Keo fibrin là một trong những loại keo sinh học, dùng để dán mô được ứng dụng khá phổ biến hiện nay trong y học. Mặc dù có nhiều thuận lợi như cầm máu nhanh trong phẫu thuật, tương hợp sinh học cao, dễ sử dụng nhưng keo fibrin có thể mang lại một số rủi ro và vấn đề an toàn, do các thrombin có nguồn gốc từ động vật có thể gây ra phản ứng dị ứng ở một số bệnh nhân hoặc có thể gây xuất huyết nghiêm trọng.
Trang 1BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KEO DÁN FIBRIN TỰ THÂN ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT MỘNG THỊT TRONG NHÃN KHOA
Huỳnh Duy Thảo*, Diệp Hữu Thắng**, Lê Thanh Hùng *** , Võ Quốc Vũ * , Thái Trúc Quỳnh*,
Trần Công Toại *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Keo fibrin là một trong những loại keo sinh học, dùng để dán mô được ứng dụng khá phổ biến
hiện nay trong y học Mặc dù có nhiều thuận lợi như cầm máu nhanh trong phẫu thuật, tương hợp sinh học cao, dễ sử dụng … nhưng keo fibrin có thể mang lại một số rủi ro và vấn đề an toàn, do các thrombin có nguồn gốc từ động vật có thể gây ra phản ứng dị ứng ở một số bệnh nhân hoặc có thể gây xuất huyết nghiêm trọng Ngoài ra còn có nguy cơ lây truyền các tác nhân lây nhiễm từ động vật sang người Do đó,
để khắc phục các nhược điểm trên, chúng tôi nghiên cứu quy trình tạo keo fibrin có nguồn gốc tự thân và bước đầu đánh giá hiệu quả của keo fibrin trong phẫu thuật điều trị mộng thịt
Mục tiêu nghiên cứu: Tạo keo fibrin tự thân và bước đầu đánh giá hiệu quả của keo trong phẫu thuật điều
trị mộng thịt
Phương pháp nghiên cứu: Keo fibrin được tạo ra từ hai thành phần chính có trong máu là fibrinogen và
thrombin Hai thành phần này sẽ được phân lập và kết hợp với nhau để tìm ra quy trình tạo keo hiệu quả Sản phẩm keo được đánh giá bởi một số tiêu chí về cấu trúc, độ vô khuẩn cũng như khía cạnh an toàn sinh học cho người bệnh
Kết quả: Thiết lập được quy trình tạo keo fibrin dùng để dán mô và bước đầu thử nghiệm đánh giá hiệu quả
của keo fibrin tự thân trong điều trị phẫu thuật mộng thịt
Kết luận: Với kết quả nghiên cứu này, keo fibrin sẽ đóng góp thêm một sự lựa chọn cho các nhà phẫu thuật
trong điều trị mộng thịt cũng như đáp ứng được khía cạnh an toàn cho chính người bệnh
Từ khoá: Huyết tương người, keo fibrin, fibrinogen, thrombin.
ABSTRACT
PRELIMINARY ASSESSMENT OF EFFECTIVENESS AUTOLOGOUS FIBRIN GLUE IN TREATMENT
PTERYGIUM IN OPHTHALMOLOGY
Huynh Duy Thao, Diep Huu Thang, Le Thanh Hung, Vo Quoc Vu, Thai Truc Quynh, Tran Cong Toai
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - No 6 - 2015: 94 - 99
Background: Fibrin glue is one of the biological glue, used to glue tissues, commonly used in medicine today
Although there are many advantages such as rapid hemostasis in surgery, with high biocompatible, using fibrin
because the thrombin is derived from animals that can cause allergic reactions in some patients or can cause serious bleeding Also, there is some risk of transmission of pathogens from animals to humans Therefore, to overcome these disadvantages, we study the process of creating autologous fibrin glue and initially evaluated the efficacy of fibrin glue in pterygium surgery
* Bộ môn Mô – Phôi – Di truyền, Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch
** Khoa Giác Mạc, Bệnh viện Mắt TP.HCM ***Khoa Răng - Hàm - Mặt, ĐH Y Dược TP.HCM
Trang 2Objectives: Autologous fibrin glue creation and initially evaluated the efficacy of fibrin glue in pterygium surgery
Methods: Fibrin glue is made up of two main components with fibrinogen and thrombin in blood Two
components will be isolated and combined together to figure out how to create effective glue Fibrin glue are evaluated by a number of criteria such as the structure of the glue, the sterility and biosafety aspects for patients
Results: Establishing a process to create fibrin glue used as tissue adhesive and initially tested to assess the effectiveness of autologous fibrin glue in pterygium treatment
Conclusion: With the results of this study, fibrin glue will contribute more choice for surgeons in the treatment of pterygium as well as response the safety aspects for the patient.
