1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh kết quả điều trị chấn thương sọ não nặng được an thần bằng propofol với phương pháp kiểm soát nồng độ đích và truyền liên tục

5 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 287,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệp hội chấn thương sọ não khuyến cáo theo dõi áp lực nội sọ ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng. Propofol cải thiện chất lượng an thần và có thời gian hồi tỉnh ngắn. Nghiên cứu với mục đích so sánh kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não nặng được an thần bằng propofol với phương pháp kiểm soát nồng độ đích và truyền liên tục.

Trang 1

SO SÁNH KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG ĐƯỢC AN THẦN BẰNG PROPOFOL VỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT

NỒNG ĐỘ ĐÍCH VÀ TRUYỀN LIÊN TỤC

Phạm Văn Hiếu* Đặt vấn đề: Hiệp hội chấn thương sọ não khuyến cáo theo dõi áp lực nội sọ ở bệnh nhân chấn thương

sọ não nặng Propofol cải thiện chất lượng an thần và có thời gian hồi tỉnh ngắn Nghiên cứu với mục đích

so sánh kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não nặng được an thần bằng propofol với phương pháp kiểm soát nồng độ đích và truyền liên tục

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nghiên, đối chứng Gồm 72 bệnh

nhân chấn thương sọ não nặng có GCS 3 – 8 điểm, tuổi 16 – 65 được theo dõi áp lực nội sọ, chia ngẫu nhiên thành hai nhóm Mỗi nhóm 36 bệnh nhân Nhóm kiểm soát nồng độ đích (TCI) được truyền với nồng độ đích tại não 0,5 μg/ml, tăng 0,2 μg/ml mỗi 2 phút để SAS 1 – 3 và Chamorro 3 – 4 điểm Nhóm truyền liên tục (CI) tiêm bolus 0,5 mg/kg sau đó tiêm lặp lại ½ liều ban đầu mỗi hai phút để SAS 1 – 3 và Chamorro 3 – 4 điểm, duy trì với liều 1 – 4 mg/kg/giờ Thời gian an thần ≤ 72 giờ Tất cả bệnh nhân được nhận fentanyl

1 μg/kg, duy trì 0,5 – 1 μg/kg/giờ Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não nặng tại hồi sức

Kết quả: Tỉ lệ tử vong tại hồi sức cao hơn không có ý nghĩa ở nhóm CI 33,3% so với TCI 22,2% Tỉ lệ

tử vong tại hồi sức của hai nhóm 27,7%

Kết luận: Bệnh nhân chấn thương sọ não nặng có theo dõi áp lực nội sọ được an thần bằng propofol với

hai phương pháp CI và TCI, tỉ lệ tử vong tại hồi sức của hai phương pháp tương tự

Từ khóa: Chấn thương sọ não nặng, Áp lực nội sọ, Kiểm soát nồng độ đích, Propofol, An thần

ABSTRACT

COMPARASION OF OUTCOMES OF PATIENTS WITH SEVERE TRAUMATIC BRAIN INJURY SEDATED WITH TARGET CONTROLLED INFUSION AND CONVENTIONAL CONTINUOUS

INFUSION OF PROPOFOL

Pham Van Hieu *Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 3 - 2016: 135 - 139

Background: The Brain Trauma Foundation (BTF) has established guidelines for intracranial pressure

(ICP) monitoring in severe traumatic brain injury (TBI) Propofol has been associated with improved quality of sedation and faster recovery of consciousness on discontinuation of sedation This study was aimed to compare outcomes of patients in severe traumatic brain injury sedated with target controlled infusion and conventional continuous infusion of propofol

Methods: This was a randomized, controlled trial (RCT), seventy-two severe TBI patients with

Glasgow coma score (GCS) 3 – 8 and aged 16 – 65 were treated with intracranial pressure monitoring and sedated with propofol, randomized into two groups The TCI (target controlled infusion) group (n = 36) received propofol infusion using target controlled infusion The initial target concentration of the effective site of propofol was 0.5 μg/ml We adjusted to increase the target concentration 0.2 μg/ml every two minutes to achieve SAS (Sedation – Agitation Scale) 1 – 3 and Chamorro 3 – 4 The CI (conventional continuous infusion group) group (n = 36) received initial bolus 0.5 mg/kg, repeated ½ the first dose every

* Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bến Tre

Trang 2

two minutes to achieve SAS (Sedation – Agitation Scale) 1 – 3 and Chamorro 3 – 4 Then infusion rate was

1 – 4 mg/kg/hr The duration of sedation was ≤ 72 hours All patients in both groups were received fentanyl initial bolus 1 μg/kg, Then infusion rate was 0.5 – 1 μg/kg/hr Overall ICU mortality were recorded

Results: The rate of ICU mortality was not significantly higher in the CI group (33.3% vs 22.2%, p >

0.05) Overall ICU mortality of both groups is 27.7%

Conclusions: In patients with severe TBI treated with intracranial pressure monitoring, the rate of ICU mortality in TCI group is similar to CI group

Key words: Severe traumatic brain injury (TBI), intracranial pressure (ICP), TCI, propofol, sedation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng,

những can thiệp như đặt nội khí quản, thở

máy, phẫu thuật, các thủ thuật khác và tổn

thương do chấn thương là những nguyên

nhân gây đau Thuốc giảm đau họ morphin

như morphin, fentanyl, sufentanil và

remifentanil là những thuốc đầu tiên được sử

dụng nhằm giảm đau, an thần nhẹ và ức chế

phản xạ đường thở Sử dụng thuốc an thần

hợp lý làm tăng tác dụng giảm, chống lo âu,

hạn chế tăng áp lực nội sọ do kích thích, ho

hoặc đau, làm dễ chăm sóc điều dưỡng và thở

máy; giảm tiêu thụ oxy, giảm chuyển hóa não

và giảm CO2; cải thiện sự thoải mái của bệnh

nhân và ngăn chặn những cử động có hại của

bệnh nhân Một thuốc an thần lý tưởng cho

bệnh nhân chấn thương sọ não nặng là thuốc

có thời gian khởi phát tác dụng nhanh và hồi

tỉnh sớm, dễ chuẩn độ để đạt được hiệu quả

Thuốc có tác dụng chống động kinh, làm giảm

áp lực nội sọ và chuyển hóa cơ bản của não và

cho phép khám thần kinh và ít ảnh hưởng đến

tim mạch Hiện tại, chưa có thuốc an thần nào

có đủ các tính chất trên

Propofol là thuốc ngủ được chọn sử dụng

trong tổn thương thần kinh cấp tính vì dễ

chuẩn độ để đạt được hiệu quả và hồi tỉnh

sớm sau khi ngừng thuốc Những đặc tính này

cho phép tiên đoán thời gian an thần cho phép

thời kỳ đánh giá thần kinh Tuy nhiên

propofol có thể gây hạ huyết áp và hội chứng

truyền propofol

Những năm gần đây, với sự phát triển của

khoa học công nghệ đã cho ra đời máy bơm tiêm

có kiểm soát nồng độ đích (Target Controlled Infusion: TCI) Phương pháp này cho phép duy trì nồng độ thuốc ổn định trong huyết tương hoặc ở vị trí tác dụng Do đó, giảm được các giai đoạn quá liều hoặc thiếu liều thuốc, giảm tải công việc cho người thầy thuốc trong việc thay đổi lưu lượng truyền và tăng mức độ an toàn

Do vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu sau: So sánh kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não nặng được an thần bằng propofol với phương pháp kiểm soát nồng độ đích và truyền liên tục

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm lâm sàng có nhóm đối chứng

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (GCS

3 – 8 điểm), đã được phẫu thuật hoặc chưa phẫu thuật, tuổi từ 15 đến 65

Điều trị tại khoa Gây mê - Hồi sức Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre và khoa Hồi sức ngoại Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy trong tháng 10 năm 2011 đến tháng 03 năm 2014

Tiêu chuẩn không chọn bệnh

Bệnh nhân đang được sử dụng các thuốc như midazolam, thiopental, các thuốc dãn cơ

và morphine

Chống chỉ định với propofol

Có tiền sử bệnh thần kinh như tâm thần, động kinh, nghiện thuốc ngủ, thuốc phiện, nghiện rượu

