1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp bằng Holter ECG trong vòng 24h sau nhập viện

7 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 329,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát các biến chứng rối loạn nhịp ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp (HCMVC) bằng Holter ECG trong vòng 24h sau nhập viện.

Trang 1

KHẢO SÁT RỐI LOẠN NHỊP TIM

Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP BẰNG HOLTER ECG TRONG VÒNG 24H SAU NHẬP VIỆN

Tôn Thất Minh*, Nguyễn Tấn Khang**

TÓM TẮT

Mở đầu: Ngày nay mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị bệnh động mạch vành, tuy nhiên tỉ lệ tử vong

do bệnh vẫn còn cao Tử vong do bệnh động mạch vành chủ yếu vẫn là do các rối loạn nhịp

Mục tiêu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát các biến chứng rối loạn nhịp ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp (HCMVC) bằng Holter ECG trong vòng 24h sau nhập viện

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu Từ tháng 09/2012 – 06/2013 tại Viện Tim, chúng tôi đã thu thập được 61 bệnh nhân được chẩn đoán HCMVC đủ tiêu chuẩn nghiên cứu gồm nhồi máu cơ tim ST chênh, nhồi máu cơ tim không ST chênh và đau thắt ngực không ổn định Tất cả bệnh nhân đều được khảo sát các rối loạn nhịp bằng Holter ECG trong vòng 24h sau nhập viện

Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy đo ECG thông thường chỉ phát hiện được 32,8% bệnh nhân có rối loạn nhịp, trong khi đó Holter ECG cho thấy có đến 98,4% bệnh nhân có rối loạn nhịp Trong đó, chiếm nhiều nhất là ngoại tâm thu trên thất (93,4%) Thứ 2 là ngoại tâm thu thất chiếm 90, 1% Các loại rối loạn nhịp nguy hiểm ( bao gồm ngưng tim, rung thất, nhịp nhanh thất kéo dài, block A-V độ II – III) chiếm 9,9%

Kết luận: Đa phần bệnh nhân HCMVC đều bị rối loạn nhịp tim trong vòng 24h sau nhập viện Hầu hết rối loạn nhịp xảy ra ở bệnh nhân có nhồi máu cơ tim Sử dụng Holter ECG 24h rất hữu ích trong việc phát hiện các rối loạn nhịp ở bệnh nhân HCMVC trong vòng 24h sau nhập viện

Từ khóa: Hội chứng mạch vành cấp, nhồi máu cơ tim cấp, rối loạn nhịp, bệnh động mạch vành

ABSTRACT

EVALUATE CARDIAC ARRHYTHMIAS IN ACUTE CORONARY SYNDROME PATIENTS

BY ECG HOLTER WITHIN 24 HOUR AFTER ADMISSION

Ton That Minh, Nguyen Tan Khang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 1 - 2016: 174 - 180

Background: Though the management of coronary artery disease is more advanced now a days It is still having higher incidence, morbidity, and mortality The mortality and morbidity are mainly due to the development of arrhythmias

Objective: Our studyto evaluate arrhythmic complications in ACS patients by ECG Holter within 24 hour after admission

Material and Method: From 09/2012 to 06/2013 at Heart Institute HCMC, we studied 61 consecutive patients who presented with ACS including ST elevationmyocardial infarction (STEMI), non-ST elevation myocardial infarction (NSTEMI) and unstable angina (UA) All patients were evaluated arrhythmic complications by ECG Holter within 24 hour after admission

Results: In our study, only 32.8% of patients showed arrhythmias on common ECG, while 98.4% of

Trang 2

patients showed some kind of arrhythmias on 24-hour ECG Holter monitoring Supraventricular premature beats (93.4%) was the most common arrhythmia Ventricular premature beats being the second most common (90.1%) The incidence of serious cardiac arrhythmias (include cardiac arrest, ventricular fibrillation, sustained ventricular tachycardia, second or third degree AV block) was 9.9%

