1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm di truyền và điều trị của cường insulin bẩm sinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

7 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 367,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát đặc điểm di truyền và điều trị của cường insulin bẩm sinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng 2 từ 1/2012 đến 7/2017. Đột biến kênh KATP là đột biến gen gây bệnh thường gặp nhất và đa phần kém đáp ứng với điều trị diazoxide. Tỉ lệ đột biến kênh KATP dạng dị hợp tử từ bố khá cao.

Trang 1

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 4 * 2018 Nghiên cứu Y học

ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN VÀ ĐIỀU TRỊ CỦA CƯỜNG INSULIN BẨM SINH

Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Nguyễn Văn Nhàn*, Trịnh Thị Kim Huệ*, Hoàng Thị Diễm Thúy**, Trần Thị Mộng Hiệp**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm di truyền và điều trị của cường insulin bẩm sinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi

đồng 2 từ 1/2012 đến 7/2017

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca

Kết quả: Trong 21 trường hợp cường insulin bẩm sinh được khảo sát, 80,9% xảy ra ở giai đoạn sơ sinh,

71,4% lớn cân so với tuổi thai, cân nặng lúc sinh trung bình là 3721,4 ± 756,1 gram Triệu chứng thực thể thường gặp nhất là co giật (47,6%), tím (38,1%), rối loạn tri giác (19,1%) Hạ glucose máu nặng lúc nhập viện được ghi nhận trong 80,9% các trường hợp Đột biến gen được phát hiện trong 80,9% các ca, trong đó 94,1% đột biến kênh KATP và 37,5% là dạng dị hợp tử di truyền từ bố Có 85,7% cần đường truyền glucose trung ương với tốc độ glucose trung bình là 17,6 ± 5,9 mg/kg/phút, 66,7% đáp ứng với điều trị thuốc, 28,6% đáp ứng với diazoxide Có 4 trường hợp được cắt tụy, các ca này đều có đột biến kênh KATP và ¾ trường hợp này có thể mô học là tổn thương lan tỏa Không thấy có sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị giữa nhóm đột biến kênh KATP và không đột biến kênh KATP

Kết luận: Đột biến kênh KATP là đột biến gen gây bệnh thường gặp nhất và đa phần kém đáp ứng với điều

trị diazoxide Tỉ lệ đột biến kênh KATP dạng dị hợp tử từ bố khá cao Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm đột biến kênh KATP và nhóm không đột biến kênh KATP về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị

Từ khóa: cường insulin bẩm sinh, đột biến kênh KATP

ABSTRACT

GENETIC CHARACTERISTICS AND TREATMENT OF CONGENITAL HYPERINSULINISM IN

CHILDREN’S HOSPITAL 2

Nguyen Van Nhan, Trinh Thi Kim Hue, Hoang Thi Diem Thuy, Tran Thi Mong Hiep

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 4- 2018: 159 – 165

Objectives: To describe the genetic characteristics and treatment of congenital hyperinsulinemic (CHI)

children admitted to Children’s Hospital 2 from January 2012 to July 2017

Method: Retrospective case series study

Results: In 21 cases of CHI, 80.9% of cases occurred in newborns, 71.4% cases had birth weights greater

than the average for their gestational age, the mean birth weight was 3721.4 ± 756.1 gram The most common signs were seizure (47.6%), cyanosis (38.1%), mental disorders (19.1%) There was severe hypoglycemia condition in 80.9% of cases when admitted Genetic mutation was found in 80.9% of the cases, in which 94.1% had defects in either of two genes that made up KATP channel and 37.5% of them inherited a mutation from their fathers Central venous perfusion of glucose was performed in 85.7% of the cases and the average rate of glucose perfusion was 17.6 ± 5.9 mg/kg/minute There were 66.7% of the cases that responded to medical treatment, in which 28.6% responded to diazoxide Four cases need nearly total pancreatectomy, all of them had mutation of KATP channel and three of four cases had diffuse form in histopathology There was no significant difference

* Bệnh viện Nhi Đồng 2, ** Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

about clinical characteristics, laboratory tests and treatment between patients with and without KATP channel mutation

Conclusions: The most frequent genetic mutation of CHI was KATP channel mutation and the majority of

these patients poorly responded to diazoxide The proportion of heterozygous mutation of KATP channel inherited from fathers was relatively high There was no significant difference between two groups with and without KATP channel mutation in terms of clinical, paraclinical and treatment characteristics