Bị điếc hoặc chấn thương cơ quan thính giác và chết não

Trang 3

Thang điểm đánh giá và định nghĩa biến

số nghiên cứu chính

Thang điểm SAS (Sedation – Agitation

Scale)

catheter

quản

người, kích thích từng lúc

dàng, làm theo lệnh

đáp ứng khi lay gọi

thích đau, có thể có những cử động tự phát

không đáp ứng với những kích thích mạnh

Thang điểm Chamorro

Hoàn toàn thở theo máy liên tục

Thỉnh thoảng chống máy thở

Thường xuyên chống máy thở

2

1

0

Không hoặc nhịp tự thở phối hợp với máy thở

Thỉnh thoảng, nhịp tự thở chống lại máy thở

Thường xuyên, nhịp tự thở chống lại máy thở

2

1

0

Bảng điểm được tính là tổng số điểm ở

phần A và B

- 4 điểm: Mức độ an thần hiệu quả

- 3 điểm: Mức độ an thần chấp nhận đươc

- ≤ 2 điểm: Mức độ an thần không hiệu quả

Các bước tiến hành

Tất cả bệnh nhân được theo dõi áp lực sọ

não, điều trị chấn thương sọ não theo cùng

một phác đồ và được an thần theo hai nhóm:

Nhóm TCI (n=36): An thần với propofol có

kiểm soát nồng độ đích

- Nồng độ đích ban đầu 0,5 μg/ml, tăng 0,2

μg/ml mỗi hai phút cho đến khi đạt được độ

an thần theo thang điểm SAS từ 1 đến 3 và

Chamorro 3 – 4

Nhóm CI (n=36): An thần với propofol

truyền liên tục

- Tiêm propofol liều bolus 0,5 mg/kg, lặp lại ½ liều ban đầu sau mỗi hai phút cho đến khi đạt được độ an thần theo thang điểm SAS

từ 1 đến 3 Sau đó duy trì 1 – 4 mg/kg/giờ để duy trì độ an thần SAS từ 1 đến 3 và Chamorro 3 – 4

- Bệnh nhân hai nhóm được giảm đau fentanyl, liều bolus 1 μg/kg, duy trì 0,5 – 1 μg/kg/giờ để NCS-R (Nociception Coma Scale-Revised) ≤ 4 điểm

- Thời gian an thần tối đa bằng propofol 72 giờ, sau đó chuyển sang midazolam nếu có chỉ định

Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm thống kê Stata 12.0 Nếu các biến số là biến định lượng sẽ được kiểm định bằng t test Nếu các biến số là biến định tính sẽ được kiểm định bằng test chi bình phương χ2 hoặc Fisher’s exact test Các phép kiểm có giá trị p < 0,05 được xem là khác biệt

có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ

Bảng 1 Các đặc điểm chung

Biến số Nhóm CI

(n=36)

Nhóm TCI (n=36) p

Chiều cao (cm) 163,66 ± 7,13 162,72 ± 5,06 0,519

Nhận xét: Các đặc điểm chung của hai nhóm tương đồng nhau

Bảng 2 Tỉ lệ mở khí quản và tử vong tại hồi sức

Kết quả Nhóm CI

(n=36)

Nhóm TCI (n=36) Tổng p

Mở khí

0,58

6

(27,7)

0,29

3

Giá trị là số bệnh nhân (%)

Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân mở khí quản và

tử vong của hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Trang 4

Bảng 3 So sánh nhóm điểm GCS lúc bệnh nhân

rời phòng hồi sức

GCS Nhóm CI

(n=24)

Nhóm TCI (n=28)

Tổng

p

0,448

Giá trị là số bệnh nhân (%)

Nhận xét: Tỉ lệ phân nhóm bệnh nhân theo

điểm GCS ở hai nhóm nghiên cứu khác nhau

không có ý nghĩa thống kê

Bảng 4 Mối tương quan giữa GCS lúc vào viện

với tử vong

Kết quả GCS 3-5 GCS 6-8 OR p

Nhận xét: bệnh nhân có GCS lúc vào viện 3

– 5 điểm có tỉ lệ tử vong cao gấp 5,13 lần so với

bệnh nhân có GCS 6 – 8 điểm (p < 0,05)

