Bài tập nhóm 9 điểm, Luật Hôn nhân và gia đìnhTrẻ em không chỉ là lực lượng đông đảo của hiện tại mà còn là nguồn nhân lực của tương lai. Hiện nay, việc quan tâm chăm sóc và bảo vệ trẻ em được coi là nhiệm vụ hàng đầu. Trẻ em sẽ được phát triển một cách tốt nhất, toàn diện nhất khi được sống trong môi trường tốt, gia đình tốt có đầy đủ cả cha lẫn mẹ. Vì vậy, quyền được xác định cha, mẹ, con nói chung và trong trường hợp sinh con tự nhiên là cần thiết để xác định quan hệ nhân thân và quan hệ huyết thống giữa các chủ thể.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trẻ em không chỉ là lực lượng đông đảo của hiện tại mà còn là nguồn nhân lực của tương lai Hiện nay, việc quan tâm chăm sóc và bảo vệ trẻ em được coi là nhiệm vụ hàng đầu Trẻ em sẽ được phát triển một cách tốt nhất, toàn diện nhất khi được sống trong môi trường tốt, gia đình tốt có đầy đủ cả cha lẫn mẹ Vì vậy, quyền được xác định cha, mẹ, con nói chung và trong trường hợp sinh con tự nhiên là cần thiết để xác định quan hệ nhân thân và quan hệ huyết thống giữa các chủ thể
Trên thực tế, do sự phát triển của kinh tế, xã hội đã làm nảy sinh nhiều mặt trái như sống thử, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, quan hệ tình dục trước hôn nhân,… dẫn đến nhiều trường hợp trẻ em khi sinh ra không được biết bố mẹ mình là ai Do đó, để bảo vệ quyền trẻ em, pháp luật nước ra đã có những quy định được cụ thể hóa thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Để tìm hiểu rõ
hơn về vấn đề này, chúng em xin được lựa chọn đề tài “Xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp” làm đề tài cho bài tập nhóm.
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu do thời gian còn hạn chế, kiến thức thực tiễn chưa nhiều nên bài viết của chúng em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài viết của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NỘI DUNG
I. Lý luận chung.
1. Một số khái niệm cơ bản
1.1. Kết hôn.
Kết hôn không phải là một khái niệm xa lạ Theo ngôn ngữ pháp lý đây được hiểu là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Theo đó, không phải
ai cũng có thể tùy tiện kết hôn, khi đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định thì mới được kết hôn và được nhà nước công nhận là kết hôn hợp pháp
Kết hôn được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 Cụ thể các điều kiện bao gồm:
- Độ tuổi: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên Độ tuổi này được thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới và phù hợp với thực tế vì khi đó, cả nam và
nữ đều đã là người đủ năng lực hành vi dân sự, có thể tự lao động để nuôi bản thân cũng như có đủ trưởng thành để xây dựng cuộc sống hôn nhân
- Ý chí: Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định Việc kết hôn cũng được coi như một giao dịch dân sự, các bên tham gia vào quan hệ vợ chồng phải tự mình tham gia, tự mình thỏa thuận và tự nguyện, không lừa dối, cưỡng ép kết hôn
- Năng lực chủ thể: nam nữ kết hôn không bị mất năng lực hành vi dân sự Tại thời điểm kết hôn, nam nữ tham gia đăng ký kết hôn phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Điều kiện này đi kèm với điều kiện về ý chí, khi các bên tham gia đăng ký kết hôn mà bị mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự mình tham gia, không thể tự mình quyết định việc đăng ký kết hôn
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật HN&GĐ 2014
Ngoài ra, có một trường hợp tuy không đi đăng ký kết hôn nhưng vẫn được nhà nước công nhận là hôn nhân hợp pháp theo Điều 3 Nghị quyết 35 năm 2000, hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 (ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực) không đăng ký kết hôn nhưng vẫn tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Luật thì vẫn được tòa công nhận là vợ chồng
Trang 31.2. Xác định cha, mẹ, con khi cha, mẹ không có hôn nhân hợp pháp.
Quan hệ cha, mẹ, con là là mối quan hệ huyệt hệ tự nhiên Việc xác định cha,
mẹ, con chính là sự nghiên cứu, tìm kiếm mối quan hệ di truyền, huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau Về mặt tự nhiên, khi một người phụ nữ quan hệ sinh lý với đàn ông dẫn đến mang thai và khi người phụ nữ đó sinh ra đứa trẻ thì chính sự kiện sinh đẻ là sự kiện trực tiếp xác định mối quan hệ mẹ con và tiếp theo đó là sự suy đoán người đàn ông đã quan hệ với mẹ đứa trẻ là cha của đứa trẻ đó Tuy nhiên, về mặt xã hội vốn đã rất phức tạp, vì vậy việc xác định đúng mối quan hệ cha, mẹ, con cũng rất là khó khăn
* Khi cha, mẹ không có hôn nhân hợp pháp.