Conclusion: Most of the patients with ACS develop some kind of arrhythmias within 24 hour after admission Most of the arrhythmias developed in patients with acute myocardial infarction Use 24-hour ECG Holter monitoring is more useful in evaluating arrhythmias in ACS patients within 24 hour after admission Key words: Acute coronary syndrome, acute myocardial infarction, arrhythmias, coronary artery disease

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng mạch vành cấp (HCMVC), một

cấp cứu của bệnh lý động mạch vành (ĐMV),

là một thuật ngữ bệnh học dùng để chỉ một

nhóm bệnh lý có liên quan chặt chẽ với nhau

về cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng,

hướng xử trí và tiên lượng, bao gồm: đau thắt

ngực không ổn định (ĐTNKÔĐ), nhồi máu cơ

tim không ST chênh lên (NMCT KSTC) và

nhồi máu cơ tim ST chênh lên (NMCT

STC)(2,1,10) Các nguyên nhân gây tử vong hàng

đầu của HCMVC là choáng tim, phù phổi cấp,

vỡ tim…trong đó loạn nhịp tim là một nguyên

nhân hay gặp, đặc biệt là đột tử do nhanh thất,

rung thất và ngưng tim Rối loạn nhịp tim với

nhiều dạng khác nhau xảy ra khoảng 75 - 90%

các trường hợp HCMVC và khoảng 25% các

rối loạn này xảy ra trong 24 giờ đầu Theo dõi

nhịp tim liên tục bằng Holter điện tim 24 giờ

đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi nhiều

nơi trên thế giới để chẩn đoán và theo dõi các

rối loạn nhịp tim trong nhiều bệnh tim mạch

khác nhau, như tăng huyết áp (THA), đái tháo

đường, bệnh tim thiếu máu cục bộ…(5,7) Sử

dụng Holter ECG trên bệnh nhân HCMVC để

theo dõi, phát hiện các biến cố loạn nhịp tim,

nhất là trong 24-48 giờ đầu sau NMCT giúp

bác sĩ lâm sàng có thêm thông tin hỗ trợ điều

trị, tiên lượng cũng như có các biện pháp can

thiệp, phòng ngừa đột tử thích hợp Do đó,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khảo sát các

dạng loạn nhịp trên bệnh nhân HCMVC bằng

Holter ECG trong vòng 24h sau nhập viện” tại

Viện Tim TP HCM từ 9/2012-6/2013

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Dân số nghiên cứu

Bệnh nhân (BN) nhập viện tại khoa Cấp cứu

và Hồi sức Tim (USIC) và khoa Nội tim mạch, Viện Tim Tp Hồ Chí Minh

Đối tượng chọn mẫu

Các BN được chẩn đoán HCMVC theo tiêu chuẩn chẩn đoán ESC/ACC/AHA/WHO 2007(4)

có thời gian đeo Holter đạt được 100% (thời gian phân tích từ 22 giờ trở lên) đang được theo dõi

và điều trị tại khoa trên không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, độ tuổi… đồng ý tham gia nghiên cứu và không nằm trong tiêu chuẩn loại trừ

Tiêu chuẩn loại trừ

BN không đồng ý tham gia nghiên cứu (NC)

BN có kết quả Holter không đạt tiêu chuẩn: thời gian phân tích điện tim không đủ (<22 giờ), chất lượng không đạt có quá nhiều hình ảnh giả

do nhiễu

BN đau ngực cấp tính nặng do các bệnh lý khác không phải HCMVC

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

khoa Hồi sức tim và khoa Nội tim mạch Viện Tim Tp Hồ Chí Minh từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, tiền cứu

Trang 3

Phương pháp chọn mẫu

Trong NC này chúng tôi áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, với những BN nhập viện thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và loại ra những

