1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm chuẩn mô mềm mặt của người Việt trong phân tích sơ đồ lưới

8 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 409,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích sơ đồ lưới nhằm khảo sát đặc điểm của mô mềm mặt và qua đó bước đầu thiết lập sơ đồ lưới chuẩn cho mẫu người Việt Nam.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CHUẨN MÔ MỀM MẶT CỦA NGƯỜI VIỆT

TRONG PHÂN TÍCH SƠ ĐỒ LƯỚI

Lữ Minh Lộc*, Ngô Thị Quỳnh Lan**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích sơ đồ lưới nhằm khảo sát đặc điểm của mô mềm mặt

và qua đó bước đầu thiết lập sơ đồ lưới chuẩn cho mẫu người Việt Nam

Đối tượng và phương pháp: Phim sọ nghiêng của 144 đối tượng (61 nam và 83 nữ, từ 16 đến 25 tuổi)

được chọn lựa Sơ đồ lưới được xây dựng dựa trên phim sọ nghiêng định vị theo tư thế đầu tự nhiên, và tùy thuộc vào chiều cao tầng mặt trên và chiều dài nền sọ trước của mỗi đối tượng Xác định và đo đạc giá trị tọa độ

và vị trí tỉ lệ của mỗi điểm chuẩn trong hệ trục tọa độ bằng phần mềm AutoCAD 2010 Qua đó thiết lập sơ đồ lưới chuẩn theo từng giới Kiểm định T cho 2 mẫu độc lập được sử dụng để so sánh dữ liệu theo giới

Kết quả: Nghiên cứu cho thấy các điểm chuẩn trên mô mềm đều khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và

nữ, ngoại trừ 2 điểm Nasion và Supramentale Độ nhô mũi, độ nhô hai môi và độ dày cằm của nam đều lớn hơn

nữ

Kết luận: Do đặc điểm mô mềm mặt khác nhau giữa nam và nữ, cho nên việc xây dựng sơ đồ lưới cho riêng

từng giới có thể cung cấp một hướng dẫn có giá trị trong việc chẩn đoán và lập kế hoạch chỉnh hình

Từ khóa: Phim sọ nghiêng, sơ đồ lưới, vị trí đầu tự nhiên

ABSTRACT

MESH DIAGRAM ANALYSIS OF SOFT TISSUE FACIAL NORMS FOR VIETNAMESES

Lu Minh Loc, Ngo Thi Quynh Lan * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 30 - 37

Objectives: The purposes of this study were to investigate the characteristics of soft-tissue facial profile and

to establish a standard mesh diagram representing Vietnamese population using mesh analysis

Materials and methods: Lateral cephalometric radiographs of 144 subjects (61 males and 83 females, aged

between 16 to 25 years-old) were selected The mesh diagram is constructed on the cephalometric radiograph oriented in the natural head position due to the individual upper facial height and anterior cranial base The mean and proportionate location of each landmark in coordinate system were plotted and measured with AutoCAD

2010 software Normal diagrams were then constructed for both genders To compare data between males and females, a Student’s independent t-test was used

Results: All of the soft tissue landmarks displayed statistically significant gender differences, except for

Nasion and Supramentale position The nose prominence, bilabial protrusion, and chin thickness were greater in males than females

Conclusion: Our findings show the significant gender differences in soft tissue profile Therefore, the

construction of Vietnamese mesh diagram for each gender can possibly provide a valuable guide for the orthodontic diagnosis and treatment planning

Keywords: Cephalometric radiograph, Mesh diagram, natural head position

*Bộ môn CHRM, Khoa Răng Hàm Mặt, ĐH Y Dược, TP Hồ Chí Minh

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quan niệm về nét mặt đẹp hay hài hòa phụ

thuộc vào nhận định riêng của từng cá nhân,

mang tính chủ quan và thay đổi theo không gian

và thời gian Aristote đã đưa ra triết lý về bản

chất vẻ đẹp Ông cho rằng khuôn mặt đẹp phải

tuân theo những qui luật về hình học và tỉ lệ

nhất định(8)

