1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, dịch tễ trên bệnh nhân nhiễm nấm da tại Bệnh viện Da Liễu TP. HCM

6 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 448,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát một số đặc điểm về dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân nhiễm nấm da tại bệnh viện Da Liễu, tỉ lệ nhiễm các loại sợi tơ nấm vách ngăn.

Trang 1

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, DỊCH TỄ

TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM NẤM DA TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TP HCM

Hà Mạnh Tuấn *,** , Vũ Quang Huy *,**,*** , Trần Phủ Mạnh Siêu * , Nguyễn Quang Minh Mẫn *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát một số đặc điểm về dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân nhiễm nấm da tại bệnh

viện Da Liễu, tỉ lệ nhiễm các loại sợi tơ nấm vách ngăn

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang Bệnh nhân được chẩn đoán vi nấm bằng kỹ thuật xét nghiệm

tìm vi nấm trên bệnh phẩm soi tươi Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát phỏng vấn bệnh nhân để thu thập một số thông tin về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và kết quả cận lâm sàng trên 207 bệnh nhân đưa vào nghiên cứu Áp dụng kỹ thuật cấy định danh sợi tơ nấm vách ngăn

Kết quả: Sợi tơ nấm vách ngăn (STNVN) 55%, Pityrosporum orbiculare (P.O) 27,5%, nấm men 17,5%

Triệu chứng lâm sàng điển hình ở vi nấm là ngứa với 83%, tỉ lệ nhiễm nấm ở nam nhiều hơn nữ (54,1% và 45,9%) và phần lớn trong độ tuổi từ 16-30 tuổi (48,8%) và số bệnh nhân ở TP Hồ Chí Minh cao hơn ở tỉnh thành khác (59,9% và 40,1%) Kết quả định danh sợi tơ nấm vách ngăn là Trichophyton rubrum 29,3%, Trichophyton mentagrophytes 20,7%, Trichophyton tonsurans 25,6%, Trichophyton schoenleinii 1,2%, Microsporum audouinii 2,4%, Microsporum gypseum 7,3%, Epidermophyton floccosum 3,7%

Kết luận: Ngứa là triệu chứng thường gặp ở bệnh nấm da, phổ biến ở nhóm 16-30 tuổi, với phần nhiều

bệnh nhân đến từ TP Hồ Chí Minh Sợi tơ nấm vách ngăn chiếm tỉ lệ cao nhất trong các loại nấm nhiễm trên da

và tác nhân gây bệnh nhiều nhất là Trichophyton rubrum

Từ khoá: nấm da, sợi tơ nấm vách ngăn

ABSTRACT

SOME CLINICAL, SUBCLINICAL CHARACTERISTICS, EPIDEMIOLOGICAL SITUATION OF FUNGI

ON THE SKIN AT HCMC HOSPITAL OF DERMATO VENEREOLOGY

Ha Manh Tuan, Vu Quang Huy, Tran Phu Manh Sieu, Nguyen Quang Minh Man

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 194 – 199

Objective: Survey some epidemiological, clinical and subclinical characteristics in patients with fungi on the skin infections at HCMC Hospital of Dermato Venereology, prevalence of dermatophytes

Methods: The patient was diagnosed with microscopy by testing to find fungi on skin Using the

questionnaire to interview patients to collect some information on epidemiological, clinical and subclinical characteristics in 207 patients Applying the testing of identifying dermatophytes

Result: Dermatophytes 55%, Pityrosporum orbiculare 27.5%, Yeasts 17.5% Typical clinical symptoms in

fungi on the skin are pruritus with 83%, male infection rate is higher than that of women (54.1% and 45.9%) and most are the ages of 16-30 (48.8%) and patients in HCMC is higher than in other provinces (59.9% and 40.1%) Results of identification of dermatophytes were Trichophyton rubrum 29.3%, Trichophyton mentagrophytes 20.7%, Trichophyton tonsurans 25.6%, Trichophyton 1.2%, Microsporum audouinii 2.4%, Microsporum

gypseum 7.3%, Epidermophyton floccosum 3.7%

Conclusion: Pruritus is a common symptom of fungi on skin disease, common in the age of 16-30, with

*Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh **Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

***Trung tâm Kiểm chuẩn chất lượng Y học - Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS Hà Mạnh Tuấn ĐT: 0903311709 Email: hamanhtuan@ump.edu.vn

Trang 2

most patients coming from Ho Chi Minh City Dermatophytes have the highest fungi rate on the skin, with Trichophyton rubrum being the most common.

