1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của sugammadex trong hóa giải dãn cơ tồn dư

7 121 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 341,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sugammadex là loại thuốc hóa giải dãn cơ có tác dụng gắn kết chọn lọc thuốc dãn cơ không khử cực nhóm steroid. Nghiên cứu của chúng tôi so sánh kết quả sử dụng sugammadex và neostigmine để hóa giải dãn cơ rocuronium trên bệnh nhân phẫu thuật chương trình tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA SUGAMMADEX TRONG HÓA GIẢI DÃN CƠ TỒN DƯ

Nguyễn Trung Thành*, Đinh Hữu Hào*, Lê Minh Phú 1 , Huỳnh Vĩnh Phúc*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Sugammadex là loại thuốc hóa giải dãn cơ có tác dụng gắn kết chọn lọc thuốc dãn cơ

không khử cực nhóm steroid Nghiên cứu của chúng tôi so sánh kết quả sử dụng sugammadex và neostigmine để hóa giải dãn cơ rocuronium trên bệnh nhân phẫu thuật chương trình tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Phương pháp nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng, không mù, không ngẫu nhiên trên 72

bệnh nhân phẫu thuật chương trình có phân độ ASA I – II được dẫn đầu và duy trì mê bằng propofol, midazolam, sevoflurane, sufentanil và rocuronium Hóa giải dãn cơ cuối cuộc mổ bằng sugammadex 2mg/kg tiêm tĩnh mạch (n = 36) hoặc neostigmine 40 mcg/kg tiêm tĩnh mạch kết hợp atropine 10 mcg/kg tiêm tĩnh mạch (n = 36) khi xuất hiện đáp ứng thứ 2 của kích thích chuỗi 4 Biến số chính là thời gian từ lúc tiêm sugammadex hoặc neostigmine đến khi đạt TOF 0,9 Ghi nhận nhịp tim và huyết áp ngay trước khi tiêm và ở các thời điểm trong vòng 30 phút sau tiêm hóa giải dãn cơ Các tác dụng phụ cũng được ghi nhận

ở thời điểm chuyển trại

Kết quả: Trung vị thời gian đạt TOF 0,9 ở nhóm sugammadex ngắn hơn so với nhóm neostigmine (2,4

phút so với 10,4 phút, p < 0,001) Tỉ lệ bệnh nhân nôn buồn nôn sau mổ và khô miệng thấp hơn ở nhóm sugammadex Không ghi nhận trường hợp nào xảy ra biến cố nặng hoặc tái dãn cơ trong giai đoạn hồi tỉnh

ở cả 2 nhóm

Kết luận: Sugammadex giúp hóa giải dãn cơ rocuronium nhanh chóng và ít tác dụng phụ hơn so với

neostigmine

Từ khóa: sugammadex, rocuronium, hóa giải dãn cơ tồn dư

ABSTRACT

EFFICACY OF SUGAMMADEX FOR THE REVERSAL OF RESIDUAL NEUROMUSCULAR

BLOCKADE

Nguyen Trung Thanh, Dinh Huu Hao, Le Minh Phu, Huynh Vinh Phuc

*Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 3 - 2016: 114 - 120

Background: Sugammadex is the first selective relaxant binding agent that has been studied for

reversal of neuromuscular blockade induced by steroidal non-depolarizing neuromuscular blocking agents

In this study, we compared the efficacy of sugammadex and neostigmine for the reversal of rocuronium-induced neuromuscular blockade in patients scheduled for elective surgery at Nhan Dan Gia Dinh hospital

Methods: Non-randomized control trial, seventy two patients undergoing elective surgeries with a

standardized sevoflurane-sufentanil-rocuronium anesthetic technique received either sugammadex, 2 mg/kg

IV (n = 36), or neostigmine, 40 microg/kg IV and atropine, 10 microg/kg IV (n = 36) for reversal of neuromuscular blockade at reappearance of the second twitch of the TOF The primary variable was time from administration of sugammadex or neostigmine to recovery of the TOF ratio to 0.9 Mean arterial blood