Người Ai cập cổ đại đã dùng những đường

kẽ ô tạo thành lưới gồm những ô vuông bằng

nhau bao quanh hình ảnh của một người để đảm

bảo các bộ phận vẽ đúng theo một tỉ lệ, Moorrees

đã sử dụng phép biến đổi của sơ đồ lưới để

chuyển đổi những thông tin thiết yếu của hệ

thống sọ-mặt-răng dưới dạng sơ đồ(6) Đây là một

phân tích tỉ lệ trên một hệ trục tọa độ, giúp trình

bày sự sai lệch của hình thái khuôn mặt dưới

dạng sơ đồ Leonardo da Vinci khuyên nên chọn

lựa và đo đạc các khuôn mặt đẹp để tìm ra

những tỉ lệ lý tưởng(9) Ông cũng nhấn mạnh

rằng vẽ đẹp này nên được xác nhận bởi công

chúng hơn là phán xét riêng của người làm nghệ

thuật Để có thể áp dụng phân tích sơ đồ lưới

vào chẩn đoán chỉnh hình răng mặt tại Việt

Nam, chúng ta phải thiết lập được một lưới

chuẩn trên nhóm người Việt có nét mặt bình

thường, hay nói cách khác là vẽ được một lưới

chuẩn nét mặt bình thường của một cá thể thông

qua mối liên hệ tỉ lệ giữa các thành phần của

khuôn mặt Bằng phương pháp chồng hình ảnh

được thiết lập bình thường từ một cá nhân lên

hình ảnh hiện tại của cá nhân đó, phân tích sơ đồ

lưới giúp đưa ra đánh giá thẩm mỹ trên phim

phù hợp với những phán xét trên lâm sàng

Vì vậy để hỗ trợ cho việc đánh giá sự hài

hòa của nét mặt nhìn nghiêng, trong nghiên

cứu này chúng tôi sử dụng phân tích sơ đồ

lưới với mục tiêu: (1) khảo sát và so sánh đặc

điểm mô mềm mặt nhìn nghiêng của người

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu gồm phim sọ nghiêng của

144 đối tượng (61 nam và 83 nữ) từ 16-25 tuổi Bao gồm các đối tượng có gương mặt hài hòa trong nghiên cứu của Hồ Thị Thùy Trang (1999), phim của các đối tượng là các học sinh thuộc nguồn hồ sơ lưu trữ của nhóm nghiên cứu tham gia chương trình “Theo dõi và chăm sóc răng miệng đặc biệt trong 15 năm (1996-2010)” do Bộ

Y tế quản lý, được thực hiện tại Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP.HCM và các phim sọ nghiêng chẩn đoán thường quy của bệnh nhân đến khám và điều trị chỉnh hình tại khu điều trị thuộc Khoa Răng Hàm Mặt, ĐH Y Dược TP.HCM

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Ông bà, cha mẹ là người Việt Nam, dân tộc Kinh

Tuổi từ 16 đến 25 (giai đoạn tuổi xương xác định theo đốt sống cổ từ giai đoạn CS6 trở lên)(3) Không có tiền sử điều trị chỉnh hình răng mặt

Không có dị dạng hàm mặt

Tương quan xương hàm và răng hạng I Mức độ chen chúc, thiếu chỗ: ≤4mm Nét mặt nhìn nghiêng chấp nhận được (môi trên: -0,9 ± 1,63 mm và môi dưới: 0,83 ± 1,56 mm

so với đường thẩm mỹ E khi đánh giá qua phim

sọ nghiêng)(2)

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả và phân tích

Phương pháp đo đạc trên phim

Kỹ thuật chụp phim

Các đối tượng nghiên cứu được chụp phim theo mặt phẳng tham chiếu Frankfort

Trang 3

Các phim đạt yêu cầu nghiên cứu được vẽ

nét và scan vào máy vi tính  Chuẩn hóa hình

ảnh đã được scan theo tỉ lệ 1/1 so với bản vẽ nét

Để chuyển đổi từ mặt phẳng Frankfort thành

mặt phẳng đầu tự nhiên, áp dụng công thức(5):

Na’Sn-mp đầu tự nhiên=0,665×Na’Sn-mp

Frankfort – 0,347×Pog’Pn-mp Frankfort+55,488

Xác định các điểm mốc trên mô mềm

Điểm Gla’ (Glabella mô mềm): điểm nhô ra

nhất của mô mềm trán

Điểm Na’ (Nasion mô mềm): điểm sau nhất

của mô mềm vùng khớp trán-mũi theo mặt

phẳng dọc giữa

Điểm Pr (Pronasale): điểm trước nhất trên

đỉnh mũi

Điểm Sn (Subnasale): điểm giao nhau ngay

dưới chân mũi và môi trên trên mặt phẳng dọc

giữa

Điểm Ls (Labrale superius): điểm nhô trước

nhất của đường viền môi trên trên mặt phẳng

dọc giữa

Điểm Sto (Stomion): rãnh giữa môi trên và

môi dưới

Điểm Li (Labrale inferius): điểm nhô trước

nhất của đường viền môi dưới trên mặt phẳng

dọc giữa

Điểm Supm (supramentale): rãnh môi cằm

Điểm Pog’ (Pogonion mô mềm): điểm trước

nhất của mô mềm vùng cằm trên mặt phẳng dọc

giữa

Thiết lập sơ đồ lưới(1,6)