Con ngoài giá thú: là con mà cha mẹ không phải vợ chồng trước pháp luật, hoặc tuy cha mẹ ăn ở, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng
Luật HN&GĐ 2014 không quy định cụ thể về căn cứ pháp lý cho việc xác định cha, mẹ, con khi cha, mẹ không có hôn nhân hợp pháp Tuy nhiên, theo tinh thần các điều luật trong chế định xác định cha, mẹ, con có thể khẳng định việc xác định cha mẹ con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp là có cơ sở pháp lý
2. Ý nghĩa của việc xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp.
Từ những ngày còn xa xưa thì mối quan hệ giữa cha, mẹ, con đã là mối quan
hệ cơ bản, quan trọng nhất, thiêng liêng và cao cả
+Về mặt xã hội: việc xác định quan hệ cha, mẹ, con sẽ tạo lập gia đình, gia đình là cơ sở, là tế bào của xã hội, gia đình có vai trò sản xuất ra con người duy trì nòi giống, tái sản xuất ra sức lao động bằng việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên, đồng thời giáo dục xã hội hóa con người
+Về mặt pháp lý: quy định về xác định quan hệ cha, mẹ, con của pháp luật Việt Nam là phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt phù hợp với Công ước quốc tế
về quyền trẻ em Đây là cơ sở để thực hiện những nghĩa vụ và quyền giữa cha, mẹ
và con theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, việc xác định quan hệ cha, mẹ
Trang 4con là những căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ này (ly hôn, chia tài sản, thừa kế,…)
II Xác định cha, mẹ, con khi cha, mẹ không có hôn nhân hợp pháp.
1. Căn cứ xác định
Căn cứ về mặt huyết thống được coi là tiền đề để xác định quan hệ cha mẹ và con Để xác định cha, mẹ, con về mặt huyết thống thì căn cứ xác định cha cho con, con cho cha sẽ khác với con cho mẹ và mẹ cho con
Xác định cha cho con, con cho cha thì các đương sự luôn phải căn cứ vào quá trình sinh đẻ của người phụ nữ, căn cứ vào thời gian hai bên nam nữ - là cha, mẹ của đứa con có quan hệ tình dục với nhau Tức là phải căn cứ vào thời điểm sinh con, thời gian mang thai, căn cứ vào thời điểm có thể thụ thai Từ đó xác định trong thời kì có thể thụ thai đứa con thì bên nam nữ có quan hệ tình dục với nhau không? Thời điểm thụ thai có trùng với với thời điểm hai bên nam nữ quan hệ tình dục với nhau hay không?
Xác định mẹ cho con, con cho mẹ thì các đương sự chỉ căn cứ vào sự kiện sinh đẻ, căn cứ vào sự đồng nhất của người con với đứa trẻ mà người phụ nữ đã sinh ra Bởi vì xác định quan hệ mẹ con luôn được chứng minh bằng một chứng cứ trực tiếp đó là sự kiện sinh đẻ
Trong việc xác định quan hệ cha mẹ và con dựa trên nguồn gốc huyết thống các bên chủ thể có thể đưa ra bất cứ một chứng cứ nào (nhân chứng, vật chứng), để chứng minh về nguồn gốc huyết thống trong quan hệc cha con, mẹ con
2. Căn cứ pháp lý
Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định cụ thể về căn cứ pháp lý cho việc xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp Cơ sở pháp lý Luật HN&GĐ hiện hành cung cấp chỉ có các quy định về quyền của các chủ thể trong việc xác định cha, mẹ, con (Điều 89 Xác định con; Điều 90 Quyền nhận cha, mẹ; Điều 91 Quyền nhận con; Điều 101 Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con; Điều 102 Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con)
Thông tư 15/1974/TT của tòa án nhân dân tối cao cũng có thể được coi là có cung cấp căn cứ pháp lý cho hoạt động xác định cha, mẹ, con khi cha, mẹ không có
Trang 5hôn nhân hợp pháp Thông tư này quy định một số sự kiện có thể viện dẫn để xác định quan hệ cha – con Các sự kiện đó bao gồm:
Thứ nhất, trong thời gian có thể thụ thai đứa con, người mẹ đã công nhiên
chung sống với người đàn ông (được xác định là cha của đứa con) như vợ chồng Sống chung như vợ chồng ở đây phải hiểu là bao gồm hoạt động quan hệ tình dục giữa hai bên Nếu có ngoại lệ hay có quan hệ tình dục mà không thể dẫn đến sự thụ thai (người đàn ông đã triệt sản, …) thì cũng cần cung cấp chứng cứ chứng minh
Thứ hai, người mẹ và người đàn ông (được xác định là cha của đứa con) đã
yêu thương nhau, hứa hẹn kết hôn với nhau và trong thời gian có thể thụ thai đã có quan hệ tình dục rồi sau khi có con bỏ không cưới nữa Trường hợp này khác trường hợp trên ở chỗ không có đời sống chung công khai
Thứ ba, người mẹ bị người đàn ông (được xác định là cha của đứa con) hiếp
dâm, cưỡng dâm trong thời gian có thể thụ thai đứa con (xảy ra một lần hoặc vào nhiều thời điểm; có thể được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đàn ông)