* Khoa GMHS, BV Nhân Dân Gia Định

Tác giả liên lạc: BS CKII Nguyễn Trung Thành, ĐT 0903663585, Email: trungthanhgm@yahoo.com.vn

Trang 2

pressure and heart rate values were recorded immediately before and 30 min after drug administration Side effects were noted at discharge from the postanesthesia care unit

Results: The median time to recovery of the TOF ratio to 0.9 was significantly faster

with sugammadex compared with neostigmine (2.4 min versus 10.4 min, p < 0.001) The incidence of dry mouth and PONV were significantly reduced in the sugammadex group No serious adverse events or recurrence of neuromuscular blocking were reported with either drug at postanesthesia care unit

Conclusion: Sugammadex provides significantly faster and less side effect reversal of

rocuronium-induced neuromuscular blockade compared with neostigmine

Key words: sugammadex, rocuronium, reversal of residual neuromuscular blockade

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hồi phục sớm chức năng thần kinh cơ sau

gây mê có sử dụng thuốc dãn cơ giúp bệnh

nhân thông khí tốt, hồi phục phản xạ đường

thở nhằm tránh những biến chứng liên quan hô

hấp sau mổ(3) Sử dụng thuốc hóa giải dãn cơ

gián tiếp thông qua tác dụng ức chế men

acetylcholinesterase để làm tăng nồng độ

acetylcholine không hóa giải hoàn toàn tác

dụng của thuốc dãn cơ Sugammadex là thuốc

hóa giải chọn lọc dãn cơ nhóm aminosteroid

bằng cách gắn kết với thuốc dãn cơ tự do theo tỉ

lệ 1:1 và được đào thải qua thận Sugammadex

đã được chứng minh an toàn và hiệu quả, được

áp dụng rộng rãi tại Châu Âu, Châu Úc và tại

Nhật(13) Do không tác động trên thụ thể

muscarinic nên không gây ra những bất lợi trên

đường hô hấp như thuốc ức chế cholinesterase

Sugammadex đã được sử dụng ở một số bệnh

viện tại Việt Nam từ năm 2013 Chúng tôi đã

báo cáo loạt trường hợp hóa giải dãn cơ bằng

sugamamdex và nhận thấy đây là thuốc hóa

giải dãn cơ nhanh chóng và hiệu quả(11) Chúng

tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm so sánh

hiệu quả của sugammadex và neostigmine khi

hóa giải dãn cơ tồn dư trên các bệnh nhân được

phẫu thuật dưới gây mê toàn diện có sử dụng

thuốc dãn cơ rocuronium tại bệnh viện Nhân

Dân Gia Định

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định thời gian đáp ứng chuỗi 4 đạt 0,9

sau khi tiêm hóa giải dãn cơ ở 2 nhóm

sugammadex và neostigmine

Xác định tỉ lệ tác dụng phụ trong giai đoạn hồi tỉnh ở 2 nhóm sugammadex và neostigmine

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu của chúng tôi là thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng, không mù, không ngẫu nhiên Nghiên cứu được tiến hành sau khi được Hội đồng Khoa Học và Hội đồng

y đức của Bệnh viện Nhân Dân Gia Định cho phép và sự đồng ý tham gia của bệnh nhân

Nghiên cứu được tiến hành trên các

trường hợp phẫu thuật ngoài tim dưới gây mê toàn diện với tư thế nằm ngữa trong khi mổ, tuổi từ 18, ASA I-II, có sử dụng thuốc dãn cơ rocuronium để đặt nội khí quản và duy trì trong mổ Các trường hợp nghi ngờ đặt nội khí quản khó, suy gan, suy thận, tiền sử bệnh thần kinh cơ, tăng thân nhiệt ác tính, đang sử dụng thuốc chống động kinh, magnesium, kháng sinh aminoglycoside hoặc macrolide, phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, dị ứng hoặc có chống chỉ định với các thuốc sẽ sử dụng không được chọn vào nghiên cứu Các bệnh nhân được gây mê theo quy trình của khoa bằng propofol, midazolam, sufentanil, rocuronium, duy trì mê bằng sevoflurane Liều rocuronium để đặt nội khí quản là 0,6 mg/kg, và tiêm lặp lại trong mổ 0,15 mg/kg khi cần Trong mổ các bệnh nhân được giữ ấm, theo dõi nhiệt độ cơ thể liên tục và duy trì >