Bảng 5 Mối tương quan giữa bệnh nhân có tăng

ALNS với tử vong

Kết quả ALNS ≥20 ALNS<20 OR p

20,45 < 0,001

Nhận xét: Bệnh nhân có ALNS ≥ 20 mmHg

có nguy cơ tử vong cao hơn 20,45 lần so với

các bệnh nhân có ALNS < 20 mmHg (sự khác

nhau có ý nghĩa thống kê, p < 0,001)

BÀN LUẬN

Bảng 2 cho thấy tỉ lệ mở khí quản ở nhóm

CI 22,2% và 27,8% ở nhóm TCI (p > 0,05) Chỉ

định mở khí quản trên các bệnh nhân trong

nghiên cứu của chúng tôi sau thời gian an

thần (khoảng 7 ngày từ khi được hồi sức)

Năm 2014, Dunham(3) và cộng sự đánh giá

hiệu quả mở khí quản sớm ở bệnh nhân CTSN

nặng Tác giả kết luận mở khí quản sớm

không giảm tỉ lệ viêm phổi do thở máy và

nguy cơ tử vong tăng lên khi mở khí quản

sớm Trái lại, nghiên cứu của Ahmed(1) so sánh

mở khí quản sớm (≤ 7 ngày) với mở khí quản

muộn (> 7 ngày) ở bệnh nhân CTSN nặng Kết quả nghiên cứu thể hiện mở khí quản sớm làm giảm thời gian nằm hồi sức Năm 2004, Arabi(2)

và cộng sự nghiên cứu 653 bệnh nhân tại đơn

vị hồi sức chấn thương Có 136 bệnh nhân được mở khí quản, trong đó 29 bệnh nhân mở khí quản sớm và 107 bệnh nhân mở khí quản muộn Kết quả nghiên cứu cho thấy mở khí quản ở bệnh nhân chấn thương làm rút ngắn thời gian thở máy và nằm ở hồi sức

Điểm GCS trung bình lúc nhập viện 6,05 ± 1,06 ở nhóm CI và 6,58 ± 1,53 ở nhóm TCI (bảng 1) Lúc rời phòng hồi sức có 5,77% bệnh nhân có GCS 3 – 5 điểm, 36,54% bệnh nhân có GCS 6 – 8 điểm, 50% bệnh nhân có GCS 9 – 12 điểm và 7,69% bệnh nhân có GCS 13 – 15 điểm

và GCS giữa hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (bảng 3) Kết quả trên cho thấy mức độ hồi phục chưa tốt, GCS trung bình lúc rời phòng hồi sức khoảng 8 – 9 điểm là 42,31% bệnh nhân có GCS ≤ 8 điểm và chỉ có 7,69% bệnh nhân có GCS 13 – 15 điểm (bảng 3) Điều này cho thấy CTSN nặng là bệnh lý phức tạp, khó điều trị Nghiên cứu của Lê Tùng Uyên(5)

gồm 101 bệnh nhân CTSN, GCS lúc vào viện: <

5 điểm (40,6%), 6 – 8 điểm (31,7%), 9 - 13 điểm (23,7%) và > 13 điểm (4%) Sau 48 giờ điều trị GCS cải thiện < 5 điểm (30,7%), 6 – 8 điểm (29,7%), 9 - 13 điểm (24,8%) và > 13 điểm (14,8%) Kết quả nghiên cứu này cho thấy bệnh nhân có GCS thấp có tỉ lệ cải thiện thấp Nghiên cứu của chúng tôi, sau thời gian hồi sức bệnh nhân có GCS 13 – 15 điểm thấp hơn của tác giả nêu trên (7,69% so với 14,8%) Lý

do tất cả bệnh nhân của chúng tôi có CTSN nặng với GCS 3 – 8 điểm

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tử vong của hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê Tỉ lệ tử vong chung của hai nhóm trong thời gian điều trị tại hồi sức là 27,7% (bảng 2) CTSN nặng có tỉ lệ tử vong còn cao Nghiên cứu của Trần Quốc Việt(10) có tỉ lệ tử vong và sống thực vật 56% ở nhóm bệnh nhân