Chiều cao tầng mặt trên (Na-ANS) và chiều

dài nền sọ trước (Na-S) được dùng để xác định

tứ giác “lõi” trong sơ đồ lưới Na được xem là

điểm chuẩn chính trong sơ đồ này:

Tứ giác “lõi” gồm:

Đường thẳng đứng thứ nhất đi qua Na

(đường thẳng này vuông góc với mặt phẳng Frankfort hoặc mặt phẳng ngang thật sự)

Đường ngang thứ nhất đi qua Na (đường này vuông góc với đường (1))

Đường ngang thứ hai đi qua ANS và song song với đường (2)

Đường thẳng đứng thứ hai song song với đường (1) đi qua S’ (S’ được xác định với khoảng cách NS’=NS)

Tứ giác “lõi” có 4 cạnh: cạnh ngang và cạnh đứng được chia thành hai phần bằng nhau Kích thước của ½ cạnh ngang là a và ½ cạnh đứng là b

Từ tứ giác “lõi”, vẽ một đường thẳng đứng phía trước và một đường thẳng đứng phía sau

tứ giác với khoảng cách là a; vẽ một đường ngang phía trên và ba đường ngang phía dưới tứ giác với khoảng cách là b Như vậy sơ đồ lưới gồm có 5 đường thẳng đứng đánh số từ 1-5 và 7 đường ngang đánh theo thứ tự A, B, C, D, E, F,

G, và khối sọ-mặt sẽ được nằm trong một sơ đồ lưới gồm 24 ô hình chữ nhật bằng nhau (hình 1) một hệ thống lưới được phát triển để bao quanh các thành phần của hệ thống sọ mặt và từ

đó thiết lập một hệ trục tọa độ theo hai chiều trong không gian

Chọn góc tọa độ là góc trên bên phải của từng ô chữ nhật nhỏ trong sơ đồ lưới (để thuận tiện cho việc đo đạc) Xác định tọa độ các điểm mốc trong hệ trục tọa độ nhỏ này (gồm hai giá trị hoành độ và tung độ) bằng cách chiếu vuông góc lên hai cạnh góc vuông của hình chữ nhật nhỏ Giá trị điểm mốc được tính theo tỉ lệ các cạnh của hình chữ nhật nhỏ

Sử dụng kiểm định Student T-test trong SPSS 16.0 để so sánh giá trị tọa độ và vị trí tỉ lệ của các điểm mốc trên mô mềm giữa nam và nữ Khác biệt có ý nghĩa khi p<0,05

Trang 4

Hình 1 Sơ đồ lưới gồm 24 ô chữ nhật bằng nhau Điểm Pn có giá trị (X%, Y%) trong hệ trục tọa độ là hai cạnh

góc vuông của hình chữ nhật có chứa điểm Pn (4)

KẾT QUẢ

Kích thước sơ đồ lưới theo trục tọa độ xy

Bảng 1 Tọa độ và tỉ lệ trục hoành và trục tung của sơ đồ lưới theo giới

Trong hình chữ nhật lõi để xây dựng sơ đồ

lưới, độ dài trung bình trục hoành (33,88 ± 2,08),

trục tung (27,62 ± 1,72), , tuy nhiên có sự khác

biệt rất có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ

người Việt (p<0,001)

Tọa độ và tỉ lệ các điểm chuẩn thuộc mô mềm

theo trục tọa độ xy của sơ đồ lưới

Vị trí từng điểm chuẩn thuộc mô mềm

được xác định bằng giá trị tọa độ trung bình

(tính theo mm với gốc tọa độ chung) và giá trị

tỉ lệ (tính theo tỉ lệ với gốc tọa độ là góc trên phải) Tọa độ các điểm tham chiếu mô mềm thuộc tầng mặt trên không có sự khác biệt có ý nghĩa theo trục hoành giữa nam và nữ người Việt Tuy nhiên có sự khác biệt rất cóp ý nghĩa thống kê giữa hai giới khi xét trên trục tung của các hình chữ nhật chứa vị trí các điểm này

