1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật cắt đại tràng chậu hông ‐ trực tràng ngã đáy chậu điều trị sa trực tràng

7 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 296,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đánh giá kết quả sớm cắt đoạn đại tràng chậu hông và trực tràng qua ngã đáy chậu cho những bệnh nhân sa trực tràng có hay không có sa nghẹt.

Trang 1

PHẪU THUẬT CẮT ĐẠI TRÀNG CHẬU HÔNG ‐ TRỰC TRÀNG

NGÃ ĐÁY CHẬU ĐIỀU TRỊ SA TRỰC TRÀNG

Nguyễn Thanh Phong*, Đỗ Bá Hùng*

TÓM TẮT

Mở đầu: Sa trực tràng là bệnh thường gặp ở khoa hậu môn trực tràng Phẫu thuật cắt đại tràng chậu hông -

trực tràng ngã đáy chậu (phẫu thuật Altemeier) thường dùng cho bệnh nhân lớn tuổi, nhiều nguy cơ, có tỉ lệ tái phát chấp nhận được, tỉ lệ biến chứng và tử vong thấp, không ảnh hưởng chức năng ruột sau mổ

Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá kết quả sớm cắt đoạn đại tràng chậu hông và trực tràng qua ngã đáy chậu

cho những bệnh nhân sa trực tràng có hay không có sa nghẹt

Đối tượng - Phương pháp: hồi cứu các trường hợp sa toàn bộ trực tràng được cắt đoạn đại tràng chậu hông

và trực tràng qua ngã đáy chậu tại đơn vị hậu môn - trực tràng bệnh viện Bình Dân từ tháng 1/2015 đến tháng 9/2017, bao gồm tỉ lệ tai biến, biến chứng, chức năng hậu môn trực tràng và tỉ lệ tái phát

Kết quả: Có 19 bệnh nhân bao gồm 13 nữ và 6 nam, tuổi trung bình 67,5 (thay đổi từ 33 đến 94 tuổi) Tất cả

đều nhập viện vì khối sa ở hậu môn khi đi tiêu (100%), trong đó có 4 (21,1%) trường hợp sa nghẹt, tiêu máu 5 (26,3%) trường hợp, táo bón 10 (52,6%) trường hợp và 1 (5,3%) trường hợp tiêu không tự chủ Nội soi hậu môn trực tràng phát hiện 9 (47,4%) trường hợp viêm loét, hoại tử niêm mạc trực tràng, có 1 (5,3%) trường hợp chần đoán lầm với trĩ hỗn hợp độ 4 Chiều dài đoạn trực tràng cắt bỏ trung bình 10,9cm (thay đổi từ 3 đến 30cm) Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 4,8 ngày (thay đổi từ 1 đến 10 ngày) Có 1 (5,3%) trường hợp tái phát, có 1 (5,3%) trường hợp rỉ dịch hậu môn sau phẫu thuật và không có tử vong Tỉ lệ mổ thành công 94,7% và bệnh nhân hài lòng 100% Thời gian theo dõi sau mổ trung bình 3,8 tháng (thay đổi từ 2 đến 6 tháng)

Kết luận: Phẫu thuật cắt đại tràng chậu hông - trực tràng ngã đáy chậu (phẫu thuật Altemeier) điều trị sa

trực tràng là phẫu thuật an toàn, hiệu quả, tỉ lệ biến chứng sau mổ thấp và không có tử vong Tỉ lệ tái phát ngắn hạn sau mổ thấp và không liên quan đến chiều dài đoạn trực tràng cắt bỏ

Từ khóa: Phẫu thuật Altemeier, cắt đoạn đại tràng chậu hông và trực tràng qua ngã đáy chậu, sa trực tràng

ABSTRACT

PERINEAL RECTOSIGMOIDECTOMY FOR RECTAL PROLAPSE

Nguyen Thanh Phong, Do Ba Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 189 - 195

Background: Rectal prolapse is a common occurrence in proctology department Altemeier’s procedure

(perineal rectosigmoidectomy) is the operation of choice for rectal prolapse in the elderly with high risks, the acceptable recurrence, lower mortality and morbidity with unaffected to functional bowel