Keywords: Congenital hyperinsulinisms, KATP channel mutation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cường insulin bẩm sinh (CIBS) được ghi

nhận đầu tiên trên thế giới cách đây 60 năm,

nhưng khoảng 20 năm trở lại đây mới có những

phát triển vượt bậc về cơ chế bệnh sinh liên quan

đến di truyền học Đây là nguyên nhân thường

gặp nhất gây hạ đường huyết nặng kéo dài ở sơ

sinh và nhũ nhi, với nguy cơ tổn thương não

không hồi phục khá cao Xét nghiệm di truyền

học giúp tiên lượng việc đáp ứng với điều trị nội,

khả năng cần cắt tụy sớm, cũng như gợi ý các

trường hợp có thể mô học là khu trú (vốn có thể

điều trị khỏi hoàn toàn bằng cắt tụy khu trú) Tại

TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam chưa có

nghiên cứu nào về CIBS Do đó, nghiên cứu này

được thực hiện nhằm cung cấp thêm thông tin

phục vụ cho việc tiếp cận chẩn đoán và điều trị

CIBS ở trẻ em

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định các loại đột biến gen của CIBS tại

Bệnh viện Nhi Đồng 2

Xác định tỉ lệ các đặc điểm về điều trị của

CIBS tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

Khảo sát mối liên quan về lâm sàng, cận lâm

sàng, điều trị giữa hai nhóm có đột biến gen liên

quan đến kênh KATP và nhóm không đột biến

gen liên quan đến kênh KATP

PHƯƠNG PHÁP-ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Hồi cứu mô tả hàng loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu

Bệnh nhi được chẩn đoán CIBS

Dân số chọn mẫu

Tất cả bệnh nhi được chẩn đoán CIBS và điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 2 từ 1/2012 đến 7/2017

Cỡ mẫu

Lấy trọn

Tiêu chí chọn mẫu

Tiêu chí chọn vào

Bệnh nhi được chẩn đoán CIBS và điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 2 trong thời gian nghiên cứu thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán:

Nồng độ insulin máu > 1 U/ml tương ứng với lúc hạ glucose máu < 2,8 mmol/l,

Tốc độ truyền glucose cần dùng để duy trì glucose máu bình thường (mg/kg/phút): >7 (trước 6 tháng tuổi), 3 - 7 (sau 6 tháng tuổi)

Tiêu chí loại trừ

Cường insulin mắc phải (u tụy nội tiết), cường insulin hội chứng (Beckwith-Wiedemann, Turner…), cường insulin thoáng qua (sinh ngạt, chậm tăng trưởng trong tử cung, mẹ sử dụng các thuốc điều trị đái tháo đường…)

Xử lý dữ liệu

Dữ liệu được nhập và xử lý thống kê bằng phần mềm STATA 13

Định nghĩa một số biến số quan trọng

Đột biến gen liên quan kênh KATP

Bao gồm đột biến xảy ra ở 2 gen ABCC8 và KCNJ11 (cấu tạo kênh kali phụ thuộc ATP)

Đột biến đồng hợp tử

Đột biến nhận alen từ bố và mẹ ở cùng một

vị trí trên gen Đột biến dị hợp tử kép: đột biến nhận alen từ bố và mẹ ở vị trí khác nhau trên

Trang 3

gen Đột biến dị hợp tử từ bố hoặc mẹ (đột biến

đơn alen): đột biến nhận alen từ bố hoặc mẹ,

trong đó bố hoặc mẹ không có đột biến

Đáp ứng với điều trị thuốc đặc hiệu

Đáp ứng đạt được khi nồng độ glucose máu

lúc đói duy trì trên mức 3,8 mmol/l với việc dùng

thuốc điều trị đặc hiệu CIBS và chế độ dinh

dưỡng phù hợp tuổi (được cho bởi bác sĩ dinh

dưỡng), tối thiểu sau 5 ngày điều trị và có thể

ngưng các đường truyền cung cấp glucose

Đáp ứng với điều trị phẫu thuật

Đáp ứng đạt được khi sau phẫu thuật, nồng

độ glucose máu lúc đói duy trì trên mức 3,8

mmol/l với chế độ dinh dưỡng phù hợp tuổi

(được cho bởi bác sĩ dinh dưỡng) và có thể

ngưng các đường truyền cung cấp glucose

KẾT QUẢ

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng (n=21)