có hạ HA và 20% ở nhóm bệnh nhân có HA

Trang 5

bình thường Năm 2013, Talving(9) và cộng sự

so sánh kết quả điều trị có hoặc không theo

dõi ALNS ở bệnh nhân CTSN nặng Kết quả

cho thấy nhóm theo dõi ALNS có tỉ lệ tử vong

thấp hơn (32,7% so với 53,9%) Tương tự

Farahvar(4), (2012) so sánh kết quả điều trị có

hoặc không theo dõi ALNS ở bệnh nhân CTSN

nặng Tỉ lệ tử vong sau 2 tuần điều trị ở nhóm

không theo dõi ALNS là 33,2% và 19,2% ở

nhóm có theo dõi ALNS Rocksword(8) (2007)

và cộng sự đánh giá kết quả điều trị của NaCl

23,4% ở 25 bệnh nhân CTSN nặng Kết quả

nghiên cứu cho thấy có 28% tử vong sau 6

tháng chấn thương Maurizt(6) (2007) và cộng

sự đánh giá kết quả điều trị CTSN nặng tại

Australia, tỉ lệ tử vong tại hồi sức 30,8%, tỉ lệ

tử vong 90 ngày 35,7% Tỉ lệ tử vong của

chúng tôi thấp hơn các tác giả trên vì nghiên

cứu chỉ thống kê trong thời gian hồi sức

Đánh giá mối liên quan giữa điểm GCS với

tử vong Bảng 4 cho thấy bệnh nhân có GCS 3

– 5 điểm có nguy cơ chết gấp 5,13 lần bệnh

nhân có GCS 6 – 8 điểm (p < 0,05) Bệnh nhân

có biểu hiện tăng ALNS ≥ 20 mmHg có nguy

cơ tử vong gấp 20,45 lần bệnh nhân có ALNS <

20 mmHg (bảng 5) Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu

của Nguyễn Ngọc Anh(1) (có OR = 20)

KẾT LUẬN

Bệnh nhân chấn thương sọ não nặng có

theo dõi áp lực nội sọ được an thần bằng

propofol với hai phương pháp CI và TCI, tỉ lệ

tử vong tại hồi sức của hai phương pháp

tương tự

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahmed N, Kuo YH (2007), Early versus late tracheostomy

in patients with severe traumatic head injury Surg Infect

(Larchmt), 8 (3), 343-7

2 Arabi Y, Haddad S, Shirawi N, Al Shimemeri A (2004), Early tracheostomy in intensive care trauma patients improves resource utilization: a cohort study and

literature review Crit Care, 8 (5), R347-52

3 Dunham CM, Cutrona AF, Gruber BS, et al (2014), Early tracheostomy in severe traumatic brain injury: evidence for decreased mechanical ventilation and increased

hospital mortality Int J Burns Trauma, 4 (1), 14-24

4 Farahvar A, Gerber LM, Chiu YL, et al (2012), Increased mortality in patients with severe traumatic brain injury

treated without intracranial pressure monitoring J

Neurosurg, 117 (4), 729-34

5 Lê Hoàng Tùng Uyên, Trần Quang Vinh (2010), Tiên lượng chấn thương sọ não trong 48 giờ đầu bằng thang

điểm Glasgow Y Học TP Hồ Chí Minh, 14 (2), 639-642

6 Mauritz W., Janciak I., Wilbacher I., Rusnak M (2007), Severe traumatic brain injury in Austria IV: intensive care

management Wien Klin Wochenschr, 119 (1-2), 46-55

7 Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Thị Huệ (2011), Đánh giá hiệu quả chống phù não trên bệnh nhân chấn thương sọ

não nặng đươc theo dõi áp lực trong sọ Y Học TP Hồ Chí

Minh, 15 (3), 57-64

8 Rockswold GL, Solid CA, Paredes-Andrade E, et al (2009), Hypertonic saline and its effect on intracranial pressure,

cerebral perfusion pressure, and brain tissue oxygen

Neurosurgery, 65 (6), 1035-41; discussion 1041-2

9 Talving P, Karamanos E, Teixeira PG, et al (2013), Intracranial pressure monitoring in severe head injury: compliance with Brain Trauma Foundation guidelines

and effect on outcomes: a prospective study J Neurosurg,

119 (5), 1248-54

10 Trần Quốc Việt, Nguyễn Văn Chừng (2005), Ảnh hường của hạ huyết áp động mạch đến tiên lượng bệnh nhân bị

chấn thương sọ não nặng Y Học TP Hồ Chí Minh, 9 (1),

101-105

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 28/04/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 01:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w