Key words: Human plasma, fibrin glue, fibrinogen, thrombin
ĐẶT VẤN ĐỀ
Keo có nguồn gốc sinh học dùng để kết
dính mô và cầm máu trong phẫu thuật là một
trong những hướng nghiên cứu có tính ứng
dụng cao trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là để
cầm máu trong các phẫu thuật thần kinh Thu
nhận các thành phần của keo từ máu người
hoặc động vật có thể mang lại những nguy cơ
lây nhiễm virus cũng như nguy cơ gây phản
ứng miễn dịch từ các protein dị loại Fibrin tự
thân đã được nghiên cứu và phát triển để khắc
phục những nhược điểm trên bằng cách tách
chiết các thành phần của keo từ máu của chính
bệnh nhân Keo fibrin bao gồm hai thành phần
chính là fibrinogen và thrombin, khi cho hai
thành phần này kết hợp với nhau thì thrombin
sẽ chuyển hóa fibrinogen thành fibrin(1,8,14) Các
sợi này sẽ hình thành nên mạng lưới không
gian ba chiều để tạo thành khối kéo kết dính
với nhau Sự ra đời của keo fibrin đã mang lại
nhiều sự lựa chọn hơn cho ngành ngoại khoa
nói chung và ngành nhãn khoa nói riêng Theo
đó, keo fibrin có thể thay thế vai trò chỉ khâu
trong phẫu thuật mộng thịt là một giải pháp
hợp lý, giúp rút ngắn thời gian phẫu thuật, cải
thiện sự thoải mái sau mổ và có thể tránh
được các vấn đề liên quan đến chỉ khâu
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thực nghiệm mô tả
Đối tượng nghiên cứu
Keo fibrin tự thân thu từ máu ngoại vi của bệnh nhân mộng thịt tại Khoa Giác Mạc, Bệnh viện Mắt TP HCM
Phương pháp nghiên cứu
Phân lập fibrinogen và thrombin
Fibrinogen được thu nhận từ máu ngoại vi (máu đã sử dụng sau khi làm xét nghiệm) Phần huyết tương thu được này được sử dụng để tách chiết fibrinogen(2,9,11,13), chủ yếu theo quy trình tham khảo của tác giả Glenn Isaacson(6) (đã có những bước biến đổi cho phù hợp với điều kiện nghiên cứu) Theo đó, Máu thu nhận được để yên ở 40C nhằm để phân tách các thành phần của máu Sau khoảng thời gian 3-4 giờ đem quay ly tâm ở 3000vòng/phút trong 15 phút Thu nhận phần huyết tương Phần huyết tương thu được, được đem đông lạnh ở -200C trong 1 giờ sau đó
để qua đêm ở 40C Sau đó rã đông ở 2-40C Ly tâm phần huyết tương đã rã đông 3000 vòng/phút, trong 15 phút Loại bỏ dịch nổi, chừa lại 0.5 ml và huyền phù cặn lắng với nước cất Phần dịch này chính là dịch fibrinogen và được bảo quản trong tube eppendorf (1 ml/1vial) ở điều kiện bảo quản -200C sử dụng trong vòng 1 tháng Toàn bộ quá trình được tiến hành trong điều kiện vô trùng
Thrombin được thu nhận theo phương pháp của Saxena S(10) và có những bước điều chỉnh để phù hợp với điều kiện nghiên cứu Theo đó, máu thu nhận được để yên ở 40C nhằm để phân tách
Trang 3các thành phần của máu Sau khoảng thời gian
3-4 giờ đem quay ly tâm ở 3000vòng/phút trong 15
phút Thu nhận khoảng 1ml huyết tương cho
vào type bảo quản qua đêm ở -200C Lấy 1 ml
huyết tương đông lạnh đem đi rã đông ở 2-40C