Đặc điểm lâm sàng Tần số Tỉ lệ %

Lý do nhập viện

Hạ glucose máu kéo

dài

7 33,3

Co giật 5 23,8 Ngưng thở 3 14,3

Bú kém 1 4,8

Dò khí thực quản 1 4,8 Đặc điểm lúc sinh Cân nặng (gram) 3721,4 ± 756,1

Lớn cân so với tuổi thai 15 71,4 Thời điểm biểu

hiện

Sơ sinh 17 80,9 Nhũ nhi 4 19,1 Thời gian để chẩn

đoán

Trung bình (ngày) 19,3 ± 10,7

Triệu chứng

Co giật 10 47,6

Rối loạn tri giác 4 19,1 Ngưng thở 3 14,3 Giảm trương lực cơ 1 4,8

Lý do nhập viện thường gặp nhất là hạ

glucose máu kéo dài (do các bệnh viện sản xét

nghiệm tầm soát sau sinh) Hầu hết có cân nặng

lúc sinh lớn (CNLS) (71,4% lớn cân so với tuổi

thai) Biểu hiện triệu chứng rất sớm (giai đoạn sơ

sinh 80,9%) Thời gian để chẩn đoán bệnh còn

khá dài, trung bình 19,3 ngày Thường gặp nhất

là co giật (47,6%), kế tiếp là tím và rối loạn tri

giác (Bảng 1)

Hầu hết giảm glucose máu nặng lúc nhập viện Nồng độ insulin và C-peptide máu tương ứng với thời điểm hạ glucose máu đều tăng cao, cao nhất là 364,3 U/ml đối với insulin máu và 12,66 ng/ml đối với C-peptide máu Nồng độ amoniac trong giới hạn bình thường, ngoại trừ 1 trường hợp có nồng độ amoniac máu là 163,10 mol/l và được xét nghiệm gen có đột biến gen

GLUD1 (Bảng 2)

Bảng 2: Đặc điểm cận lâm sàng (n=21)

Đặc điểm cận lâm sàng Tần số Tỉ lệ %

Nồng độ glucose máu lúc nhập viện

Dưới 1,5 mmol/l 17 80,9 Trên 1,5 mmol/l 4 19,1 Nồng độ insulin máu ( U/ml) 26,30 ± 2,88 Nồng độ C-peptide máu (ng/ml) 3,16 ± 1,50 Nồng độ cortisol máu ( g/dl) 10,23 ± 3,16 Nồng độ amoniac máu ( mol/l) 44,67 ± 1,65 Ceton niệu âm tính 21 100 Ceton máu giảm 21 100

Đặc điểm di truyền

Đột biến gen chủ yếu liên quan đến kênh KATP (94,1%) với các dạng đột biến tìm thấy được là dạng đột biến dị hợp tử kép, dị hợp tử từ

bố và đồng hợp tử, không ghi nhận trường hợp nào dị hợp tử từ mẹ Đáng chú ý là tỉ lệ dị hợp tử

từ bố khá cao (37,5%) Có 1 trường hợp đột biến gen dạng đồng hợp tử, xảy ra ở gen KCNJ11

(Bảng 3)

Bảng 3: Các gen bị đột biến (n=21)

Phân tích di truyền Tần số Tỉ lệ %

Có đột biến gen 17 80,9 Liên quan kênh KATP ABCC8 15 88,2

KCNJ11 1 5,9 Không liên quan kênh

KATP

GLUD1 1 5,9

Các dạng đột biến kênh

KATP

Dị hợp tử kép 9 56,3

Dị hợp tử từ bố 6 37,5 Đồng hợp tử 1 6,2 Gen ABCC8 nằm trên nhiễm sắc thể 11 có 39 exon, vị trí đột biến đa số xảy ra tại intron 27, làm cho c.3403-1G>A (đột biến vị trí nối) Kế đến

là đột biến vô nghĩa xảy ra ở exon 25 (p.R999) và đột biến sai nghĩa ở exon 15 (p.F686S).Một đột

Trang 4

biến mới ở intron 32, làm cho c.3991+4A>G, gây

thay đổi cấu trúc của protein (Hình 1)

Đặc điểm điều trị

Có 14/21 trường hợp đáp ứng với điều trị

bằng thuốc, trong đó có 4 trường hợp đáp ứng

khi kết hợp 2 thuốc Đáp ứng với diazoxide là 2/7

trường hợp, với octreotide là 6/18 trường hợp,

với nifedipine là 2/8 trường hợp Có 1 trường

hợp được dùng thuốc ức chế mTor nhưng không

đáp ứng (Bảng 4)