Bảng 3 Tọa độ và tỉ lệ điểm thuộc tầng mặt giữa theo giới

Trang 5

Bảng 4 Tọa độ và tỉ lệ điểm thuộc tầng mặt dưới theo giới

Subnasale

Labrale superior

Stomion

Labrale inferior

Supramentale

Pogion

Vị trí điểm Subnasale không có sự khác biệt

về mặt tọa độ trên trục tung và trục hoành theo

giới Tuy nhiên, khi đánh giá theo tỉ lệ, có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,5) theo hoành

độ của điểm tham chiếu này

Vị trí điểm tham chiếu Labrale superior và

Stomion thuộc môi trên theo giới: không có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê theo tọa độ trên

trục hoành, nhưng có sư khác biệt có ý nghĩa

theo tọa độ trên trục tung (p<0,01) Ngược lại,

khi xét về mặt tỉ lệ, cả hai điểm tham chiếu trên

đều có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,5)

khi đánh giá theo hoành độ và không có sự khác

biệt có ý nghĩa khi đánh giá theo tung độ

Vị trí các điểm tham chiếu trên mô mềm môi

dưới gồm Labrale inferior, Supramentale,

Pogion Chỉ duy nhất điểm tham chiếu

Supramentale không có sự khác biệt theo giới

khi đánh giá theo tọa độ hay tỉ lệ Hoành độ của

điểm Labrale inferior và Pogion không có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê về mặt tọa độ nhưng khi đánh giá theo tỉ lệ thì hoàn toàn ngược lại Tung độ của hai điểm tham chiếu này, không có sự khác biệt có ý nghĩa theo tung độ và hoành độ

BÀN LUẬN

Kích thước hình chữ nhật nhỏ trong sơ đồ lưới của nam có chiều ngang (trục x) và chiều cao (trục y) đều lớn hơn nữ (p<0,001), hay nói cách khác khối sọ mặt của nam có kích thước lớn hơn nữ cả về chiều cao lẫn chiều trước sau Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trên người Việt cũng như với sự khác biệt về tổng thể khuôn mặt giữa hai giới

Khi xét về tỉ lệ giữa chiều cao (y) và chiều ngang (x) của sơ đồ lưới, chúng tôi ghi nhận có

sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai giới (p<0,05) Kết quả này đại diện cho mối tương quan giữa chiều cao tầng mặt trên và chiều dài nền sọ trước, hay

Trang 6

chúng ta có thể lý giải nam có khuôn mặt tuy là

dài hơn nhưng nhìn chung lại ít sâu hơn nữ

Kết quả từ bảng 2 cho thấy không có sự khác

biệt về hoành độ điểm Glabella (trục x) giữa hai

giới cả về giá trị tọa độ lẫn tỉ lệ (p>0,05), nghĩa là

độ nhô trán của nam và nữ như nhau Tuy nhiên,

sự khác biệt có ý nghĩa lại tìm thấy ở tung độ

(trục y) điểm Glabella, trong đó nam cao hơn nữ

hay điểm nhô nhất của trán nữ có vị trí cao hơn

trán nam (p<0,001)

