-327

17 Ulmsten U, Falconer C, Johnson P, et al (1998) “A multicenter study of tension-free vaginal tape (TVT) for surgical treatment

of stress urinary incontinence” Int Urogynecol J Pelvic Floor Dysfunct, 9(4):210-3

Ngày nhận bài báo: 01/04/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/06/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w