Bảng 4: Đặc điểm điều trị nội

Đặc điểm điều trị nội Tần số Tỉ lệ %

Đường truyền glucose Trung ương 18 85,7

Tốc độ cao nhất 17,6 ± 5,9 Đáp ứng điều trị nội Đáp ứng 14 66,7

Không đáp ứng 7 33,3 Đáp ứng Diazoxide (n=7) 2 28,6

Đáp ứng Octreotide (n=18) 6 33,3

Đáp ứng Nifedipine (n=8) 2 25,0

Đáp ứng ức chế mTor (n=1) 0 0

Có 4/7 trường hợp không đáp ứng với điều

trị nội được cắt tụy Do không thực hiện được

chụp 18F-DOPA PET/CT nên 4 trường hợp đều được cắt tụy gần toàn phần Thời gian điều trị nội trước cắt tụy đa phần trên 2 tháng Tốc độ truyền glucose ở các trường hợp đều khá cao Sau phẫu thuật, hầu hết đều có đáp ứng, chỉ có

¼ (25%) trường hợp cần phải cắt tụy lần 2 và đáp ứng với nifedipine sau đó Trong nhóm đột biến kênh KATP, có 4/16 (25%) trường hợp phải cắt

tụy (Bảng 5)

Bảng 5: Đặc điểm các trường hợp cắt tụy (n=4)

Gen đột biến

Điều trị nội trước cắt tụy (tháng)

Tốc độ truyền glucose (mg/kg/phút)

Số lần cắt tụy

Đáp ứng sau cắt tụy (ngày)

Mô học

KCNJ11 1,3 25,5 1 8 Lan

tỏa ABCC8 6,9 18,0 2 49 Lan

tỏa ABCC8 2,4 17,7 1 3 Khác ABCC8 2,5 12,1 1 13 Lan

tỏa

Hình 1: Bản đồ đột biến gen ABCC8 tại Bệnh viện Nhi đồng 2

Trang 5

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị giữa

nhóm có đột biến gen liên quan kênh KATP và

nhóm không đột biến gen liên quan kênh

KATP

Không ghi nhận có sự khác biệt về đặc điểm

lâm sàng, cận lâm sàng, tốc độ truyền glucose

giữa hai nhóm có đột biến và không đột biến

kênh KATP (Bảng 6)

Bảng 6: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị

giữa nhóm có đột biến và không đột biến kênh KATP

Đột biến kênh KATP (n=16)

Không đột biến kênh KATP (n=5)

p

Cân nặng lúc sinh

(gram)

3803,1±656,9 3460,0±1062,1 >0,05(a) Tuổi thai (tuần) 37,5 ± 1,4 36,7 ± 0,7 >0,05(a)

Ngày tuổi biểu hiện 2 (1-3,5) 2 (1-17) >0,05(b)

Triệu chứng biểu hiện (tần số, %)

Co giật 7 (43,8) 3 (60,0) >0,05(c)

Rối loạn tri giác 3 (18,8) 1 (20,0) >0,05(c)

Bú kém 6 (37,5) 2 (40,0) >0,05(c)

Tím 5 (31,3) 3 (60,0) >0,05(c)

Ngưng thở 3 (18,8) 0 (0) >0,05(c)

Giảm trương lực cơ 1 (6,3) 0 (0) >0,05(c)

Đặc điểm cận lâm sàng

Nồng độ insulin

máu ( U/ml)

25,70 ± 2,51 26,30 ± 3,16 >0,05(a)

Nồng độ C-peptide

máu (ng/ml)

3,29 ± 1,62 4,43 ± 1,90 >0,05(a) Nồng độ cortisol

máu ( g/dl)

10,92 ± 3,31 8,76 ± 3,12 >0,05(a)

Nồng độ glucose

máu (mmol/l)

0,37 ± 0,11 0,89 ± 0,21 >0,05(a)

Tốc độ truyền glucose

Tốc độ truyền glucose 18,0 ± 6,4 16,3 ± 4,7 >0,05(a)