The aim of the study: to evaluate the early results of the rectosigmoidectomy with perineal approach for

treatment of total rectal prolapse with or without strangulated prolapse

Methods: Having retrospectively studied of all patients undergoing Altemeier’s procedure which regard to

mortality, morbidity, anorectal function and recurrence rate, was treated in proctology unit at Binh Dan hospital from January 2015 to September 2017

* Bệnh viện Bình Dân

Tác giả liên lạc: PGS.Nguyễn Thanh Phong ĐT: 0901441266 Email:phongy89@yahoo.com

Trang 2

Results: There were 19 patients including 13 females and 6 males with the mean age of 67.5 years (range 33

to 94 years) Clinical manifestations were included: rectal prolapse 100%, strangulated 4 (21.1%) cases, rectal bleeding 5 (26.3%) cases, constipation 10 (52.6%) cases and faecal incontinence 1 (5.3%) case With 100% routinely performed a sigmoidoscopy, there were 9 (47.4%) mucosal ulceration and necrosis, Stage IV hemorrhoid prolapse was misdiagnosed in 1 (5.3%) case Mean rectal resection length of 10.9 cm (range 3 to 30 cm) Mean hospital stay was 4.8 (range 1-10) days The recurrence rate was 1 (5.3%) case There have been 1 (5.3%) complication case with temporary soilage of anus and no death The successful rate was 94.7% and satisfied rate was 100% Mean time following of 3.8 months (range 2 to 6 months)

Conclusion: perineal rectosigmoidectomy for rectal prolapse is safe and effect, postoperative complication

rate was low, without death The short-term recurrence rate after the Altemeier procedure was low and not related

to rectal resection length

Key words: Altemeier’s procedure, perineal rectosigmoidectomy, rectal prolapse

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sa toàn bộ thành trực tràng thường kết hợp

với nhiều bất thường khác của sàn chậu như: túi

cùng Douglas xuống thấp, cơ sàn chậu và cơ

vòng hậu môn yếu và mất sự cố định của trực

tràng Triệu chứng thường gặp là táo bón và tiêu

không tự chủ Điều trị chủ yếu là phẫu thuật

nhằm mục tiêu phục hồi giải phẫu vùng chậu,

cải thiện triệu chứng và ít tái phát

Có nhiều phương pháp điều trị được báo

cáo trong y văn và cho đến nay vẫn còn chưa

thống nhất, cho thấy điều trị sa trực tràng vẫn

còn nhiều vấn đề Phẫu thuật ngã bụng ngày

càng phổ biến và ngã đáy chậu là chọn lựa tốt

nhất kế tiếp cho những bệnh nhân lớn tuổi với

nguy cơ phẫu thuật cao, những người không

đòi hỏi chất lượng sống sau phẫu thuật quá

cao, có bệnh tâm thần, nam giới và sa trực

tràng nghẹt(5)

Phẫu thuật cắt đại tràng chậu hông - trực

tràng ngã đáy chậu có tỉ lệ tái phát chấp nhận

được, tỉ lệ biến chứng và tử vong thấp, không

ảnh hưởng chức năng ruột sau mổ nên thường

được chỉ định

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết

quả sớm phẫu thuật cắt đoạn đại tràng chậu

hông và trực tràng qua ngã đáy chậu (phẫu

thuật Altemeier) cho những bệnh nhân sa trực

tràng có hay không có sa nghẹt

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu 19 trường hợp phẫu thuật cắt đoạn đại tràng chậu hông và trực tràng qua ngã đáy chậu (phẫu thuật Altemeier) cho những bệnh nhân sa trực tràng có hay không có

sa nghẹt tại khoa ngoại tiêu hóa bệnh viện Bình Dân từ tháng 1/2015 đến 9/2017

Loại trừ những trường hợp giảm hay mất trương lực cơ thắt hậu môn

Theo mức độ sa chia làm 4 độ:

Độ 1: trực tràng chỉ sa khi gắng sức mạnh, khi rặn đại tiện sau đó tự co lại nhanh chóng Chiều dài của đoạn sa 3 - 5 cm, toàn thân không

có ảnh hưởng gì, các than phiền của bệnh nhân chỉ do đoạn trực tràng sa gây nên

Độ 2: trực tràng luôn sa khi đại tiện tự co lên rất chậm phải lấy tay đẩy vào, có các vết trợt ở niêm mạc, phù nề niêm mạc, hậu môn bị lõm vào, cơ thắt có thay đổi ít, toàn thân bình thường, đoạn trực tràng sa dài 6 - 8 cm

Độ 3: trực tràng sa khi gắng sức nhẹ (ho, cười, hắt hơi, đi bộ, ngồi xổm ) và không tự co vào được Niêm mạc tuyến của trực tràng bị hoại

tử từng đám một vài nơi có sẹo, hậu môn mất trương lực cơ thắt nhão Tinh thần bị ức chế, niêm mạc chảy máu, trung tiện mất tự chủ, đoạn ruột sa dài 9 - 12 cm

Độ 4: ruột sa thường xuyên liên tục khi đi

Trang 3

bộ, khi đứng Niêm mạc tuyến bị loét hoại tử,

thành sẹo, cơ thắt mất trương lực, trung đại

tiện mất tự chủ Rối loạn cảm giác vùng hậu

môn, eczema vùng đáy chậu; đoạn ruột sa dài

trên 12 cm

Đánh giá tự chủ sau mổ của hậu môn theo 4

mức độ:

-Tự chủ hoàn toàn bình thường

-Không tự chủ với phân lỏng

-Không tự chủ với phân đặc

-Không tự chủ với hơi, phân lỏng và đặc

Độ I và II coi như tiêu tự chủ còn độ III và IV

là tiêu không tự chủ

Chưa thực hiện xét nghiệm đánh giá trương lực cơ thắt hậu môn

Thời gian nằm viện sau mổ được tính từ ngày phẫu thuật đến khi xuất viện

Tỉ lệ mổ thành công, thất bại: Phẫu thuật được xem là thất bại khi chuyển sang kỹ thuật khác hay tái phát trong thời gian 6 tháng sau mổ Mức độ hài lòng của bệnh nhân:

Trước khi xuất viện hướng dẫn cho bệnh nhân tự đánh giá mức độ hài lòng của mình về cuộc mổ giống như cách đánh giá của thang VAS với câu hỏi: Ông/Bà có hài lòng về cải thiện triệu chứng sau mổ của mình không? Tuỳ theo mức

độ hài lòng mà bệnh nhân chọn cho thích hợp

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Không hài lòng Rất hài lòng

Bảng 1: Mức độ hài lòng

Mức độ hài

lòng

Rất

tốt

Tốt Trung bình

Chấp nhận được

Không chấp nhận

Số điểm 9-10 7-8 5-6 3-4 1-2

Phương pháp phẫu thuật

Tất cả bệnh nhân được chuẩn bị ruột và

kháng sinh dự phòng trước mổ

Phương pháp vô cảm: bệnh nhân đều được

gây tê tủy sống để phẫu thuật cắt đoạn đại tràng

chậu hông và trực tràng

Bệnh nhân được đặt ở tư thế sản phụ khoa

khi phẫu thuật

Khi tiến hành phẫu thuật, xác định đường

lược (ranh giới da niêm) Sau đó tiến hành cắt

vòng toàn bộ thành trực tràng bằng dao đốt điện

hay siêu âm cách đường lược 1 – 2cm Túi cùng

Douglas được bộc lộ hay cắt nếu cần và khâu lại

vào cuối thì phẫu thuật để ngoại phúc mạc

miệng nối đại tràng-hậu môn Mạc treo trực

tràng và đại tràng chậu hông được kẹp cắt lần

lượt cho đến khi không thể di động thêm đại

tràng chậu hông

Cắt đoạn đại trực tràng Sau đó khâu nối

đại tràng chậu hông – hậu môn 1 lớp mũi rời

chỉ vicryl 2.0

Thời gian và chăm sóc hậu phẫu: Sau mổ

bệnh nhân được cho ăn bằng đường miệng và xuất viện từ 4 - 5 ngày sau mổ Do vết khâu nối nằm sâu trong ống hậu môn nên bệnh nhân không có cảm giác đau và không cần phải thay băng hay chăm sóc vết thương hàng ngày Thời gian theo dõi kết quả sớm sau mổ là 2 đến 6 tháng