BN nằm trong tiêu chuẩn loại trừ

Cách thức tiến hành nghiên cứu

Dụng cụ thu thập số liệu

Bảng thu thập số liệu đã được thiết kế trước

Kỹ thuật thu thập số liệu

Cách tiến hành lấy mẫu: Các BN thỏa tiêu chuẩn HCMVC, được hỏi bệnh, khám tổng quát, tiến hành đặt Holter, ghi nhận kết quả các xét nghiệm dựa trên bộ công cụ đã được thiết kế

Các kỹ thuật thực hiện

Các xét nghiệm được thực hiện tại phòng xét nghiệm của Viện Tim đã được chuẩn hoá: hs cTnT, CK-MB, NT-proBNP, Lipid máu, hs CRP,

đo nồng độ ion K+, Creatinin, HbA1c…Máy điện tim thường quy 3 cần.Máy Holter điện tim Braemar DL 900 do hãng Advanced Biosensor, Hoa Kỳ sản xuất và phần mềm xử lý kèm theo, máy tính để bàn, máy in, giấy A4, các miếng dán điện cực, pin

Mắc Holter điện tim 24 giờ

BN nhập viện Khoa hồi sức tim và Khoa nội tim mạch được tiến hành đặt Holter điện tim theo dõi ngay sau khi được chẩn đoán HCMVC cấp.Quy trình kỹ thuật đặt Holter điện tim như sau: giải thích mục đích của việc đặt máy và hướng dẫn người nhà lau sạch vùng ngực để tiếp xúc tốt giữa điện cực và thành ngực, cách bảo quản máy như không được làm ướt máy ghi, không tự ý tháo máy Lắp pin và thẻ nhớ, nhập code của BN, dán điện cực, lắp máy vào cho BN đeo.Các ĐTĐ ghi trên máy Holter 24 giờ đạt chất lượng và thời gian đánh giá từ 22 giờ trở

lên được chọn vào mẫu để phân tích

Phân tích và xử lý số liệu Bằng phần mềm thống kê SPSS 13.0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Từ tháng 09/2012 đến 06/2013, tại Viện Tim TP HCM chúng tôi thu nhận được 61 bệnh nhân HCMVCgồm 15 (24,5%) bệnh nhân ĐTNKÔĐ, 21 (34,4%) bệnh nhân NMCTKSTC và 24 (39,3%) bệnh nhân NMCTSTC

Đặc điểm về tuổi và giới

Bảng 1 Đặc điểm Tuổi và Giới của mẫu NC

p>0,05

Nhận xét: trong tổng số 61 đối tượng được

NC, BN Nam chiếm tỷ lệ 70,5 %, Nữ 29,5% Tuổi trung bình cả hai giới là 64±11 tuổi.Tương đồng với kết quả của Hoàng Quốc Hoà có tuổi trung bình khoảng từ 60-69(3)

Đặc điểm loạn nhịp tim của bệnh nhân HC MVC

Đặc điểm nhịp tim trên ĐTĐ thông dụng và Holter điện tim 24 giờ

Bảng 2 So sánh các loạn nhịp tim trên ĐTĐ thông dụng và Holter điện tim

(*): Nhịp nhanh thất kéo dài đo được trên ĐTĐ thường quy ngay lúc BN vào cấp cứu và được xử trí tại chổ, BN này không xuất hiện lại nhịp nhanh thất lúc gắn Holter

Nhận xét: Tỷ lệ loạn nhịp trên ĐTĐ thường quy là 32,8 %, trên Holter điện tim 24 giờ là 98,4% Kết quả phân tích Holter điện tim 24 giờ

35.35%

Trang 4

nhịp và tần suất xảy ra các loạn nhịp trên Holter

điện tim 24 giờ cao hơn đáng kể so với ĐTĐ

thường quy ghi ở một thời điểm, nhìn chung

điều này cũng tương đồng với các kết quả NC

khác(9) Qua theo dõi Holter điện tim 24 giờ

chúng tôi phát hiện 98,4% HC MVC có rối loạn

nhịp, trong đó 57 BN có NTT thất chiếm tỷ lệ

90,1%, NTT trên thất cũng có tỷ lệ cao tương

đương 93,4%, nhanh nhĩ 9,8%, cơn nhịp nhanh

thất ngắn 8,2% Ngoài ra Holter nhịp tim còn

phát hiện một vài BN có block nhĩ thất độ II

Mobitz type 2 (3,3%), khoảng ngừng tim trên 2

giây (3,3%)(6)