Vị trí điểm Nasion trên trục x, y không khác

biệt giữa nam và nữ cả về giá trị tọa độ và tỉ lệ

(p>0,05) Do đó, khi xét trên nét mặt nhìn

nghiêng thì điểm Nasion được xem là vị trí vững

ổn của mô mềm trong sơ đồ lưới

Một điểm khác biệt đáng kể trên mô mềm

giữa hai giới là vi trí điểm Pronasale Giá trị

hoành độ của điểm Pronasale ở nữ lớn hơn nam

có ý nghĩa thống kê cả về tọa độ và tỉ lệ, hay nói

cách khác mũi của nam có khuynh hướng nhô ra

trước nhiều hơn nữ (p<0,05) Ngược lại, giá trị

tung độ của điểm Pronasale ở nữ lại nhỏ hơn của

nam về tọa độ nghĩa là mũi nam dài hơn mũi nữ

(p<0,01) Tuy nhiên, khi so sánh giá trị tỉ lệ của

tung độ ta thấy khác biệt không có ý nghĩa

(p>0,05), hay nói cách khác mũi chiếm tỉ lệ bằng

nhau trên tổng thể khuôn mặt giữa nam và nữ

Như vậy khi đánh giá dựa trên giá tri tọa độ,

mũi nam lớn hơn mũi nữ theo chiều cao và chiều

trước sau Điều này không hoàn toàn đúng khi

đánh giá dựa trên giá trị tỉ lệ, khác biệt chỉ xảy ra

ở chiều trước sau, nghĩa là vị trí đỉnh mũi của

nam nhô ra trước nhiều hơn nữ

Nếu đánh giá dựa vào giá trị tọa độ, vị trí

điểm Subnasale trên mô mềm không khác biệt

giữa hai giới (p>0,05) Tuy nhiên khi xem xét về

tỉ lệ, giá trị hoành độ của điểm Subnasale ở nam

thấp hơn nữ có ý nghĩa thống kê (p<0,05), điều

này cho thấy rằng chân mũi của nữ lùi vào sâu

hơn nam Kết hợp với các giá trị điểm Pronasale

Labrale superior (Ls) không khác biệt giữa hai giới, nhưng giá trị tung độ của nam lại lớn hơn

nữ có ý nghĩa thống kê (p<0,01), kết quả này cho thấy môi trên của nam dài hơn nữ Tuy nhiên, khi xét theo giá trị tỉ lệ thì kết quả hoàn toàn ngược lại Hoành độ điểm Ls của nam thấp hơn

nữ có ý nghĩa (p<0,05) phản ánh môi trên của nam nhô ra trước hơn so với nữ, thế nhưng chiều dài môi trên như nhau giữa hai giới khi so sánh với 1/2 chiều cao tầng mặt trên Tỉ lệ tung

độ Ls bằng 0,69 trong lưới chữ nhật, giống nhau

ở cả 2 giới, có thể ứng dụng trong việc đánh giá hay thiết lập lại vị trí môi trên cho hài hòa với tổng thể chiều dài khuôn mặt

Giá trị tọa độ của điểm Stomion (Sto) không khác biệt trên trục hoành, nhưng lại khác biệt có

ý nghĩa trên trục tung giữa 2 giới (p<0,001) Điều này chứng tỏ môi trên của nam dài hơn nữ Tuy nhiên, khi xét theo giá trị tỉ lệ thì kết quả hoàn toàn ngược lại Môi trên của nam nhô ra trước hơn so với nữ (p<0,05), nhưng chiều dài môi trên

có tỉ lệ tương đương nhau ở cả nam và nữ khi so sánh với chiều cao tầng mặt trên Tỉ lệ 0,98 giống

ở cả nam và nữ, kết hợp với tỉ lệ 0,69 của điểm Ls giúp ta có thể kết luận tỉ lệ độ dầy môi trên giữa nam và nữ là như nhau và bằng 0,29 (do điểm Ls

và Sto cùng một hệ trục tọa độ)

Giá trị tọa độ điểm Labrale inferior (Li) trên hệ trục tọa độ là như nhau giữa nam và

nữ (p>0,05) Tuy nhiên xét về mặt giá trị tỉ lệ, chúng tôi tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hoành độ giữa nam và nữ (p<0,05), nghĩa là vị trí môi dưới của nam nhô ra trước nhiều hơn nữ Kết hợp kết quả tọa độ hai điểm Sto và Li, chúng ta thấy tỉ lệ độ dầy môi dưới của nữ lớn hơn nam nhưng hoàn toàn không

có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Giá trị tọa độ và tỉ lệ của điểm Supramentale gần như tương đương nhau giữa nam và nữ trong phân tích sơ đồ lưới

Trang 7

Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về giá trị tọa độ giữa nam và nữ

tại vị trí Pog’ (p>0,05) Tuy nhiên khi xét về mặt tỉ

lệ giá trị hoành độ điểm Pog’ khác biệt ở cả hai

giới (p<0,05), hay nói cách khác vị trí nhô ra nhất

của cằm ở nam nhô ra trước so với nữ khi xét

tổng thể khuôn mặt

Dựa vào kết quả các giá trị tỉ lệ của từng

điểm chuẩn thuộc mô mềm, sơ đồ của nam và

nữ được thiết lập trên cùng một lưới phân tích

Khi so sánh theo chiều ngang hay chiều

trước-sau, nét mặt nhìn nghiêng của nam nhô ra trước

hơn so với nữ ở tầng mặt giữa và tầng mặt dưới

Tuy nhiên khi so sánh theo chiều đứng, vị trí các

điểm tham chiếu gần như tương đương nhau

giữa nam và nữ (ngoại trừ điểm Gla) Như vậy,

nét mặt của nam không phải là hình ảnh tịnh

tiến tới trước của nét mặt nữ người Việt

Thiết lập sơ đồ lưới chuẩn cho mẫu người Việt

(nam và nữ)