KẾT QUẢ

Tổng cộng 19 bệnh nhân sa trực tràng có hay không sa nghẹt được phẫu thuật Altemeier và thu thập dữ liệu đưa vào nghiên cứu

Dịch tễ học: Tuổi trung bình của bệnh nhân

67 Tuổi nhỏ nhất là 33 và cao nhất là 94 tuổi Trong số 19 bệnh nhân được thực hiện phẫu thuật cắt đoạn đại tràng chậu hông và trực tràng

để điều trị sa trực tràng, có 6 bệnh nhân nam và

13 bệnh nhân nữ, tỉ lệ nam/nữ là 1:2 Trong đó tuổi trung bình của bệnh nhân nam là 46,7 và tuổi trung bình của nữ là 77,1

Tất cả bệnh nhân đều là ASA II hay III không có ASA IV

Có 4 trường hợp có tiền sử phẫu thuật trước

đó gồm: 1 trường hợp phẫu thuật khâu treo, 1 trường hợp phẫu thuật Longo, 1 trường hợp

Trang 4

được phẫu thuật Altemeier và 1 trường hợp cắt

tử cung

Bảng 2 Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi trung bình 67,5 (33- 94)

Nguy cơ

Thời gian mắc bệnh (năm) 3 (1-20)

Chiều dài khối sa (cm) 8,3 (3-20)

Có một bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu

có tiền sử bệnh tâm thần và một mù mắt do teo

gai thị

Bảng 3 Đặc điểm lâm sàng

Tất cả bệnh nhân được soi hậu môn trực

tràng kết quả: có 9 (47,4%) trường hợp viêm loét

hoại tử niêm mạc

Có 4 trường hợp sa nghẹt trong đó có 2

trường hợp hoại tử khối sa trực tràng nghẹt

Có 2 trường hợp được thực hiện

Videoproctoscope có hình ảnh sa trực tràng

Có 4 trường hợp được thực hiện MRI

defecogrhaphy, phát hiện 2 trường hợp có sa tử

cung và sa bàng quang độ I

Sa trực tràng độ 1 có 1 trường hợp (5,3%), độ

2 có 2 trường hợp (10,6%), độ 3 có 15 trường hợp

(78,9%), độ 4 có 1 trường hợp(5,3%)

Tất cả bệnh nhân đều được cắt đoạn đại trực

tràng và không có trường hợp nào khâu cơ nâng

qua ngã tầng sinh môn Bệnh nhân được khâu

nối bằng tay với chỉ Vicryl 00, khâu 1 lớp

Có 11 trươờng hợp (57,9%) đoạn ruột cắt bỏ

dài hơn 10cm Chiều dài đoạn trực tràng cắt bỏ

trung bình 10,9cm (thay đổi từ 3 đến 30cm)

Thời gian nằm viện

Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 4,8

ngày (thay đổi từ 1 đến 10 ngày)

Biến chứng và tái phát sau mổ

Trong thời gian theo dõi trung bình 3,8 tháng (thay đổi từ 2 đến 6 tháng), chúng tôi nhận thấy có 1(5,9%) trường hợp tái phát (tỉ lệ thành công 94,7%), có 1(5,3%) trường hợp rỉ dịch hậu môn sau phẫu thuật và 1/10(10%) trường hợp vẫn còn tiêu khó, đi cầu tự chủ hoàn toàn và 100% bệnh nhân hoàn toàn hài lòng với phẫu thuật Không có trường hợp nào