35oC.Theo dõi độ dãn cơ bằng máy kích thích thần kinh chuổi 4 TOF Watch, thực hiện chuẩn hóa máy thời điểm sau tiêm thuốc mê và trước

Trang 3

khi tiêm thuốc dãn cơ Bệnh nhân được chia

làm 2 nhóm, nhóm hóa giải dãn cơ bằng

sugammadex (n = 36) và nhóm hóa giải dãn cơ

bằng neostigmine kết hợp atropine (n = 36)

Hóa giải dãn cơ được tiêm cuối cuộc mổ khi

xuất hiện đáp ứng thứ 2 của TOF với liều như

sau sugammadex 2mg/kg tiêm tĩnh mạch

trong 10 giây, neostigmine 0,04 mg/kg và

atropin 0,01mg/kg Bệnh nhân ở cả 2 nhóm

được theo dõi và ghi nhận thời gian từ khi

tiêm thuốc hóa giải dãn cơ đến khi TOF đạt

0,9, đồng thời ghi nhận sự thay đổi nhịp tim,

huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương

trước và sau khi tiêm thuốc ở thời điểm 2, 5,

10, 30 phút Sau khi rút nội khí quản, đánh giá

mức độ tỉnh táo và hồi phục thần kinh cơ mỗi

15 phút cho đến khi bệnh nhân tự nhấc đầu

trong 5 giây Theo dõi độ bão hòa oxy và tần

số thở mỗi 30 phút trong 60 phút đầu sau mổ

Biến số nghiên cứu

Biến số chính là thời gian đạt TOF 0,9 (thời

gian từ khi tiêm sugammadex đến khi đạt TOF

0,9) Biến số phụ là thời gian đạt TOF 0,7 hoặc

0,8, các dấu hiệu hồi tỉnh sau khi rút nội khí

quản

Biến cố bất lợi: tái dãn cơ, dị ứng, đau cơ,

thay đổi huyết áp, nhịp tim, SpO2, co thắt phế

quản, nôn ói

Thu thập và xử lý số liệu

Các biến số được ghi nhận vào bảng thu

thập số liệu đã soạn sẳn, mỗi trường hợp 1

phiếu Sau đó, tất cả các số liệu được thu thập

sẽ được thống kê và xử lý bằng phần mềm

thống kê SPSS 16.0 Các biến số liên quan định

tính trình bày bằng tỉ lệ phần trăm (%) Các

biến số định lượng được trình bày bằng số

trung bình ± độ lệch chuẩn đối với phân phối

bình thường hoặc trình bày bằng trung vị, số

tối đa và tối thiểu đối với phân phối không

bình thường So sánh 2 tỉ lệ bằng phép kiểm

chi bình phương (χ)2 So sánh hai số trung

bình của hai nhóm bằng phép kiểm student

(t-test) So sánh trung vị của hai nhóm bằng

phép kiểm phi thông số Mann-Whitney Wilcoxon Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi

p < 0,05

KẾT QUẢ

Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2014, có 72 trường hợp gây mê có sử dụng thuốc dãn cơ rocuronium được đưa vào nhóm nghiên cứu, trong đó có 36 trường hợp sử dụng hóa giải dãn cơ sugammadex và 36 trường hợp sử dụng hóa giải dãn cơ neostigmine

Đặc điểm chung

Sự khác biệt về giới, tuổi, chiều cao, cân nặng, thời gian phẫu thuật, thời gian gây mê, tổng liều rocuronium giữa hai nhóm không có

ý nghĩa thống kê

Bảng 1 Đặc điểm bệnh nhân

Sugammadex Neostigmine p

Tuổi (năm)* 39,2 ± 15,9 44,4 ± 12,9 0,06 Chiều cao (cm)* 158,9 ± 8,2 157,9 ± 5,5 0,5 Cân nặng (kg)* 56,8 ± 8,0 54,0 ± 5,4 0,08 Giới tính† 24/12 27/9 0,06