Hình 2 Sơ đồ lưới chuẩn của người Việt theo giới

Mặc dù có sự khác biệt trong việc chọn gốc

tọa độ khi đo vị trí các điểm mốc trong sơ đồ lưới

(gốc tọa độ là gốc dưới phải của hình chữ nhật

lớn), nhưng kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc(7) vẫn cho hình ảnh nét mặt nhìn nghiêng của nam và nữ người Việt giống nghiên cứu của chúng tôi Đây là ưu điểm của nghiên cứu tỉ lệ Tuy nhiên, với hệ trục tọa độ nhỏ, chúng ta có thể khảo sát chi tiết sự biến thiên của

các điểm mốc dễ dàng hơn

KẾT LUẬN

Đánh giá mức độ hài hòa của khuôn mặt là đánh giá tổng thể, và luôn cần phải xét mối tương quan giữa các thành phần cấu thành nên khối so-mặt Qua kết quả phân tích trên sơ đồ lưới, chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa phân tích các số đo và tỉ lệ để đánh giá mức độ hài hòa giữa các thành phần của mô mềm trên khuôn mặt Vị trí điểm Pr để đánh giá độ nhô và chiều dài của mũi có sự khác biệt khi sử dụng phân tích tỉ lệ và số đo Tương tự tại các vị trí trên trục

X, các điểm Sn, Ls, M, Li, Pog’ các số đo kích thước không có sự khác biệt giữa nam và nữ, tuy nhiên có sự khác biệt có ý nghĩa ở các số đo tỉ lệ Ngược lại trên trục Y, vị trí các điểm Ls, M các số

đo kích thước có sự khác biệt nhưng các số đo tỉ

lệ thì không Do đó, sử dụng các số đo để đánh giá mức độ hài hòa giữa các thành phần khuôn mặt đôi khi không chính xác Bằng sơ đồ lưới, chúng ta có thiết lập được mối tương quan tỉ lệ giữa các điểm tham chiếu trên mô mềm Từ đó giúp cho việc đánh giá mức độ hài hòa của các thành phần khuôn mặt dễ dàng hơn

Qua phân tích sơ đồ lưới trên mô mềm của nhóm người Việt Nam có nét mặt bình thường,

ta nhận thấy có sự khác biệt về hình ảnh mô mềm giữa nam và nữ người Việt trên phân tích

sơ đồ lưới, hay nói cách khác chúng ta phải sử dụng các lưới chuẩn riêng cho nam và nữ khi đánh giá mức độ hài hòa của khuôn mặt cá thể người Việt qua phim sọ nghiêng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ghafari J (1987) “Modified use of the Moorrees mesh diagram

analysis”, Am J Orthod Dentofacial Orthop, 91, pp.475-482

2 Hồ Thị Thùy Trang, Hoàng Tử Hùng (2000) “Những đặc trưng của khuôn mặt hài hòa qua ảnh chụp và phim sọ

Trang 8

nghiêng: nghiên cứu trên sinh viên ĐH Y Dược TP.HCM”,Tạp

chí Y học TP.HCM, tập 4

3 Hồ Thị Thùy Trang, Hoàng Tử Hùng (2013) “Xác định giai

đoạn trưởng thành xương đốt sống cổ bằng phương pháp

định lượng: nghiên cứu trên phim sọ nghiêng độ tuổi 7-18

tuổi”,Tạp chí Y học TP.HCM, tập 17 (2), tr.223-229

4 Jacobson A (1995) “Radiographic Cephalometry from basics to

videoimaging” By Quintessence Publising Co, Inc, pp.175-215

5 Lữ Minh Lộc, Ngô Thị Quỳnh Lan (2015) “Khảo sát mối

tương quan giữa hai mặt phẳng đầu tự nhiên và Frankfort

trong phân tích sơ đồ lưới” Tạp chí Y học TP.HCM, tập 19 (2),

tr.316-324

6 Moorees CFA, Lebret L (1962) “The mesh diagram and

cephalometrics” The Angle Orthodontics, 32, pp.214-231

sơ đồ lưới trên người việt nam trưởng thành” Tạp chí Y học

TP.HCM, tập 18 (2), tr.14-22

8 Naini FB, Moss JP, Gill DS (2006) “The enigma of facial beauty: Esthetics, proportions, deformity, and controversy”,

Am J Orthod Dentofacial Orthop, 130, pp 227-82

9 Peck S, Peck L (1970) “A concept of facial esthetics”, The Angle

Orthodontics, 40, pp.284-318

Ngày đăng: 15/01/2020, 01:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w