và pha loãng với nước cất tạo thành 10 ml dung
dịch Thêm dung dịch acid acetic 1% (tạo pH
5.3) Lắc đều sau đó để yên để tạo kết tủa trong
vòng 30 phút Ly tâm 3000 vòng/phút trong 5
phút Thu tủa lắng, thêm dung dịch DPBS vào và
điều chỉnh pH 7.0 (sử dụng dung dịch Na2CO3
0,01M) Đặt dung dịch trong môi trường có nhiệt
độ 370C trong 15 phút sau đó bổ sung CaCl2
0,1M Xuất hiện khối đông hơi đục trong vòng
1-2 phút Để thu nhận được dung dịch thrombin
trong suốt, dùng đũa thủy tinh khuấy tròn để
cuộn phần tủa đục vào đầu đũa, phần còn lại là
thrombin Cho vào tube eppendorf Dung dịch
thrombin này được bảo quản ở -200C sử dụng
trong vòng 1 tháng Toàn bộ quá trình được tiến
hành trong điều kiện vô trùng
Phương pháp tạo keo fibrin
Keo fibrin được tạo ra dựa trên sự kết hợp
giữa fibrinogen và thrombin theo một tỉ lệ thể
tích phù hợp để tạo keo theo tiêu chí keo được
tạo ra trong thời gian nhanh nhất, khối keo đồng
nhất và keo có độ bền cao nhất
Đánh giá cấu trúc keo fibrin
Sau khi keo được tạo ra sẽ được đánh giá về
cấu trúc bằng mô học (nhuộm H&E), đánh giá
đặc điểm bề mặt keo (SEM) Ngoài ra, keo fibrin
còn được khảo sát thời gian đông và thời gian
hủy keo để có được một khảo sát sơ bộ về thời
gian để giúp các nhà lâm sàng có thể ứng dụng
keo trên lâm sàng
Đánh giá đặc điểm an toàn sinh học của
keo fibrin
Keo được thu nhận và phân lập trong điều
kiện vô trùng, đảm bảo tối đa tiêu chí vô trùng
cho sản phẩm
Tiếp theo, keo được đánh giá độ vô khuẩn
theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam IV để kiểm
Ngoài ra, keo cũng được đánh giá khả năng gây độc đối với tế bào theo tiêu chuẩn ISO:
10993-5 trong điều kiện nghiên cứu in vitro Đây
là bước đánh giá khả năng gây độc có thể có của keo với tế bào
Ngoài các tiêu chí đánh giá trên, keo fibrin được tạo ra hướng đến là keo dán mô tự thân, được tạo ra từ chính máu của người bệnh do
đó keo đáp ứng được tiêu chí tương hợp sinh học và an toàn cho chính người bệnh vì loại trừ các yếu tố nguy cơ như lây nhiễm bệnh (các bệnh lây nhiễm từ virus như HIV, Viêm gan B, C …) và cũng loại trừ được các nguy cơ
từ các protein ngoại lại (như trong trường hợp keo sinh học được sản xuất có nguồn gốc từ
động vật – keo dị loại)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đánh giá giới hạn nhiễm khuẩn
Keo fibrin tạo ra phải phải đảm bảo vô khuẩn theo tiêu chuẩn giới hạn nhiễm khuẩn, phụ lục 13.6, Dược điển Việt Nam IV (2009) Đây
là phương pháp nhằm đánh giá số lượng vi khuẩn hiếu khí, nấm, mốc có khả năng sống lại được và phát hiện các vi khuẩn chỉ điểm y tế có trong sản phẩm Thử nghiệm này sẽ được thực hiện tại Trung tâm kiểm nghiệm Thuốc, Mỹ phẩm, Dược phẩm (thuộc Sở Y Tế TP.HCM) Kết quả đánh giá độ vô khuẩn cho thấy, khung fibrin là một khối đặc, trong, màu sắc hơi vàng, đạt độ vo khuẩn theo tiêu chí của Dược điển Việt Nam IV