* TB ± ĐLC † số lượng nam/nữ

Bảng 2 Đặc điểm liên quan đến thời gian phẫu

thuật, gây mê và liều dãn cơ

Sugammadex Neostigmine p

Thời gian PT (phút)* 87,8 ± 44,4 101,2 ± 45,8 0,2 Thời gian GM (phút)* 106,3 ± 47,2 120,0 ± 46,6 0,2 Liều rocuronium

(mg)*

46,6 ± 11,4 45,0 ± 9,4 0,5

* TB ± ĐLC

Hồi phục dãn cơ

Bảng 3 Thời gian hồi phục dãn cơ tương ứng

TOF 70%, 80% và 90%

TOF Sugammadex Neostigmine p

70% (phút)* 1,7 (0,3 – 4,8) 5,0 (2,0 – 20,0) < 0,001 80% (phút)* 2,1 (0,6 – 5,3) 7,5 (3,0 – 25,0) < 0,001 90% (phút)* 2,4 (1,0 – 7,0) 10,4 (3,3–30,0) < 0,001

* Trung vị (giá trị nhỏ nhất – giá trị lớn nhất)

Nhận xét: thời gian để hồi phục dãn cơ ở các mức độ tương ứng TOF 70%, 80% và 90% của nhóm sử dụng sugammadex đều thấp hơn nhiều so với nhóm sử dụng neostigmine, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,001)

Trang 4

Tỉ lệ đạt TOF 90% trong 5 phút đầu sau

tiêm hóa giải dãn cơ

Nhóm sugamamdex có 33 trường hợp

(91,7%, n = 36) đạt TOF 90% trong 5 phút đầu

sau tiêm hóa giải dãn cơ Nhóm neostigmine

có 9 trường hợp (25%, n = 36) đạt TOF 90%

trong 5 phút đầu sau tiêm hóa giải dãn cơ Sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Thời điểm rút nội khí quản

Trung vị thời điểm rút NKQ sau tiêm

sugammadex là 7,5 phút (3 – 30) Trung vị thời

điểm rút NKQ sau tiêm neostigmine là 20

phút (10 – 40) Sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p< 0,001)

Nhóm sugammadex có 11 trường hợp

(30,5%, n = 36) rút NKQ trong 5 phút đầu sau

tiêm hóa giải Nhóm neostigmine không có

trường hợp nào rút NKQ trong 5 phút đầu sau

tiêm hóa giải

Sinh hiệu

Sự thay đổi về mạch, huyết áp và SpO2 ở

các thời điểm trước và sau khi tiêm hóa giải

dãn cơ ở các thời điểm 2, 5, 10 và 30 phút được

trình bày ở biểu đồ 1 và biểu đồ 2

Biểu đồ 1 Sự thay đổi sinh hiệu ở nhóm sử dụng

sugammadex

Nhận xét: Mạch, huyết áp và SpO2 ở các

thời điểm trước và sau khi tiêm hóa giải dãn

cơ sugammadex ở các thời điểm 2, 5, 10 và 30

phút không có sự khác biệt có ý nghĩa thống

Biểu đồ 2: Sự thay đổi sinh hiệu ở nhóm sử dụng

neostigmine

Nhận xét: Mạch ở các thời điểm sau tiêm neostigmine đều giảm, giảm nhiều nhất là ở thời điểm 10 phút sau khi tiêm hóa giải Huyết

áp tâm thu và tâm trương tăng nhẹ ở thời điểm 10 phút sau tiêm

Tác dụng phụ

Bảng 4 Tỉ lệ bệnh nhân có tác dụng phụ ở giai

đoạn hồi tỉnh của 2 nhóm

Sugammadex Neostigmine Tăng tiết đàm 2 (5,5%) 32 (88,7%)

Mạch chậm (< 40 l/p)

0 (0%) 3 (8,3%)

Mạch nhanh (> 100 l/p)

0 (0%) 2 (5,5%)

Nôn, buồn nôn sau

mổ

8 (22,2%) 12 (33,3%)