có rối loạn chức năng niệu – dục sau mổ Không có tử vong sau mổ

BÀN LUẬN Dịch tễ

Sa trực tràng là bệnh tương đối phổ biến ở các nước phương Tây với tỉ lệ là 420/100000 dân Trên 65 tuổi, tỉ lệ này là 1000/100000 Bệnh xảy ra chủ yếu ở phụ nữ trung niên và lớn tuổi cùng với sa tạng chậu khác như sa bàng quang, tử cung Yếu tố nguy cơ gây sa trực tràng thì tương

tự với sa tạng chậu như túi cùng Douglas thấp bất thường, giãn và mất trương lực cơ sàn chậu

và ống hậu môn, suy yếu cơ thắt ngoài và cơ thắt trong hậu môn, thường kết hợp với bệnh thần kinh sinh dục và thiếu sự cố định trực tràng Phụ nữ trên 50 tuổi thường dễ bị sa trực tràng gấp 6 lần so với nam giới(1), mặc dù cho đến nay nhiều tác giả đều cho rằng sa trực tràng

là hậu quả của việc sinh đẻ nhiều và khoảng 1/3 bệnh nhân nữ sa trực tràng là có nhiều con Tuổi thường gặp nhất là nữ trên 70 tuổi, ngược lại bệnh nhân nam thường gặp là dưới 40 tuổi, đặc điểm nổi bật nhất ở bệnh nhân trẻ là bệnh tâm thần tự kỷ, bệnh nhân trẻ sa trực tràng thường

có triệu chứng đặc hiệu liên quan đến chức năng đại tràng đặc biệt là tống xuất phân

Theo Mark(6), có 61 (96,8%) bệnh nhân được phẫu thuật Altemeier điều trị sa trực tràng là nữ Tuổi trung bình của bệnh nhân là 79 tuổi

Một nghiên cứu khác cũng nhận thấy có đến 90% bệnh nhân là phái nữ(3), tần suất bệnh thường gặp ở trẻ con và người lớn tuổi Tiền sử bệnh nhân có bệnh tâm thần chiếm đến 50% các trường hợp(3) Trong nghiên cứu này, tuy mẫu

Trang 5

còn nhỏ nhưng chúng tôi nhận thấy sa trực tràng

có thể xảy ra ở những bệnh nhân trẻ (33 tuổi) Và

tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu

là 67,5 tuổi Trong số 19 bệnh nhân được thực

hiện phẫu thuật cắt đoạn đại tràng chậu hông và

trực tràng để điều trị sa trực tràng, có 6 (31,6%)