Đánh giá độc tính đối với tế bào
Đánh giá độc tính cấp tính của vật liệu đối với
tế bào trong điều kiện in vitro theo tiêu chí ISO
10993-5:2009 (Tests for Cytotoxicity—In Vitro Methods) Tế bào được nuôi trong keo fibrin trên đĩa 6 giếng Được quan sát bằng kính hiển vi đảo ngược để theo dõi và đánh giá sự bám dính và phát triển của nguyên bào sợi trong khoảng thời gian 48 giờ Sau khoảng thời gian theo dõi và đánh giá cho thấy, keo fibrin không gây độc đối
với tế bào trong điều kiện nghiên cứu in vitro
Trang 4Hình 1 Kết quả đánh giá khả năng gây độc in vitro của keo fibrin đối với nguyên bào sợi (A) Mẫu
chứng, không có nuôi tế bào (B) Keo fibrin được sử dụng để nuôi nguyên bào sợi trong khoảng 24 giờ đầu, các tế bào bắt đầu cố định và bám dính, chưa có nhiều tế bào phát triển (chủ yếu là các tế bào tròn, bầu dục) (20X) (C) Sau khoảng thời gian 24-48 giờ nuôi cấy, các tế bào bắt đầu phân chia mạnh, có hình thái đặc trưng của nguyên bào sợi (20X)
Đánh giá cấu trúc của keo
Hình 2 Kết quả đánh giá cấu trúc keo fibrin (A) Kết quả sau khi tạo keo fibrin được quan sát bằng kính hiển
vi đảo ngược (10X) (B) Kết quả nhuộm H-SG cho keo fibrin được chụp ở vật kính 10X (C) Kết quả khảo sát bề mặt khung bằng kính hiển vi điện tử truyền suốt (SEM, x400)
Khung fibrin sau khi được tạo ra sẽ tiến hành
nhuộm H-SG và SEM Dựa vào kết quả thu được
từ nhuộm H-SG và SEM trên khung fibrin, có thể
đưa ra nhận định chung, khung fibrin có một
cấu trúc xốp, cấu tạo từ những sợi protein đan
chéo vào nhau Sợi protein này có đường kính
trung bình khoảng 0,5 µm, kích thước các lỗ
không đồng nhất trong toàn bộ khung, kích
thước này dao động nằm trong khoảng từ 30-60
µm Kết quả này phù hợp với quá trình tạo
khung fibrin trong cơ thể để ngăn quá trình chảy máu bằng cách tạo ra cục máu đông, có bản chất
là khung fibrin
Đánh giá khả năng tạo keo
Chúng tôi thay đổi tỉ lệ thể tích kết hợp giữa
fibrinogen và thrombin theo nhiều cách kết hợp khác nhau dựa trên một số nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về tỉ lệ kết hợp giữa hai thành phần này(3,5) Từ đó có bảng số liệu:
Bảng 1: Tóm tắt kết quả tạo keo fibrin theo các tỉ lệ thể tích khác nhau của fibrinogen và thrombin
Tỉ lệ (v/v; ml/ml)
Kết quả tạo khối keo Thời gian đông
Tỉ lệ thể tích kết
hợp giữa
fibrinogen và
Fibrinogen (ml) Thrombin (ml)
Trang 5thrombin (ml) 2 1 Không tạo được keo
Đánh giá hiệu quả bước đầu trên bệnh
nhân điều trị phẫu thuật mộng thịt
Chúng tôi tiến hành sử dụng quy trình đã
được thiết lập để thử nghiệm keo fibrin trong
trường hợp điều trị phẫu thuật mộng thịt ghép
mô Nghiên cứu được triển khai thử nghiệm tại
Khoa Giác Mạc, Bệnh viện Mắt TP HCM Thử
nghiệm trên keo fibrin tự thân đã được thông
qua bởi Hội đồng Y đức tại Bệnh viện Ngoài ra,
bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu với