Khô miệng 1 (2,7%) 30 (83,2%) Chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào

có biểu hiện tái dãn cơ hay co thắt phế quản ở

cả 2 nhóm trong quá trình nghiên cứu

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy sugammadex

có tác dụng hóa giải dãn cơ nhanh hơn so với neostigmine thể hiện qua thời gian hồi phục

co cơ, từ đó rút ngắn thời gian rút nội khí quản, bệnh nhân hồi phục nhanh hơn Nghiên cứu của chúng tôi chỉ áp dụng từ khi xuất hiện đáp ứng thứ 2 của TOF Chỉ số TOF 0,9 được xem là giới hạn an toàn cần đạt được khi hóa giải dãn cơ Chúng tôi cho rằng thời gian đạt TOF 0,9 và tỉ lệ dãn cơ tồn dư là hai trong

Trang 5

nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng

chăm sóc bệnh nhân sau mổ Trung vị thời

gian đạt TOF 0,9 trong nghiên cứu của chúng

tôi là 2,4 phút, không khác biệt với nghiên cứu

của các tác giả khác (1,4 – 2,7 phút) (1,6,7) Khi

hóa giải bằng neostigmine thời gian hồi phục

dãn cơ kéo dài hơn nhiều (10,4 phút so với 2,4

phút) Chúng tôi cho rằng rút ngắn thời gian

đạt TOF 0,9 sau tiêm hóa giải dãn cơ sẽ giúp

giảm thời gian chờ rút nội khí quản, giảm thời

gian chờ đợi giữa các ca mổ, từ đó góp phần

làm giảm thời gian điều trị tại hồi sức và chi

phí điều trị cho bệnh nhân

Thuốc ức chế men acetylcholinesterase làm

tăng thời gian bán thải của acetylcholine do đó

làm tăng nồng độ acetylcholine cạnh tranh với

thuốc dãn cơ tại khớp thần kinh cơ Thời điểm

hóa giải dãn cơ tùy thuộc độ mức độ của dãn

cơ Thông thường, thuốc ức chế cholinesterase

được sử dụng để hóa giải dãn cơ TOF đạt 20%

(tương ứng xuất hiện đáp ứng 2 của TOF)

Trái lại, sugammadex có thể hóa giải được các

mức độ dãn cơ sâu kể cả khi vừa tiêm xong

thuốc dãn cơ do sugammadex không những

gắn kết với thuốc dãn cơ tự do mà còn tác

động trên thuốc dãn cơ tại tiếp hợp thần kinh

cơ(4) Nghiên cứu của chúng tôi cũng như các

nghiên cứu khác cho thấy sugammadex có tác

dụng hồi phục nhanh chóng và hiệu quả đối

với thuốc giãn cơ rocuronium, không có

trường hợp nào tái dãn cơ sau sử dụng

Sugammadex có thể phòng ngừa tình trạng

dãn cơ tồn dư do tác dụng gắn kết trực tiếp

thuốc dãn cơ tự do và tại tiếp hợp thần kinh

cơ, tác dụng này không thể đạt được bởi thuốc

ức chế cholinesterase(2)

Sugammadex với liều đến 16 mg/kg có thể

giúp hóa giải dãn cơ chỉ trong 2 phút sau khi

dùng rocuronium liều 1,2 mg/kg(4) Việc hóa

giải với sugammadex liều cao như vậy không

được khuyến cáo sử dụng thường quy nhưng

có ý nghĩa quan trọng trong các trường hợp

không đặt được nội khí quản và nhất là

trường hợp không thể thông khí được(13)

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sinh hiệu ở nhóm sugammadex hầu như không thay đổi ngoại trừ mạch và huyết áp tăng nhẹ thời điểm 10 phút có lẻ tương ứng với thời điểm tỉnh mê, không có trường hợp nào có mạch chậm < 40 l/p hay > 100 l/p Ngược lại ở nhóm neostigmine có hiện tượng mạch chậm dần dù đã được sử dụng atropine dự phòng,

có 3 trường hợp mạch chậm dưới 40 lần/phút phải sử dụng thêm atropine, 2 trường hợp mạch tăng nhanh hơn 100 l/p sau tiêm hóa giải neostigmine kèm atropine Tình trạng mạch nhanh hoặc chậm có thể ảnh hưởng đến sự hồi phục, tăng biến chứng tim mạch nếu bệnh nhân có kèm theo các bệnh lý tim mạch Do