bệnh nhân phái nam và 13 (68,4%) bệnh nhân là

nữ Trong đó tuổi trung bình của bệnh nhân

nam là 46,7, tuổi trung bình của nữ là 77,1; có

một (5,3%) bệnh nhân nam trong nhóm nghiên

cứu có tiền sử bệnh tâm thần

Đặc điểm lâm sàng

Sa trực tràng xảy ra khi gắng sức, thường

kèm cảm giác mót rặn, tiểu khó, ho kéo dài hay

do di truyền, có nhiều yếu tố khác cũng góp

phần gây sa trực tràng như: khối u vùng chậu,

chế độ ăn hay hóa chất Trong nghiên cứu của

chúng tôi không xác định nguyên nhân hay yếu

tố thuận lợi gây sa trực tràng

Khối sa ở hậu môn, lúc đầu thường nhỏ

ngắn, xuất hiện khi đi cầu Kèm theo là thỉnh

thoảng có triệu chứng chảy máu khi đi tiêu làm

bệnh nhân lầm tưởng với bệnh trĩ Trong nhiên

cứu này, tất cả bệnh nhân (100%) đều nhập viện

vì khối sa ra ngoài hậu môn khi đi tiêu kèm theo

là triệu chứng táo bón (52,6%), tiêu không tự chủ

không thường gặp (5,3%), chảy máu khi đi tiêu

(26,3%) làm bệnh nhân lầm tưởng với bệnh trĩ

Nếu thầy thuốc không thăm khám lâm sàng cẩn

thận thì cũng dễ dàng chẩn đoán lầm với bệnh

trĩ Chúng tôi có 1 (5,3%) trường hợp chẩn đoán

lầm trước mổ là trĩ hỗn hợp độ 4, vì khi thăm

khám hay ngay cả nội soi hậu môn trực tràng

cũng không phát hiện được sa trực tràng nếu

khối sa trực tràng đã tụt vào

Khi khám bệnh nhân ngồi ở tư thế ngồi

xổm hay chụp Videoproctoscopy hay khi khối

sa kẹt hay nghẹt thì mới dễ dàng phát hiện

được bệnh Tại bệnh viện chúng tôi vừa mới

trang bị máy chụp Videoproctoscopy nên trong

nghiên cứu này chỉ có 2 trường hợp được thực

hiện và giúp chẩn đoán chính xác bệnh Tuy số

ca còn ít nhưng chúng tôi nhận thấy chẩn đoán

có thể có được một cách rõ ràng và khách quan khi cho thực hiện chụp Videoproctoscopy Biện pháp này còn giúp chẩn đoán phân biệt giữa bệnh trĩ và sa trực tràng cũng như chẩn đoán chính xác mức độ sa của trĩ hay sa trực tràng Một số bệnh nhân đã được chẩn đoán lầm giữa

sa trực tràng và trĩ Hậu quả là hoại tử trực tràng sa do đắp thuốc

Nội soi đại tràng sigma hay khung đại tràng bằng ống soi mềm là cần thiết để loại trừ bất kỳ sang thương lành tính hay ác tính mà có thể đóng vai trò như điểm khởi phát của lồng đại trực tràng, hơn nữa cần phải loại trừ những ổ loét trực tràng đơn độc có thể do sa trực tràng nội Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu này đều được soi sigma- hậu môn trực tràng kết quả: có 9 (47,4%) trường hợp viêm loét hoại tử niêm mạc, không có trường hợp nào có khối u bất thường ở trực tràng

Rentsch(8) cho rằng chụp MRI defecography

có ích trong những trường hợp có rối loạn sàn chậu kết hợp, đặc biệt là ở bệnh nhân có rối loạn khác liên quan nhiều hơn một tạng- chậu mà không phát hiện được khi chưa có chẩn đoán hổ trợ khác như Videoproctoscope Tác giả cũng so sánh chụp MRI defecography với khám lâm sàng cho thấy chỉ phù hợp chẩn đoán là 77,3% trường hợp và phát hiện thêm các khiếm khuyết tạng- chậu khác mà lâm sàng không phát hiện được trong 34% các bệnh nhân, MRI defecogrhaphy còn giúp phát hiện các thương tổn giải phẫu: khe cơ nâng (đường H), mạc treo trực tràng dài, đại tràng chậu hông dài, lồng trong trực tràng - ống hậu môn Nghiên cứu của chúng tôi, 4 trường hợp được thực hiện MRI defecogrhaphy, có 2 (50%) trường hợp phù hợp chẩn đoán và phát hiện 2 (50%) trường hợp có sa

tử cung và sa bàng quang độ I kèm theo mà không phát hiện được khi thăm khám lâm sàng Niêm mạc trực tràng sa dễ bị phù nề và viêm loét hoại tử Khi sa trực tràng lớp thanh mạc trực tràng (phúc mạc tạng) bị xếp nếp và có thể viêm dính gây kẹt Chúng tôi có 9 (47,4%) trường hợp viêm loét hoại tử niêm mạc trực tràng khi soi