Thứ tư, có thư từ của người đàn ông (được xác định là cha của đứa con) xác
nhận đứa con là của mình “Thư từ” ở đây là hình thức của sự thừa nhận tự nguyện
có thể được viết tay, đánh máy hoặc gửi cho người mẹ hoặc người khác Sự thừa nhận này có hể xảy ra ở trước, sau hoặc vào thời điểm sinh con
Thứ năm, người đàn ông (được xác định là cha của đứa con) đã chăm nom,
săn sóc đứa con như con của mình Đây được coi là sự thừa nhận gián tiếp từ phía người đàn ông bằng hành vi Nhưng sức thuyết phục của sự kiện này không cao Có không ít trường hợp người đàn ông thực hiện việc chăm sóc đứa con mà không thừa nhận quan hệ cha - con
Tuy nhiên, các căn cứ pháp lý của Thông tư này chỉ có ý nghĩa để tham khảo
và các quy định cũng chỉ điều chỉnh trường hợp xác định quan hệ cha – con
Trang 6Về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con Luật HN&GĐ quy định tại Điều 101 Cụ thể:
- Trong trường hợp không có tranh chấp thì cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch
Trong nước: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con ( Điều 24 Luật hộ tịch 2014)
Có yếu tố nước ngoài:
+ Sở Tư pháp nơi đăng ký thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con, công nhận và đăng ký việc nhận cha, mẹ, con
+ Cơ quan đại diện tại nước tiếp nhận công nhận và đăng ký việc người nước ngoài nhận công dân Việt Nam cư trú tại nước đó là cha, mẹ, con, nếu việc đăng ký không trái với pháp luật của nước tiếp nhận
- Trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu hay người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con
Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
3. Thủ tục xác định
Thủ tục xác nhận cha, mẹ, con việc tiến hành theo một trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước việc nghiên cứu, tìm tòi, tính toán để đưa ra kết quả rõ ràng,
Trang 7chính xác quan hệ giữa cha, mẹ và con bao gồm hai thủ tục đó là thủ tục hành chính
và thủ tục tư pháp được quy định tại Điều 101 Luật HN&GĐ năm 2014
3.1 Thủ tục hành chính
Thứ nhất, thủ tục đăng ký khai sinh cho con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp Việc xác định cha, mẹ, con theo thủ tục hành chính thường là do người cha, người mẹ hoặc cả hai bên đều tự nguyện nhận con, dù cho quan hệ hôn nhân giũa cha và mẹ không hợp pháp thì thông qua thủ tục đăng ký khai sinh cho con tại
cơ quan hộ tịch để xác thực về mặt pháp lý quan hệ cha mẹ và con Về thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ được quy định tại Điều 13 Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch:
“Điều 13 Thẩm quyền đăng ký khai sinh
1 Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.
2 Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh.
3 Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của
tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó.”
Như vậy, cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh là Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi cư trú của người mẹ Nếu không xác định nơi cư trú của người mẹ, hoặc nơi
cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi cư trú của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó nếu trẻ em đó bị bỏ rơi Phần khai về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của trẻ được để trống Nếu vào thời điểm đăng
ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con
và đăng ký khai sinh Người đi đăng ký khai sinh phải xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu để xác định về cá nhân người đó, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc Giấy đăng ký tạm trú có thời hạn (đối với công dân
Trang 8Việt Nam ở trong nước); thẻ thường trú, thẻ tạm trú hoặc Chứng nhận tạm trú (đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam)
3.2 Thủ tục tư pháp
Việc xác định cha, mẹ, con theo thủ tục tư pháp dựa trên phán quyết của Tòa
án Quyền nhận con, nhận cha, mẹ của đương sự được pháp luật tôn trọng và bảo
vệ Đối với người chưa thành niên hoặc người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì những chủ thể có quyền yêu cầu thay được quy định tại khoản 3 Điều
102 về người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con theo Luật HN & GĐ 2014:
“Điều 102 Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con
3 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con
đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này:
a) Cha, mẹ, con, người giám hộ;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.”