đó, sugammadex đặc biệt thích hợp để hóa giải dãn cơ ở các đối tượng có bệnh lý tim mạch cần sự ổn định về mạch (chẳng hạn như bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh lý van tim)

Tình trạng dãn cơ tồn dư do không được hóa giải đầy đủ làm tăng các biến cố về hô hấp Nghiên cứu của Murphy và cs cho thấy 90,5% trường hợp có biến chứng hô hấp nặng giai đoạn hồi tỉnh có tình trạng dãn cơ tồn

dư(10) Debaene và Maybauyer chứng minh dãn cơ tồn dư xảy ra từ 44% đến 57% khi bệnh nhân hồi phục dãn cơ tự nhiên(3,9) Hóa giải dãn cơ đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn hồi tĩnh, giúp giảm biến chứng liên quan đến hô hấp sau mổ và giúp bệnh nhân hồi phục nhanh Cũng như phần lớn các nghiên cứu khác, nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào xảy ra các biến cố nguy hiểm về hô hấp và tim mạch trong giai đoạn hồi tỉnh(6,14) Một số tác dụng phụ cũng được ghi nhận ở 2 nhóm, nhóm cholinesterase có tỉ

lệ tác dụng phụ chậm nhịp tim, tăng tiết đàm nhiều hơn so với nhóm sugammadex Các tác dụng này được phòng ngừa bằng sử dụng thuốc đối kháng muscarinic (atropine), nhưng thuốc này cũng gây ra tác dụng phụ khác như làm nhịp tim nhanh và khô miệng(10) Nghiên cứu của Sacan và cs cũng ghi nhận tỉ lệ tác

Trang 6

dụng phụ khô miệng tương tự như nghiên

cứu của chúng tôi(12) Ngoài ra tỉ lệ nôn và

buồn nôn sau mổ cũng được ghi nhận thấp

hơn ở nhóm dùng sugammadex Ledowski T

và cs hồi cứu 1444 trường hợp hóa giải dãn cơ

trong đó có 722 bệnh nhân sử

dụng sugammadex và 212 bệnh nhân hóa giải

bằng neostigmine Tuy kết quả nghiên cứu của

tác giả ghi nhận tỉ lệ nôn buồn nôn sau mổ

thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi nhưng vẫn

cho thấy sự khác biệt giống chúng tôi giữa 2

nhóm (13,6% ở nhóm sugammadex so với

21,5% ở nhóm neostigmine)(8) Chúng tôi cho

rằng sự khác biệt này so với nghiên cứu của

chúng tôi là do chúng tôi không áp dụng biện

pháp dự phòng nôn buồn nôn sau mổ Mặc dù

không có trường hợp nào gây co thắt phế quản

kể cả nhóm neostigmine, nhưng chúng tôi

cũng khuyến cáo nên sử dụng hóa giải dãn cơ

bằng sugammadex ở các đối tượng có bệnh

phổi mãn tính, đặc biệt là bệnh phổi tắc nghẽn

mãn tính Bởi vì nghiên cứu của chúng tôi chỉ

thực hiện trên các bệnh nhân có ASA 1-2,

không có bệnh phổi mãn nên không ghi nhận

trường hợp co thắt phế quản khi sử dụng

neostigmine Tuy nhiên, tỉ lệ tăng tiết đàm cao

hơn ở nhóm sử dụng neostigmine, có thể sẽ

nguy hiểm nếu sử dụng ở các đối tượng có

bệnh phổi mãn Cũng như các tác giả khác,

chúng tôi cũng không nghi nhận trường hợp

nào có tình trạng tái dãn cơ ở cả 2 nhóm trong

giai đoạn hồi tỉnh (1,5) Tóm lại, sugammadex

đã được chứng minh an toàn, ít tác dụng phụ

Sử dụng sugammadex để hóa giải dãn cơ có

thể tránh được các tác dụng không mong

muốn trên tim mạch và hô hấp do sử dụng

thuốc đối kháng cholinesterase và kháng

muscarinic

Xét về mặt kinh tế, hóa giải bằng

sugammadex tốn kém hơn nhiều so với khi

hóa giải bằng neostigmine phối hợp atropine

(gấp 30 lần) Tuy nhiên, với lợi ích đạt được

khi hóa giải bằng sugammadex so với nguy cơ

khi hóa giải bằng neostigmine thì chúng ta có

thể cân nhắc sử dụng, đặc biệt là các trường hợp có chống chỉ định hoặc nhiều nguy cơ nếu