Đặc điểm các dạng loạn nhịp tim trên Holter

điện tim 24 giờ

Bảng 3 Đặc điểm chi tiết NTT trên thất (n = 57)

Số NTT

trênthất

Số lượng / 24

giờ

242,82±

54,82

< 10 NTT trên thất/giờ

40 (70,2%)

thất/giờ

17 (29,8%)

Nhận xét: Số lượng NTT trên thất trung bình

là 242,8/24 giờ, gần 30% BN có NTT trên thất >10

lần/phút Khi so sánh về tỷ lệ NTT trên thất ở BN

HCMVC trong NC của chúng tôi và nhóm

không có bệnh lý tim mạch và nội khoa trong

NC của Huỳnh Văn Minh gần tương đương

nhau, số lượng NTT trên thất trên giờ trung bình

trong NC của Huỳnh Văn Minh là 9,0±5,01(5)

Bảng 4 Đặc điểm chi tiết của NTT thất (n = 55)

Dạng

NTTthất

giờ

804±270,6

Nhịp đôi

21 (38,1%) Phân độ theo Lown Tần suất (%)

≥ 10 nhịp giờ

19 (34,5%)

2 ( 30nhịp /giờ) 5 (9,1%)

4a (2NTT liên tiếp) 4 (7,27%) 4b (3NTT liên tiếp) 5 (9,1%)

(NTT thất nhịp đôi (bigeminy): 1 nhịp NTT đi sau mỗi nhát xoang bình thường; NTT thất nhịp ba (trigeminy): 1 nhịp NTT đi sau mỗi 2 nhát xoang bình thường) (11)

Nhận xét: Số lượng NTT thất trung bình là

804 nhịp/24giờ hay 33,5 nhịp/giờ Trên 10 NTT thất/giờ chiếm 34,5%, NTT thất nhịp đôi chiếm 38,1% NTT thất Lown 1 chiếm tỷ lệ cao nhất 61,8

%, kế đến là Lown 3 chiếm tỷ lệ 12,7%.Nghiên cứu của chúng tôi NTT thất dày ≥ 10 NTT/giờ là 34,5% và NTT thất đa dạng là 12,7%, đây là những đối tượng BN có nguy cơ cao diễn tiến đến các loạn nhịp nguy hiểm(3)

Bảng 5 Liên quan giữa dạng rối loạn nhịp và chẩn đoán

(n = 15)

NMCT KSTC (n = 22)

NMCT STC

Block AV độ

F2=28,8 p>0,05

BAV độ II típ

Bolck xoang

Ngưng

Nhanh

NTT trên

2

=1,83 p>0,05 NTT thất 14 (22,8%) 20 (32,6%) 21 (34,2%)

2

=0,37 p>0,05

F2=3,6 p>0,05

Nhận xét: Hầu hết tỷ lệ các dạng loạn nhịp tim ở hai thể NMCT STC và NMCT KSTC cao hơn thể ĐTNKÔĐ Nhìn chung theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ các loại loạn nhịp tim xảy ra ở BN NMCT cao hơn ĐTNKÔĐ

Trang 5

Bảng 6 Tỷ lệ các dạng loạn nhịp tim theo Vị trí NMCT (n=24)

Nhận xét: Tỷ lệ NTT trên thất, NTT thất trên

BN NMCT thành trước tương đương thành

dưới, cũng như không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê trong phân độ Lown giữa hai vị trí này

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ block nhĩ thất độ III, ngưng xoang, nhanh nhĩ và nhanh thất ngắn với vị trí nhồi máu (F2=6,4, p=0,048)