Trang 6

hậu môn trực tràng và 4 (21,1%) trường hợp sa

nghẹt, trong đó có 2 (10,5%) trường hợp hoại tử

khối sa trực tràng nghẹt

Chiều dài khối sa trực tràng: Trong 19 bệnh

nhân của chúng tôi, chiều dài khối sa trực tràng

trung bình là 8,3 cm (ngắn nhất 3 cm và dài nhất

là 20 cm) Chiều dài khối sa trực tràng phụ thuộc

vào thời gian bệnh và nhóm bệnh nhân nghiên

cứu Mark(6) nhận thấy chiều dài trung bình của

đoạn ruột đại trực tràng được cắt đoạn vào

khoảng 12 cm

Phương pháp vô cảm: Tất cả bệnh nhân

trong nghiên cứu đều được thực hiện vô cảm

bằng gây tê tủy sống thành công, không có bệnh

nhân nào phải chuyển sang gây mê toàn thân

Kết quả này cũng giống như trong nghiên cứu

của Mark(6): có 70% bệnh nhân được thực hiện vô

cảm vùng hay gây tê tủy sống

Kỹ thuật mổ: Khiếm khuyết giải phẫu có thể

có trong sa trực tràng bao gồm: khiếm khuyết

trên cơ sàn chậu với sự dãn rộng của cơ nâng

hậu môn và sự suy yếu của các mạc vùng chậu,

túi cùng Douglas xuống thấp một cách bất

thường, đại tràng chậu hông dài, cơ vòng hậu

môn bị yếu, mất vị thế nằm ngang của trực tràng

do sự gắn kết lỏng lẻo của trực tràng vào xương

cùng và vách chậu Tuy nhiên, không phải tất cả

các bệnh nhân đều có tất cả các khiếm khuyết

giải phẫu nói trên Cũng như không có một

phương pháp mổ nào khắc phục được cùng một

lúc tất cả các khiếm khuyết này

Do vậy có rất nhiều loại phẫu thuật để điều

trị sa trực tràng, có hơn 100 phẫu thuật khác

nhau để điều trị sa trực tràng(3) Cắt trực tràng

đại tràng chậu hông ngã đáy chậu được Mikulicz

đề xướng đầu tiên vào năm 1893 Miles là người

ủng hộ mạnh mẽ cho phẫu thuật này vào năm

1933 và trong suốt những năm sau đó phương

pháp này là một chọn lựa ưa thích của các phẫu

thuật viên ở Anh Năm 1971, Altemeier là người

báo cáo kết quả tốt nhất của phẫu thuật này và

làm cho nó trở nên phổ biến ở Mỹ Từ đó trở đi,

phẫu thuật này gắn liền với tên Altemeier

Glasgow(3) cho rằng nếu có tạo hình cơ nâng thì kết quả kém hơn, nguyên nhân là do thời gian dài suy yếu của sàn chậu và cơ vòng hậu môn có liên quan đến thời gian mắc bệnh của bệnh nhân, mặc dù không có mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh và rối loạn chức năng đại tiện của bệnh nhân có ý nghĩa thống kê Trong nghiên cứu của chúng tôi không có trường hợp nào tạo hình cơ nâng và qua theo dõi chúng tôi nhận thấy không có trường hợp nào bị rối loạn chức năng đại tiện

Chiều dài đoạn ruột cắt bỏ: Theo Ris(8) Cải thiện chức năng tự chủ thường ở bệnh nhân có thời gian mắc bệnh ngắn và không liên quan chiều dài chiều dài đoạn ruột cắt bỏ Điều này cũng phù hợp nghiên cứu của chúng tôi chiều dài trung bình đoạn ruột cắt bỏ là 10,9cm (thay đổi từ 3 đến 30cm), Có 11 (57,9%) trường hợp đoạn ruột cắt bỏ dài hơn 10cm nhưng không có triệu chứng tiêu không tự chủ sau mổ

Về chức năng: Nhiều nghiên cứu cho rằng

phẫu thuật Altemeier thì không hiệu quả nhưng nghiên cứu của Ri (8) cho thấy cải thiện triệu chứng tiêu không tự chủ sau mổ lên đến 62% và cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi 1 (5,3%) trường hợp bệnh nhân có triệu chứng tiêu không tự chủ trước mổ thì theo dõi sau mổ bệnh nhân cải thiện triệu chứng không còn tiêu không tự chủ, chức năng tự chủ của tất cả bệnh nhân còn lại thì ổn định trong thời gian theo dõi ngắn hạn trong nghiên cứu này Chỉ có 1/10 (10%) trường hợp vẫn còn tiêu khó khi tái khám