(a) Phép kiểm t, (b) Phép kiểm Wilcoxon ranksum, (c) Phép kiểm

Fisher chính xác

BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

Lý do nhập viện thường gặp nhất là hạ

glucose máu kéo dài (33,3%) Theo Meissner T, tỉ

lệ này chiếm 35%(8), Lee C là 15,4%(7) Điều đó cho

thấy ở những trẻ có lớn cân so với tuổi thai, tiền

sử gia đình có anh chị em hạ glucose máu kéo

dài thì cần phải được xét nghiệm glucose máu

thường quy để chẩn đoán CIBS kịp thời

Hầu hết có CNLS lớn với 71,4% trường hợp

lớn cân so với tuổi thai, trung bình là 3721,4 ± 756,1 gram Theo Park S, cân nặng trung bình

4080 ± 490 gram, 76% trường hợp lớn cân so với tuổi thai(9) Tương tự, Sogno V cũng ghi nhận tỉ lệ lớn cân so với tuổi thai là 50%(11) Tuy nhiên, Faletra F ghi nhận chỉ có 32,3 % trường hợp lớn cân so với tuổi thai(5) Như vậy, những trường hợp trẻ bị hạ glucose máu nặng kéo dài, có CNLS lớn, nên nghĩ đến CIBS để thực hiện các xét nghiệm sinh hóa khác tầm soát Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cũng cho thấy việc CNLS bình thường hoặc nhẹ cân cũng không thể loại trừ hoàn toàn khả năng mắc CIBS

Đa phần biểu hiện triệu chứng rất sớm, chủ yếu trong giai đoạn sơ sinh (80,9%) Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận tương tự như Park S (59% biểu hiện triệu chứng trong 3 ngày tuổi đầu)(9), Sogno V (49% trường hợp trong tháng đầu)(11) Như vậy, thời điểm khởi phát CIBS thường xảy ra trong giai đoạn sơ sinh và chủ yếu

là vài ngày sau sinh Tuy nhiên, thời gian để chẩn đoán còn khá dài (trung bình 19,3 ngày), do

đó cần thiết xây dựng quy trình tiếp cận để có thể rút ngắn thời gian lại

Triệu chứng thường gặp nhất là co giật (47,6%) Đây cũng là triệu chứng thường gặp nhất ở các nghiên cứu khác như Buraczewska

M (77%)(3), Gong C (79%)(6), Lee C (69%)(7) Điều này phản ánh được tình trạng cường insulin, làm giảm việc vận chuyển glucose vào

tế bào não qua cơ chế chênh lệch nồng độ, cũng như ức chế quá trình tạo thể ceton và ly giải mô mỡ, khiến cho não bộ không thể sử dụng được glucose cũng như nguồn năng lượng thay thế là thể ceton

Nồng độ glucose máu lúc nhập viện rất thấp (80,9% dưới 1,5 mmol/l) Kết quả này tương tự với Meissner T (nồng độ glucose máu trung bình

là 1,33 mmol/l)(8) Các xét nghiệm sinh hóa đều cho thấy tình trạng cường insulin, với nồng độ insulin tăng cao (trung bình 26,30 U/ml), C-peptide tăng (3,16 ng/ml) Quá trình ức chế tân tạo thể ceton của insulin thể hiện qua tất cả trường hợp đều có ceton máu giảm và ceton niệu

Trang 6

âm tính Nồng độ cortisol máu và amoniac máu

trong giới hạn bình thường (ngoại trừ 1 trường

hợp đột biến gen GLUD1 có tăng amoniac máu)

Kết quả này cũng tương tự với Banerjee I (nồng

độ insulin trung bình 12,80 U/ml, C-peptide

trung bình là 2,96 ng/ml)(1), Sakakibara A (nồng

độ insulin trung bình 9,90 U/ml, nồng độ

hydroxybutyrate trung bình 0,02 mmol/l)(10)

Đặc điểm di truyền

Đột biến gen thường gặp chủ yếu có liên

quan đến kênh KATP (chiếm 94,1%, trong đó

ABCC8 88,2%, KCNJ11 5,9%), đột biến gen

GLUD1 chiếm 5,9% Đột biến kênh KATP có tỉ lệ

khác nhau giữa các nghiên cứu trên thế giới, tuy

nhiên luôn là đột biến thường gặp nhất gây

CIBS, như Park S (88%)(9), Yorifuji T (53%)(13),

Faletra F (70%)(5) Đột biến gen GLUD1 thường

gặp hàng thứ hai, Gong C cũng ghi nhận tỉ lệ đột

biến tương tự chúng tôi (3,2%)(6)