phiếu cam kết đồng ý tham gia chương trình
nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu và
tiến hành phẫu thuật được tiến hành trong điều
kiện vô trùng nghiêm ngặt tại Phòng thí nghiệm
cũng như theo các quy trình phẫu thuật được
cho phép tại bệnh viện
Trong đó, keo fibrin được tạo ra hoàn toàn từ
chính máu của người bệnh (keo fibrin tự thân)
Kết quả cho thấy thời gian để keo dính khoảng 3
phút (khi so sánh trong điều kiện in vitro khoảng
30 giây – 1 phút), thời gian này đủ để các nhà
phẫu thuật hoàn tất quy trình phẫu thuật Trong
tất cả các trường hợp sử dụng không có trường
hợp nào bị bong mảnh ghép, keo dính tốt và đáp
ứng tiêu chí như một loại keo dán mô(4,7)
Keo đáp ứng được khía cạnh an toàn cho người bệnh (trong các trường hợp thử nghiệm không có trường hợp nào bị dị ứng vì được thu nhận từ huyết thanh tự thân), không có trường hợp nào bị nhiễm trùng(12)
Đặc biệt là sự hài lòng của người bệnh khi sử dụng keo fibrin làm chất kết dính mảnh ghép nếu so với dùng chỉ khâu Vicryl Khi sử dụng chỉ khâu, người bệnh có cảm giác khó chịu, không thoải mái và thời gian chỉ khâu tiêu biến cũng lâu hơn so với sử dụng keo fibrin tự thân
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu đối chứng với keo fibrin thương mại Khi so sánh keo fibrin tự thân với keo thương mại kết quả cho thấy Keo thương mại có sử dụng huyết thanh bò nên một số trường hợp có gây ra dị ứng, thời gian keo thương mại tác dụng nhanh (khoảng 30 giây) nên đòi hỏi phẫu thuật phải thực hiện nhanh chóng
Ngoài ra, keo fibrin thương mại có giá thành khá cao (ví dụ, TISSEEL Lyo (2ml), Baxter,
£80.34; Evicel Fibrin Sealant, LTD 3905, Omrix Biopharmaceuticals, $79.99) Trong khi đó, keo fibrin tự thân được sản xuất với chi phí ước lượng khoảng $20)
Hình 3 Kết quả ghép tế bào gốc rìa giác mạc trên nền collagen sử dụng keo fibrin tự thân để giữ nền ghép
Bệnh nhân sẽ được phẫu thuật loại bỏ mộng
thịt và sử dụng tế bào gốc rìa giác mạc để tái tạo
lại vùng mô, tế bào này được nuôi cấy trên nền
collagen và được cố định bằng keo fibrin tự thân
từ máu ngoại vi của chính người bệnh (A) Bệnh
nhân bị mộng thịt (B) Một ngày sau ghép (C)
Một tuần sau ghép (D) Tám tuần sau ghép Kết
ghép cho thấy an toàn, hiệu quả Keo giữ mảnh ghép tốt, không gây viêm, không gây dị ứng, giúp nâng cao hiệu quả điều trị trên những bệnh nhân bị mông thịt ở mắt
KẾT LUẬN
Keo fibrin đã được nghiên cứu và ứng dụng
từ rất sớm tuy nhiên cho đến nay ở nước ta chưa
Trang 6được quan tâm và nghiên cứu một cách toàn
diện để có thể đưa ra các sản phẩm keo fibrin có
thể triển khai ứng dụng được trên lâm sàng và
rộng hơn là có thể phát triển thành các sản phẩm
thương mại
Nhóm nghiên cứu đã cố gắng tìm ra phương
pháp đơn giản để có thể tạo ra keo dán nhằm
đáp ứng nhu cầu điều trị của người bệnh, cụ thể