Biến chứng, tử vong, tái phát

Theo dõi bệnh nhân với thời gian trung vị gần 21 tháng, Mark nhận thấy tỉ lệ tái phát là 6,4% và bệnh nhân có thể được phẫu thuật lại bằng phương pháp Altemeier Tất cả bệnh nhân sau mổ đều trở lại bình thường khi thăm khám, 87% bệnh nhân hài lòng hoàn toàn với phẫu thuật (1) Các tác giả khác tỉ lệ tái phát từ 3-16%

Trang 7

Theo Ris(8) thuận lợi của phẫu thuật

Altemeier là dễ dàng thực hiện phẫu thuật lại

nếu bị tái phát mặc dù tỉ lệ tái phát lại sẽ cao hơn

trong trường hợp mổ lại này và thuận lợi khác là

phẫu thuật này không để lại sẹo mổ giống như

phẫu thuật qua lỗ tự nhiên của cơ thể(8)

Do thời gian theo dõi ngắn, chỉ 2 - 6 tháng

sau mổ, chúng tôi có một (5,3%) trường hợp tái

phát khi tái khám và bệnh nhân được phẫu thuật

Altemeier lại mặc dù đã cắt bỏ đoạn trực tràng

dài 10cm trong phẫu thuật trước đó và lần này

đoạn đại tràng cắt bỏ dài 15cm có lẽ là do bệnh

nhân có đại tràng chậu hông dài nhưng lần mổ

trước có lẽ đã cắt không đủ rộng Toàn bộ bệnh

nhân đều hài lòng với kết quả phẫu thuật, không

có trường hợp nào rối loạn chức năng đại tiện

Tỉ lệ biến chứng của phẫu thuật này đã được

báo cáo thay đổi từ 1,8 - 12,5% so với 5 - 10%

phẫu thuật ngã bụng(8); trong nghiên cứu của

chúng tôi 1 (5,3%) trường hợp có biến chứng rỉ

dịch hậu môn sau phẫu thuật 2 tuần sau mổ, và

không tử vong (mặc dù tất cả bệnh nhân đều là

ASA II hay III không có ASA IV), cho thấy phẫu

thuật này có thể áp dụng cho những bệnh nhân

có nguy cơ cao

Nghiên cứu này cho thấy phẫu thuật

Altemeier thì an toàn và hiệu quả không có biến

chứng và tử vong, không có trường hợp nào rối

loạn chức năng đi tiểu và tình dục Thuận lợi của

phẫu thuật này là không có sẹo mổ nhìn thấy

bên ngoài, không làm biến dạng lỗ hậu môn và

không đau vì phẫu thuật vùng không có thần

kinh cảm giác

Là phẫu thuật ít xâm hại tầng sinh môn tránh tổn thương thần kinh vùng chậu, tỉ lệ tái phát có thẻ chấp nhận được

KẾT LUẬN

Phẫu thuật cắt đại tràng chậu hông - trực tràng ngã đáy chậu (phẫu thuật Altemeier) điều trị sa trực tràng là phẫu thuật an toàn, hiệu quả;

tỉ lệ biến chứng sau mổ thấp và không có tử vong Tỉ lệ tái phát ngắn hạn sau mổ thấp và không liên quan đến chiều dài đoạn trực tràng cắt bỏ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

prolapse: a search for the ‘best’ operation Am Surg 67: 622–

627

rectal procidentia Surg Gynecol Obstet 129:1225–1230

quality of life following perineal proctectomy for rectal

prolapse J Gastrointest Surg 12: 1446–1451

after abdominal suture rectopexy for rectal prolapse or

intussusception Eur J Surg.162:905–911

treatment by perineal rectosigmoidectomy combined with

levator ani repair Hepatogastroenterology 53: 213–217

repair: Outpatient treatment of rectal prolapse Dis Col Rect:

565-579

resonance imaging defecography: a diagnostic alternative in

the assessment of pelvic floor disorders in proctology Dis

Colon Rectum 44 (7): 999-1007

rectal prolapse: analysis of long-term outcome in 60 patients

The Association of Coloproctology of Great Britain and Ireland 14,

1106–1111

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/11/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 01:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w