Kết quả đáng lưu ý trong nghiên cứu của

chúng tôi là đột biến kênh KATP dạng dị hợp tử

từ bố chiếm đến 37,5% Tuy cỡ mẫu nghiên cứu

nhỏ, nhưng đây là phát hiện rất quan trọng, vì

gợi ý tỉ lệ thể tổn thương mô học dạng khu trú

khá lớn Các trường hợp này nên được chụp 18

F-DOPA PET/CT nhằm xác định thể mô học cũng

như vị trí tổn thương và có khả năng điều trị

khỏi hoàn toàn bằng sau cắt tụy khu trú Bên

cạnh đó, chúng tôi cũng tìm thấy một đột biến

mới đóng góp vào bản đồ gen CIBS thế giới, xảy

ra ở intron 32, làm cho c.3991+4A>G, gây thay

đổi cấu trúc của protein

Đặc điểm điều trị

Một trong các tiêu chí để đánh giá mức độ

trầm trọng của bệnh CIBS là tốc độ truyền

glucose cần dùng để duy trì glucose máu ở

ngưỡng an toàn (bên cạnh tuổi xuất hiện triệu

chứng và khả năng đáp ứng với diazoxide) Các

trường hợp trong nghiên cứu của chúng tôi đều

cần tốc độ truyền glucose cao (trung bình 17,6

mg/kg/phút), do đó hầu hết đều cần đường

truyền glucose trung ương (85,7%) Từ đó nhấn

mạnh vai trò của việc chăm sóc catheter nhằm

phòng tránh nhiễm trùng bệnh viện

Tỉ lệ đáp ứng với điều trị nội là 66,7% Đáp ứng với diazoxide 28,6 %, với octreotide 33,3%, với nifedipine 25,0% và không có trường hợp nào đáp ứng với ức chế mTor Tỉ lệ đáp ứng với thuốc của chúng tôi khác với các nghiên cứu trên thế giới như Welters A (đáp ứng với diazoxide 13%, với octreotide là 22%, nifedipine chỉ là thuốc thay thế hoặc dùng phối hợp)(12), Meissner

T (đáp ứng với diazoxide 29%)(8), Gong C (đáp ứng với diazoxide 74%, với octreotide 80%)(6) Sự khác biệt này là do tỉ lệ đột biến cũng như dạng đột biến kênh KATP trong nghiên cứu của chúng tôi khác với các tác giả trên Điều đó cho thấy vai trò của việc xét nghiệm gen trong việc tiên lượng đáp ứng điều trị nội

Có 7 trường hợp không đáp ứng với điều trị nội (trong đó 2 trường hợp tử vong và 1 trường hợp xin chuyển viện), do đó có 4 trường hợp được cắt tụy trong nghiên cứu của chúng tôi Phương pháp phẫu thuật đều là cắt tụy gần toàn phần 75% có thể mô học là lan tỏa Tỉ lệ đột biến kênh KATP phải cắt tụy chiếm 4/16 (25%) trường hợp Theo Banerjee I, tỉ lệ này lên tới 70%(1) Sau phẫu thuật, 3/4 trường hợp có đáp ứng, chỉ có 1 trường hợp phải cắt tụy lần 2 và đáp ứng với điều trị nifedipine sau đó Theo Meissner T, 27% trường hợp có nồng độ glucose máu bình thường sau phẫu thuật mà không phải phẫu thuật lần 2(8) Theo Beltrand J, trong 58 bệnh nhi cắt tụy gần toàn phần vì có CIBS thể lan tỏa, có 59% trường hợp tiếp tục hạ glucose máu sau phẫu thuật nhưng mức độ hạ glucose máu không nặng như trước phẫu thuật, và có thể kiểm soát được bằng điều chỉnh chế độ ăn hoặc điều trị bằng thuốc(2)

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị giữa nhóm có đột biến gen liên quan kênh KATP và nhóm không đột biến gen liên quan kênh KATP

Về đặc điểm lâm sàng, không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm về cân nặng lúc sinh, tuổi thai, tuổi biểu hiện cũng như tỉ lệ