Trong trường hợp con đã thành niên thì tự mình đứng nguyên đơn yêu cầu Tòa
án xác định cha, mẹ của mình; trường hợp yêu cầu xác định một người đã chết là cha, mẹ của mình thì chỉ có nguyên đơn, không có bị đơn (đã chết) nhưng vợ, chồng, con của người đã chết được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền
và lợi ích liên quan đến vụ kiện
4. Thực tiễn xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp
4.1 Nhận xét chung
Trang 9Đối với thủ tục hành chính, theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc thay đổi quan hệ huyết thống trở nên dê dàng, nhiều trường hợp chỉ cần có sự thỏa thuận giữa các bên đương sự một cách tự nguyện và không có tranh chấp Bên cạnh
đó, biểu hiện của tranh chấp là khác nhau Nên hiểu thế nào là “tranh chấp” và
“không có tranh chấp giữa những người có quyền và lợi ích liên quan” để xác định chính xác thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác nhận này thì pháp luật vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể
Đối với thủ tục tư pháp, pháp luật quy định, khi muốn yêu cầu xác định một người là con của họ hay không phải là con của họ thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định Như vậy, về mặt nguyên tắc khi khởi kiện các đương sự phải đưa ra được các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở Tuy nhiên, những chứng cứ mà đương sự dựa vào đó để chứng minh mối quan hệ cha,
mẹ, con thì lại chưa được pháp luật quy định Trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, kết hợp với các biện pháp khác như: giám định y học, giám định về gen
… khi có yêu cầu Tuy nhiên, biện pháp này hiện nay chưa phổ biến và chi phí rất cao, gây khó khăn cho đương sự khi phải chứng minh có quan hệ cha - con Đồng thời, đòi hỏi Tòa án cần đánh giá tổng hợp các chứng cứ để có quyết định chính xác
4.2 Một số vướng mắc
Trong thực tế, việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp còn nhiều vướng mắc nhất định:
1- Về việc đăng ký tự nguyện nhận cha, mẹ, con
+ Trong trường hợp người cha đăng ký nhận con, UBND khi nhận được tờ đăng ký nhận con phải xác định tại thời điểm đó người khai nhận có giấy chứng nhận kết hôn với mẹ của đứa trẻ hay chưa Tuy nhiên, việc thực hiện giữa các UBND chưa đồng nhất Một số UBND, khi tiến hành làm thủ tục nếu tại thời điểm
đó họ đã đăng ký kết hôn thì mặc nhiên bổ sung họ tên của cha, mẹ trong giấy khai
Trang 10sinh của đứa bé mà không cần phải thông qua thủ tục đăng ký nhận con; nếu người
đó không đăng ký kết hôn với mẹ đứa trẻ thì khi đó mới làm thủ tục đăng ký nhận con Trong khi đó một trong số UBND lại vẫn tiến hành thông qua thủ tục đăng ký nhận con cho dù người đó đã đăng ký kết hôn với người mẹ của đứa trẻ
+ Thực tế đã và đang xảy ra hiện tượng người mẹ đứa trẻ đã thông tin không đúng sự thật về nhân thân của mình khi sinh con tại cơ sở y tế Từ đó dẫn đến giấy
tờ chứng minh sinh cũng không có những thông số chính xác về họ tên người mẹ, nơi thường trú, tạm trú Điều này gây ra nhiều khó khăn cho việc xác định cha, mẹ, con Hoặc trường hợp khi sinh con người mẹ lấy tên và địa chỉ giả sau khi sinh con
bỏ lại, bệnh viện xác định theo địa chỉ thì không đúng Do vậy, coi như đứa trẻ đó
bị bỏ rơi, sau khi làm thủ tục cần thiết đã cho đứa trẻ đi làm con nuôi người khác một thời gian sau, người mẹ đã quy lại muốn nhận đứa trẻ đó là con mình theo thủ tục hành chính có được không, nếu người hiện đang là cha, mẹ nuôi của đứa bé không đồng ý
2- Về chứng cứ chứng minh qua hệ cha, me, con
+ Các loại giấy tờ dùng để làm chứng cứ chưa được quy định cụ thể và mang tính khả thi cao Ở khoản 1 Điều 11 TT15/2015 quy định về những giấy tờ làm chứng cứ chứng minh qua hệ cha, mẹ, con gồm : “ Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con” Ở đây, quy định chứng cứ chứng minh quan hệ cha con có thể bằng văn bản của cơ quan y tế, thì vấn đề đặt ra, văn bản của cơ quan y tế xác nhận phải dựa trên cơ sở pháp lý nào, ngoại trừ kết quả giám định ADN và cơ quan y tế cấp nào có thẩm quyền xác nhận? Đây là quy định mà cho đến nay, cơ quan hộ tịch và cán bộ hộ tịch địa phương hầu nư chưa đưa ra lời giải đáp thỏa đáng