Bảng 7 Tỷ lệ NTT trên thất và NTT thất theo Phân độ Killip

Killip n=44

p

Phân độ Lown

Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê (F2=11,2, p=0,036) giữa các BN có phân độ

Killlip khác nhau với phân độ Lown tương ứng

và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

giữa số lượng NTT thất/giờ với phân độ Killip của BN (p=0,06)

Bảng 8 Tỷ lệ NTT trên thất và NTT thất theo tiền sử can thiệp ĐMV

Tiền sử can thiệp ĐMV n=61

p

2

2

Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê trung bình số NTT trên thất/giờ giữa nhóm

BN có tiền sử can thiệp ĐMV và không can thiệp với t=2,4, p=0,019

Trang 6

Bảng 9 Phân độ Lown NTT thất theo số nhánh

ĐMV tổn thương

0 n=3

1 n=16

2 n=15

3 n=16

Phân

độ

Lown

(25%)

F2=15,

3 p=0,03

(33,3%)

10 (62,5%

)

9 (60%) 6 (37,5%)

(33,3%)

3, 4a,

4b

1 (33,3%)

2 (12,5%

)

6 (40%) 5 (31,25%)

Nhận xét: Từ kết quả NC chúng tôi nhận

thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa số

nhánh ĐMV tổn thương trên kết quả chụp ĐMV

cản quang với độ nặng của phân độ Lown NTT

thất Dựa vào kết quả chụp ĐMV cản quang,

chúng tôi chia các BN không có tổn thương mạch

vành, có tổn thương 1 nhánh (RCA hoặc LAD

hoặc Cx), 2 nhánh (2 trong 3 nhánh trên) 3 nhánh

hoặc thân chung Theo đó, khoảng 60% BN có

tổn thương 1 hoặc 2 nhánh ĐMV có phân độ

Lown 1-2 trong khi 40% BN tổn thương 2 nhánh

mạch vành và 60% bệnh 3 nhánh mạch vành

hoặc thân chung có phân độ Lown từ 2-4b với

p=0,03 Điều này cho thấy số lượng và tính chất

của NTT thất có liên quan đến tình trạng hẹp

hay tắc động mạch vành và tổn thương cơ tim

do thiếu máu nuôi

Bảng 10 Sự tương quan giữa sự tăng nồng độ hs

Troponin T và số lượng NTT

Số NTT trên thất/giờ 57

p=0,001

33,5±9,1 p=0,000 r=0,747

Nhận xét: Qua kết quả NC, chúng tôi nhận

thấy có sự tương quan thuận có ý nghĩa thống kê

giữa nồng độ hs Troponin T với số lượng các

NTT trên thất và NTT thất trung bình trong 1 giờ

với hệ số tương quan lần lượt là r= 0,415, p=0,001

(cho NTT trên thất) và r=0,747, p=0,00 (cho NTT

thất) Điều này cho thấy NTT thất và trên thất có

liên quan với kích thước nhồi máu được đánh

giá bằng sự tăng cao của men tim Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của nghiên cứu Thai Acute Coronary Syndrome Registry là các dạng loạn nhịp nguy hiểm có tương quang với

sự tăng nồng độ hs Troponin T huyết thanh(7) KẾT LUẬN

Qua khảo sát các dạng loạn nhịp tim bằng Holter điện tim 24 giờ trên 61 bệnh nhân HCMVC ngay sau nhập viện tại Khoa Nội tim mạch và Khoa Hồi sức cấp cứu tim Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi rút ra kết luận sau:

Tỷ lệ loạn nhịp tim xuất hiện trên BN HCMVC phát hiện bằng Holter điện tim 24 giờ

là 98,4%, hai loại loạn nhịp chiếm tỷ lệ cao nhất

là NTT trên thất 93,4%, NTT thất 90,1% Tỷ lệ NTT trên thất dày ≥ 10/giờ là 29,8% NTT thất dày≥ 10/giờ là 90% Tỷ lệ các BN NTT thất có phân độ Lown từ 3 trở lên là 26,2% Tỷ lệ các loạn nhịp nguy hiểm (gồm ngưng tim, rung thất, nhịp nhanh thất kéo dài, block nhĩ thất độ 2-3) là 9,9%.Vị trí nhồi máu thành sau gây các rối loạn nhịp chậm, ngưng xoang, block nhĩ thất và nhịp nhanh thất không kéo dài cao hơn thành trước

có ý nghĩa thống kê Số NTT trên thất/giờ, số cơn nhịp nhanh trên thất và nhanh thất trên BN NMCT cao hơn BN ĐTNKÔĐ Có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa số nhánh ĐMV tổn thương với độ nặng của phân độ Lown NTT thất Có sự tương quan thuận có ý nghĩa thống

kê giữa nồng độ hs Troponin T và số lượng NTT trên thất/giờ và NTT trên thất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anderson JL, Adams CD, Antman EM, et el (2007) “ACC/AHA

2007 Guidelines for the Management of Patients With Unstable Angina/Non ST-Elevation Myocardial Infarction” Circulation

116 pp 148-304

2 Đặng Vạn Phước, Trương Quang Bình (2006) Hội chứng mạch vành cấp -Bệnh động mạch vành trong thực hành lâm sàng NXB Y học TpHCM, trang 209-226

3 Gheeraert PJ, De Buyzere ML, Taeymans YM, et al (2006) “Risk factors for primary ventricular fibrillation during acute myocardial infarction: a systematic review and meta-analysis” European Heart Journal 2006 ( 27), pp 2499–2510

4 Hoàng Quốc Hoà (2010), “Khảo sát thiếu máu cơ tim tồn lưu sau nhồi máu cơ tim cấp”, Tạp chíY học Tp HCM, Vol 14, tr.153-160

Trang 7

5 Huỳnh Văn Minh, Lê Thị Bích Thuận,Nguyễn Tá Đông (2005),

“Nghiên cứu rối loạn nhịp tim ở người trên 60 tuổi bằng Holter

điện tim 24 giờ”, Tạp chí Tim mạch học số 41/2005, tr 12-23

6 Mc Clements BM, Adgey AA (1993), “Value of signal-averaged

electrocardiography, radionuclide ventriculography, Holter

monitoring and clinical variables for prediction of arrhythmic

events in survivors of acute myocardial infarction in the

thrombolytic era” Journal of American College of Cardiology

1993; Vol 21, pp.1419-1427

7 Ngarmukos T, Sriratanasthavorn C, et al (2007) “Cardiac

Arrhythmias in Thai Acute Coronary Syndrome Registry”

Journal of Medical Association Thai Volume 90, pp 58-64

8 Nguyễn Tá Đông (2007), “Nghiên cứu liên quan giữa thiếu máu

cơtim, rối loạn nhịp tim và giảm biến thiên nhịp tim ở bệnh

nhân đái tháo đường típ 2 qua Holter điện tim”, Tạp chí Tim

9 Nguyễn Thị Thêm, Lê Thị Thanh Thái, Đặng Vạn Phước (2002)

“Nghiên cứu rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp bằng điện tâm đồ Holter 24 giờ” Tạp chí Tim Mạch học Việt Nam 2002; 29:308-313

10 Phạm Nguyễn Vinh, Đỗ Thị Kim Chi, Phạm Thu Linh (2006) Hội chứng động mạch vành cấp không ST chênh lên: Đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim không ST chênh lên Bệnh học tim mạch Nhà xuất bản Y học TPHCM, tập 2 trang 99-112

11 Phạm Nguyễn Vinh, Phạm Thu Linh (2003), Sổ tay Điện Tâm

Đồ, NXB Y Học, trang 10-77

Ngày nhận bài báo: 20/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 01:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm