1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối liên quan giữa nồng độ NT-proBNP với mức độ nặng và tiên lượng bệnh nhân hội chứng vành cấp

5 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 340,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ NT-proBNP với mức độ nặng và tiên lƣợng ở bệnh nhân hội chứng vành cấp.

Trang 1

MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ NT-proBNP VỚI MỨC ĐỘ NẶNG VÀ

TIÊN LƯỢNG BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG VÀNH CẤP

Nguyễn Trọng Hiếu *, Nguyễn Thanh Huyền ** Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên*, BSNT Nội K7 ĐH Y Dược Thái Nguyên**

TÓM TẮT

Đặt Vấn Đề: NT-proBNP là một dấu ấn sinh học có vai trò quan trọng trong điều trị

và chẩn đoán bệnh lý tim mạch trong những năm gần đây Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước chứng minh được vai trò quan trọng của nồng độ NT-proBNP trong việc đánh giá tổn thương cũng như tiên lượng ở các bệnh nhân hội

chứng vành cấp Mục Tiêu: Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ NT-proBNP với mức độ nặng và tiên lượng ở bệnh nhân hội chứng vành cấp Phương Pháp: Nghiên

cứu mô tả cắt ngang Chúng tôi thu thập số liệu ở 95 bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng vành cấp và được chụp động mạch vành tại khoa tim mạch Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 5/2015 đến tháng 8/2016 Nồng độ NT-proBNP lúc nhập

viện Kết Quả: Có 95 bệnh nhân hoàn thành mẫu nghiên cứu Độ tuổi trung bình

67.96 ± 11 tuổi, nam chiếm 66,3%, nồng độ NT-proBNP tăng cao hơn nhóm bệnh nhân >65 tuổi , nồng độ NT-proBNP tăng cùng với mức độ tăng của phân độ Killip

có ý nghĩa thống kê với p=0.001 Nồng độ NT-proBNP huyết thanh có liên quan đến

tử vong cũng như biến cố nặng khác ở bệnh nhân hội chứng vành cấp với p=0.012, phân suất tống máu thất trái có liên quan chặt chẽ nồng độ NT-proBNP với p

=0.001[4] Ngoài ra, nồng độ NT-proBNP còn tăng cao tương xứng với số nhánh

động mạch vành bị tổn thương Kết Luận: Nồng độ NT-proBNP ở các bệnh nhân hội

chứng vành cấp khi nhập viện có giá trị tiên lượng mức độ tổn thương động mạch vành, mức độ suy tim cũng như phân suất tống máu thất trái có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Nồng độ NT-proBNP gia tăng tương xứng với mức độ nặng của bệnh nhân

kể cả tử vong tại viện Như vậy nồng độ NT-proBNP có giá trị tiên lượng ngắn hạn tại bệnh viện cho các bệnh nhân hội chứng vành cấp

Từ khóa: hội chứng mạch vành cấp (ACS)

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước phát triển Mặc

dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển cùng với số lượng các thuốc điều trị và dự phòng các bệnh lý tim mạch đặc biệt ngày càng tăng là trong điều trị bệnh lý mạch vành nhưng tỷ lệ bệnh nhân tử vong do hội chứng vành cấp vẫn rất cao[1] Thống kê của các nước châu cho thấy tỷ lệ tử vong trong bệnh viện từ 6 đến 14% và tử vong sau 6 tháng khoảng 12% ở 1 số đối tượng[6] NT-proBNP là một dấu ấn sinh học có vai trò quan trọng trong điều trị và chẩn đoán bệnh lý tim mạch trong những năm gần đây Do đó BNP và NT-proBNP được sử dụng rộng rãi như công cụ lâm sàng để chẩn đoán suy tim cấp do nhồi máu cơ tim gây ra Nhóm nghiên cứu TIMI đã thực hiện vài nghiên cứu cho thấy nồng độ BNP giúp tiên đoán tử vong tim mạch và các biến cố tim mạch nặng khác của hội chứng mạch vành cấp Vì vậy chúng tôi nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ NT-proBNP với mức độ nặng và tiên lượng ở bệnh nhân hội chứng vành cấp

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.Đối tượng nghiên cứu: 95 bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng mạch vành cấp

được chụp động mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ tháng 05/2015 đến tháng 08/2016

Trang 2

Tiêu chuẩn loại trừ: suy thận mạn giai đoạn 4- 5, bóc tách động mạch chủ, nhiễm

khuẩn huyết, nhồi máu phổi, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, tiền sử bệnh van tim, nhồi máu cơ tim trong vòng 6 tháng, tim bẩm sinh có tím, tiền sử tai biến mạch máu não trong vòng 1 năm[1,2], các bệnh nhân không hợp tác

2.2.Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu: thuận tiện, chọn 95 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn

Xử lý và phân tích số liệu: Biến định tính được biểu diễn ở dạng tỷ lệ phần trăm,

biến liên tục được biểu diễn dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn So sánh trị số trung bình của biến liên tục của 2 nhóm bằng T-test So sánh trị số trung bình của biến liên tục của 3 nhóm trở lên bằng test ANOVA

Nhập số liệu trên phần mềm EPIDATA, xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 18

Xét nghiệm NT-proBNP huyết được lấy ngay khi bệnh nhân nhập viện cùng với các xét nghiệm cấp khác Nồng độ NT-proBNP bình thường < 100pg/ml Bệnh nhân được đánh giá phân độ suy tim theo Killip ngay khi nhập viện, phân suất tống máu đánh giá dựa trên siêu âm Doppler màu tim EF> 55% là bình thường, 40% là suy tim phân suất tống máu giảm, 50% là suy tim phân suất tống máu bảo tồn[6], bệnh nhân được đánh giá rối loạn vận động vùng dựa vào siêu âm, đánh giá tình trạng khi ra viện

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân ( n= 95)

Giới

Nam

Tuổi

<50

50 – 65

>65

5 (5,3%)

33 (34,7%)

57 (60%)

Các yếu tố nguy cơ

Tăng huyết áp Đái tháo đường Hút thuốc lá Rối loạn chuyển hóa lipid máu

72 (75,8%)

13 (13,7%)

54 (56,8%)

30 (31,6%)

Phân độ suy tim theo killip

Killip I Killip II Killip III Killip IV

68 (71,6%)

18 (18,9%)

5 (5,3%)

4 (4,2%)

Phân suất tống máu

Bình thường 40%

>40 % và < 55%

61 (64,2%)

16 (16,8%)

18 (18,9%)

Tình trạng bệnh nhân khi ra viện

Tử vong

Ổn định Nặng thêm

7 (7,4%)

Trang 3

Nhận xét: Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 5/2015 đến tháng 7/2016 chúng tôi thu

thập được 95 trường hợp thỏa mãn tiêu chuẩn chọn đối tượng cũng như tiêu chuẩn loại trừ Trong số 95 bệnh nhân có 37 bệnh nhân nhồi máu cơ tim có ST chênh lên và 58 bệnh nhân có hội chứng vành cấp ST không chênh Đặc điểm của bệnh nhân được nêu trên bảng 1 Trong số 95 bệnh nhân có 13 bệnh nhân chỉ điều trị nội khoa thông thường, có 82 bệnh nhân được chụp và can thiệp động mạch vành kết hợp điều trị nội khoa Trong 95 bệnh nhân có 75,8% bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp, 56,8% bệnh nhân có hút thuốc

lá chiếm 85,7% bệnh nhân nam Có 54,7% bệnh nhân có rối loạn vận động vùng, 37,5% bệnh nhân có giảm phân suất tống máu thất trái Có 14,8 % bệnh nhân có biến cố nặng

Bảng 2: Nồng độ NT-proBNP lúc nhập viện của các bệnh nhân theo phân độ Killip

Độ II (n=18) 12730.05 3018,26

Độ III (n=5) 9858.20 4195,39

Độ IV (n=4) 15865.25 8430,65

Nhận xét: Sự gia tăng nồng độ NT-proBNP tương xứng với mức độ suy tim theo

Killip của bệnh nhân khi nhập viện So sánh nồng độ NT-proBNP giữa các nhóm suy tim theo killip cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( với F= 9,284 và p < 0,0001) So sánh nồng độ NT-proBNP từng cặp giữa các nhóm theo phân độ Killip không có mối tương quan chặt chẽ

Bảng 3: Nồng độ NT-proBNP lúc nhập viện xếp theo phân suất tống máu thất trái

EF 55% ( n = 61 ) 2759.73 657.33 0,0001

41% < EF < 54%

(n=18)

5221.67 1966.96

EF 40% ( n= 16) 16064.06 3410.22

Nhận xét: Có sự tương quan giữa nồng độ NT-proBNP giữa các nhóm theo phân suất

tống máu thất trái có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( với F = 15,68 và p=0,0001) So sánh nồng độ NT-proBNP từng cặp giữa các nhóm theo phân suất tống máu thất trái nhận thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ giữa nhóm EF 40% với nhóm EF 55% ( với p=0,0001) và nhóm 41% < EF < 54% ( với p=0,0001) Không có

sự khác biệt ý nghĩa về nồng độ NT-proBNP giữa nhóm EF 55% và nhóm 41% < EF < 54% ( với p=0,23)

Trong số 95 bệnh nhân có 52 bệnh nhân có rối loạn vận động vùng trên siêu âm Doppler màu tim Nồng độ NT-proBNP lúc nhập viện ở bệnh nhân có rối loạn vận động vùng cao hơn có ý nghĩa so với bệnh nhân không có rối loạn vận động vùng ( 8273.142

±10654.33 pg/ml so với 1604.61 ± 3594.87pg/ml với p = 0,0001)

Bảng 4: Nồng độ NT-proBNP lúc nhập viện xếp theo tình trạng bệnh nhân lúc ra viện

Ổn định ( n=81) 4973.17 1008.41

Nặng thêm ( n=7) 3830.47 1350.33

Trang 4

Nhận xét: So sánh nồng độ NT-proBNP giữa các nhóm về tình trạng bệnh nhân khi ra

viện thấy sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê ( với F =4,646 và p=0,012) So sánh từng cặp nồng độ NT-proBNP giữa các nhóm về tình trạng bệnh nhân khi ra viện thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân tử vong với nhóm bệnh nhân ổn định ra viện ( với p=0,003) và nhóm bệnh nhân có biến cố nặng khác ( với p=0,019) Tuy nhiên giữa nhóm bệnh nhân ổn định ra viện với nhóm bệnh nhân có biến

cố nặng lại không có sự khác biệt ý nghĩa ( với p=0,83)

Bảng 5: Nồng độ NT-proBNP xếp theo số nhánh tổn thương của động mạch vành

Số nhánh tổn

thương

Nhận xét: Nồng độ NT-proBNP của bệnh nhân lúc nhập viện tăng theo số lượng

nhánh mạch vành tổn thương có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( với F=5,557 và p=0,005) So sánh từng cặp nồng độ NT-proBNP từng cặp giữa các nhóm bệnh nhân theo

số lượng nhánh động mạch vành tổn thương thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân tổn thương 1 nhánh động mạch vành và nhóm tổn thương 3 nhánh ( với p=0,01) Tuy nhiên, giữa nhóm tổn thương 2 nhánh và nhóm tổn thương 1 nhánh (p=0,053) hay với nhóm tổn thương 3 nhánh (p=0,1) không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

4 BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này chúng tôi chứng minh được sự khác biệt rõ ràng về nồng độ NT-proBNP giữa nhóm bệnh nhân tử vong và nhóm bệnh nhân không có biến cố (ổn định

ra viện) có ý nghĩa thống kê với p=0,025 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phượng trên tiến hành nghiên cứu trên 200 bệnh nhân hội chứng vành cấp không ST chênh lên cũng cho kết quả ở bệnh nhân ACS nồng độ NT-proBNP huyết thanh lúc nhập viện tăng theo mức nguy cơ TIMI So với các bệnh nhân sống sót, bệnh nhân tử vong trong 30 ngày đầu

có nồng độ NT-proBNP huyết thanh lúc nhập viện cao hơn có ý nghĩa thống kê [1] Tiến hành nghiên cứu trên 95 bệnh nhân hội chứng vành cấp kết quả chúng tôi thu được giữa các nhóm có phân suất tống máu thất trái bình thường, phân suất tống máu giảm và 40 %< EF < 55% có sự gia tăng nồng độ NT-proBNP cùng với mức độ giảm của phân suất tống máu thất trái có ý nghĩa thống kê với p = 0,0001 NT-proBNP là yếu tố tiên đoán độc lập khả năng suy tim sau hội chứng vành cấp Các nghiên cứu khác cũng cho rằng nồng độ NT-proBNP huyết thanh tương quan nghịch với phân suất tống máu thất trái Nghiên cứu của Estrada N trên 1483 bệnh nhân HCVC không có ST chênh lên Chức năng thất trái bình thường (EF ≥50%), rối loạn chức năng thất trái: nhẹ (EF 40-49%), trung bình (EF 30-39%) và nặng (EF <30%) Mức gia tăng nồng độ NT-proBNP liên quan có ý nghĩa với sự giảm chức năng thất trái (p< 0,0001) [4]

Mức tăng nồng độ NT-proBNP huyết thanh liên quan trực tiếp đến độ nặng bệnh động mạch vành và khác nhau có ý nghĩa giữa các nhóm tổn thương 1 nhánh, nhánh hay

3 nhánh với p < 0,001 Nghiên cứu trên 585 bệnh nhân hội chứng vành cấp không ST chênh lên kết quả mức tăng nồng độ NT-proBNP huyết thanh tỷ lệ thuận với mức độ tổn thương động mạch vành [4]

Trang 5

5 KẾT LUẬN

Nồng độ NT-proBNP huyết thanh ở bệnh nhân bệnh động mạch vành ổn định là một chất chỉ điểm mạnh và chặt chẽ đến các biến cố tim mạch đặc biệt là tiến triển suy tim

và tử vong

Nguy cơ biến cố tim mạch liên quan đến tăng nồng độ NT-proBNP huyết thanh độc lập với các yếu tố nguy cơ khác như tuổi, giới, rối loạn chức năng thất, độ rộng thiếu máu

cơ tim, chức năng thận, CRP và Troponin

Giá trị nồng độ NT-proBNP huyết thanh có thể dự đoán tổn thương động mạch vành

Sự liên quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết thanh với số lượng và độ nặng của tổn thương động mạch vành hẹp ở bệnh nhân bệnh động mạch vành đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu lâm sàng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Thu Phượng, Hồ Huỳnh Quang Trí, (2015), Nghiên cứu giá trị tiên lượng tử vong của NT-proBNP ở bệnh nhân hội chứng vành cấp, Tạp chí Tim

mạch học Việt Nam, 70, tr.30-35

2 Bayir, Y., E Cadirci, et al (2009) Effects of Lacidipine, Ramipril and Valsartan

on Serum BNP Levels in Acute and Chronic Periods Following Isoproterenol-Induced Myocardial Infarction in Rats.Eurasian J Med 41(1): 44-8

3 Dorobantu, M., A G Fruntelata, et al.B-Type Natriuretic Peptide (BNP) and Left Ventricular (LV) Function in Patients with ST-Segment Elevation Myocardial Infarction (STEMI) Maedica (Buchar) 5(4): 243-9

4 Estrada N, Rubinstein F, Bahit MC, et al (2006), NT pro-brain natriuretic peptide predicts complexity and severity of the coronary lesions inpatients with non–ST-elevation acute coronary syndromes, Am Heart J,151(5), pp.1100e1-1100e7

5 O'Gara PT, Kushner FG, Ascheim DD, et al,(2014), 2013 ACCF/AHA guideline for the management of ST-elevation myocardial infarction a report of the American College of Cardiology foundation/American Heart Association Task Force on practice guidelines, Circulation, 130, pp.344-426

6 Steg PG, James SK, Atar D, el al,(2012), ESC guidelines for the management of acute myocardial infarction in patients presenting with ST-segment elevation The Task Force on the management of ST-segment elevation acute myocardial infarction of the European Society of Cardiology Eur Heart J doi: 10.1093/eurheartj/ehs215

7 Takada, J Y., R B Ramos, et al BNP and admission glucose as in-hospital mortality predictors in non-ST elevation myocardial infarction ScientificWorldJournal 2012: 397915

Ngày đăng: 15/01/2020, 01:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w