hóa giải bằng neostigmine

KẾT LUẬN

Hóa giải dãn cơ bằng sugammadex giúp rút ngắn thời gian đáp ứng chuỗi 4 đạt 0,9 so với neostigmine, từ đó làm giảm thời gian chờ rút nội khí quản

Sugammadex là thuốc hóa giải dãn cơ an toàn, giảm tác dụng phụ như tăng tiết đàm, khô miệng, và thay đổi nhịp tim so với hóa giải với neostigmine phối hợp atropine

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Blobner M, Eriksson LI, Scholz J, et al (2010) “ Reversal of

sugammadex compared with neostigmine during sevoflurane anaesthesia: results of a randomised, controlled trial” Eur J Anaesthesiol, 27(10): 874-881

“Anovelconcept of reversing neuromuscular block: chemical encapsulation of rocuronium bromide by a cyclodextrin-based synthetic host” Angewandte Chemie - International Edition, 41(2): 266–270

3 Debaene B, Plaud B, Dilly M-P, et al.(2003) “ Residual paralysis in the PACU after a single intubating dose of nondepolarizing muscle relaxant with an intermediate duration of action” Anesthesiology, 98(5): 1042-1048

4 Hans D de Boer, Jacques J Driessen, Marco A E Marcus

et al.(2007) “ Reversal of Rocuronium-induced (1.2

Sugammadex” Anesthesiology, 107(2): 239–244

5 Jones RK, Caldwell JE, Brull SJ, et al.(2008) “ Reversal of

neostigmine” Anesthesiology, 109(5): 816-824

“Sugammadex provides faster reversal of

neostigmine: a multicenter, randomized, controlled trial” Anesth Analg, 110(1):64-73

7 Koen Suy, Karl Morias, Guy Cammu et al (2007) “ Effective Reversal of Moderate Rocuronium- or

Sugammadex, a Selective Relaxant Binding Agent” Anesthesiology, 106 (2): 283–288

8 Ledowski T, Falke L, Johnston F et al (2013)

“Retrospective investigation of postoperative outcome

blockade:Sugammadex, neostigmine or no reversal” Eur J Anaesthesiol (Epub ahead of print)

9 Maybauer DM, Geldner G, Blobner M, et al.(2007) “ Incidence and duration of residual paralysis at the end of surgery after multiple administrations of cisatracurium

and rocuronium” Anaesthesia, 62(1):12-17

Trang 7

10 Murphy GS, Szokol JW, Marymont JH, et al.(2008)

respiratory events in the postanesthesia care unit” Anesth

Analg, 107(1): 130-137

11 Nguyễn Trung Thành, Đinh Hữu Hào (2014) “Hóa giải

dãn cơ rocuronium bằng sugammadex” Tạp chí Y học

thực hành, 939: 43-45

12 Sacan O, White PF, Tufanogullari B, Klein K (2007)

neuromuscular blockade: a comparison with

neostigmine-glycopyrrolate and edrophonium-atropine” Anesth

Analg, 104(3):569-74

13 Schaller SJ, Fink H (2013), “ Sugammadex as a reversal agent for neuromuscular block: an evidence-based review

” Dove press journal, 8: 57-67

14 Staals LM, Snoeck MM, Driessen JJ, Flockton EA et al (2008) “Multicentre, parallel-group, comparative trial evaluating the efficacy and safety of sugammadex in patients with end-stage renal failure or normal renal function” Br J Anaesth, 101(4):492-7

Ngày đăng: 15/01/2020, 01:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w