là trong trường hợp điều trị phẫu thuật mộng
thịt Keo fibrin cho thấy hiệu quả, an toàn và
giảm bớt gánh nặng chi phí điều trị cho người
bệnh nếu sử dụng các loại keo thương mại
Ngoài ra, khi sử dụng keo fibrin người bệnh hài
lòng với cảm giác dễ chịu hơn khi phải sử dụng
chỉ khâu
Nhóm nghiên cứu vẫn tiếp tục công việc để
có thể cải thiện quy trình nghiên cứu nhằm tạo
ra một quy trình chuẩn hóa để tạo ra loại keo
fibrin tự thân an toàn, hiệu quả làm keo dán mô
và đánh giá trên nhiều bệnh nhân mộng thịt hơn
để có thể đánh giá một cách toàn diện hiệu quả
của keo fibrin tự thân so với keo thương mại
cũng như so với chỉ khâu để phát triển một quy
trình điều trị thường quy trong bệnh viện để
nâng cao hiệu quả điều trị cũng như chăm lo sức
khỏe người bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Albala DM (2003), Fibrin sealants in clinical practice
Cardiovasc Surg, 11, 5-11
2 Alston SM; Solen KA, Broderick AH, et al (2007) New method
to prepare autologous fibrin glue on demand Translational
Research, 149:187-195
3 Barker TH, Fuller GM, Klinger MM, et al (2001) Modification
of fibrinogen with poly(ethylene glycol) and its effects on fibrin clot characteristics J Biomed Mater Res, 56:529-535
4 Currie LJ, Sharpe JR, Martin R (2001), The use of fibrin glue in
skin grafts and tissue-engineered skin replacements: a review,
Plast Reconstr Surg, 108, 1713-26
5 Doolittle RF, Spraggon G, and Everse SJ (1997) Evolution of vertebrate fibrin formation and the process of its dissolution
Ciba Foundation Symposium, 212: 4–17
6 Isaacson G, and Herman JH, (1996), Autologous Plasma Fibrin
Glue: Rapid Preparation, American Journal of Otolaryngology,
17(2):92-94
7 Ochsner MG (1998), Fibrin solutions to control hemorrhage in
the trauma patient J Long Term Eff Med Implants, 8, 161-73
8 Quinn JV, Ed (2005), Tissue Adhesives in Clinical Medicine, BC
Decker Inc, Hamilton, p.1
9 Radosevich M, Goubran HI, Burnouf T (1997), Fibrin sealant: scientific rationale, production methods, properties, and
current clinical use Vox Sang, 72, 133-143
10 Saxena S, Jain P, Shukla J (2003), Preparation of two component Fibrin Glue and its clinical evaluation in skin
grafts and flaps, Indian Journal Plastic Surgery, 36(1):14-17
11 Silver FH, Wang MC, Pins GD (1995) Preparation and use of
fibrin glue in surgery Biomaterials, 16:891-903
12 Staindl O (1979), Tissue adhesion with highly concentrated
human fibrinogen in otolaryngology, Ann Otol Rhinol
Laryngol, 88, 413-18
13 Suh M, Cha CI (1993) Biochemical aspects of autologous fibrin glue derived from ammonium sulfate precipitation Laryngoscope, 103:193-196
14 Wheat JC, Wolf JS, Jr (2009), Advances in bioadhesives, tissue
sealants, and hemostatic agents, Urol Clin North Am, 36,
265-75 2
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 19/10/2015