Trang 7

các triệu chứng co giật, rối loạn tri giác, bú kém,

tím, ngưng thở, giảm trương lực cơ Nghiên cứu

của Demirbilek H có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về cân nặng lúc sinh và tuổi biểu hiện

triệu chứng giữa hai nhóm(4) Tuy nhiên, theo

Gong C không có sự khác biệt có ý nghĩa về cân

nặng lúc sinh(6) Do đó, vẫn cần có các nghiên

cứu có cỡ mẫu lớn hơn để khẳng định mối liên

quan này

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng không tìm thấy

sự khác biệt về đặc điểm sinh hóa máu giữa hai

nhóm Kết quả này tương tự với nghiên cứu của

tác giả Gong C(6)

Một trong những yếu tố để đánh giá độ nặng

của CIBS chính là tốc độ truyền glucose cần

dùng để duy trì glucose máu bình thường, điều

này gián tiếp phản ánh tình trạng bài tiết insulin

không phù hợp trong CIBS Tuy nhiên, chúng tôi

không nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê giữa hai nhóm đột biến kênh KATP và không

đột biến kênh KATP

KẾT LUẬN

Đột biến kênh KATP là đột biến gen gây

bệnh thường gặp nhất và đa phần kém đáp ứng

với điều trị diazoxide Tỉ lệ đột biến kênh KATP

dạng dị hợp tử từ bố khá cao Không có sự khác

biệt có ý nghĩa giữa nhóm đột biến kênh KATP

và nhóm không đột biến kênh KATP về đặc

điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Banerjee I, Skae M, Flanagan SE et al (2011) "The contribution of

rapid KATP channel gene mutation analysis to the clinical

management of children with congenital hyperinsulinism" Eur J

Endocrinol, 164 (5), 733-740

2 Beltrand J, Caquard M, Arnoux JB et al (2012) "Glucose

metabolism in 105 children and adolescents after

pancreatectomy for congenital hyperinsulinism" Diabetes Care,

35 (2), 198-203

3 Buraczewska M, Szymanska E, Brandt A et al (2015)

"Congenital hyperinsulinism in Polish patients how can we

optimize clinical management?" Endokrynol Pol, 66 (4), 322-328

4 Demirbilek H, Arya VB, Ozbek MN et al (2014) "Clinical characteristics and phenotype-genotype analysis in Turkish patients with congenital hyperinsulinism; predominance of

recessive KATP channel mutations" Eur J Endocrinol, 170 (6),

885-892

5 Faletra F, Athanasakis E, Morgan A et al (2013) "Congenital hyperinsulinism: clinical and molecular analysis of a large

Italian cohort" Gene, 521 (1), 160-165

6 Gong C, Huang S, Su C et al (2016) "Congenital hyperinsulinism in Chinese patients: 5-yr treatment outcome of

95 clinical cases with genetic analysis of 55 cases" Pediatr

Diabetes, 17 (3), 227-234

7 Lee CT, Liu SY, Tung YC et al (2016) "Clinical characteristics and long-term outcome of Taiwanese children with congenital

hyperinsulinism" J Formos Med Assoc, 115 (5), 306-310

8 Meissner T, Wendel U, Burgard P et al (2003) "Long-term

follow-up of 114 patients with congenital hyperinsulinism" Eur J

Endocrinol, 149 (1), 43-51

9 Park SE, Flanagan SE, Hussain K et al (2011) "Characterization

of ABCC8 and KCNJ11 gene mutations and phenotypes in

Korean patients with congenital hyperinsulinism" Eur J

Endocrinol, 164 (6), 919-926

10 Sakakibara A, Hashimoto Y, Kawakita R et al (2017) "Diagnosis

of congenital hyperinsulinism: Biochemical profiles during

hypoglycemia" Pediatr Diabetes, 19(2):259-264

11 Sogno Valin P, Proverbio MC, Diceglie C et al (2013) "Genetic analysis of Italian patients with congenital hyperinsulinism of

infancy" Horm Res Paediatr, 79 (4), 236-242

12 Welters A, Lerch C, Kummer S et al (2015) "Long-term medical treatment in congenital hyperinsulinism: a descriptive analysis

in a large cohort of patients from different clinical centers"

Orphanet J Rare Dis, 10, 150

13 Yorifuji T, Kawakita R, Nagai S et al (2011) "Molecular and clinical analysis of Japanese patients with persistent congenital hyperinsulinism: predominance of paternally inherited

monoallelic mutations in the KATP channel genes" J Clin Endocrinol Metab, 96 (1), E141-145

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 14/07/2018 Ngày bài báo được đăng: 30/08/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w