Key words: fungi on the skin, dermatophytes

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh nấm da có ở khắp nơi trên thế giới,

trong đó sợi tơ nấm có vách ngăn là loại thường

gặp nhất trong các bệnh nấm da do vi nấm cạn

trên người, gây ảnh hưởng 20-25% dân số toàn

cầu(4,9) Loại vi nấm hay gặp nhất ở da là dạng sợi

tơ nấm vách ngăn (STNVN)(8,9) Tại khoa xét

nghiệm bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh,

hiện đang phục vụ bệnh nhân đến chẩn đoán

nấm da bằng kỹ thuật soi tươi tìm sợi tơ nấm

vách ngăn, nấm men và nấm lang ben

Bệnh nấm da ảnh hưởng sức khỏe, chất

lượng sống, tâm lý và chi phí cho người bệnh,

cho xã hội(2) Tuy nhiên nhiễm nấm da là một

tình trạng không quá mức ảnh hưởng nặng nề

đến sức khỏe nên người bệnh ít quan tâm lo

lắng, hơn nữa đường dùng chủ yếu là bôi ngoài

da vì vậy người bệnh thường tự đi mua thuốc

mà không cần kê đơn và hướng dẫn của thầy

thuốc, cũng như tự điều trị và ngưng thuốc khi

thấy triệu chứng đỡ Chính những yếu tố trên đã

làm cho tình trạng nhiễm nấm dễ bị kháng

thuốc, nhiễm nấm mạn tính… dẫn đến những

khó khăn trong chẩn đoán và điều trị

Chính vì vậy, nghiên cứu chúng tôi thực

hiện để tìm hiểu về một số đặc điểm lâm sàng,

cận lâm sàng và dịch tễ trên bệnh nhân nhiễm

nấm da tại bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh

Qua khảo sát chúng tôi thấy sợi tơ nấm vách

ngăn chiếm tỉ lệ trội hơn ở các bệnh nấm trên da,

nên trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi

lựa chọn triển khai kỹ thuật cấy và cấy định

danh trên kính để xác định tỉ lệ các loại nấm

vách ngăn, hỗ trợ bác sĩ lâm sàng trong điều trị,

cũng như phục vụ cho những nghiên cứu

chuyên môn sâu hơn

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát được một số đặc điểm lâm sàng,

cận lâm sàng, tình hình nhiễm nấm da và tỉ lệ

các loại sợi nấm vách ngăn tại bệnh viện Da Liễu

TP Hồ Chí Minh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu

Trong đó: n: cỡ mẫu = 207, chọn mức sai số d=0,05

α: độ tin cậy = 95% Z = 1,96 (Z: trị số từ phân phối chuẩn)

P: tỉ lệ bệnh nhân nhiễm nấm da là 16%

(Thực hiện Pilot từ tháng 08/2018 đến tháng 10/2018 tại bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh)

Thời gian thực hiện

Từ tháng 09/2018 – 05/2019

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân ngoại trú được bác sĩ chẩn đoán nấm da khi đến khám tại bệnh viện Da Liễu TP

Hồ Chí Minh từ tháng 02/2019 đến tháng 04/2019, có kết quả soi tươi tìm thấy vi nấm Đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Tiến hành phỏng vấn bệnh nhân bằng bộ câu hỏi khảo sát về một số đặc điểm lâm sàng, cận lân sàng, dịch tễ trên bệnh nhân có kết quả soi tươi tìm thấy vi nấm trên da Thực hiện nuôi cấy định danh vi nấm trên mẫu da dương tính với sợi tơ nấm vách ngăn:

Cấy mẫu da vào môi trường Sabouraud có Chloramphenicol 0,05g/l và Cycloheximide 0,5g/l, để ở nhiệt độ phòng Theo dõi, quan sát

sự phát triển của vi nấm vào các ngày 3, 7, 10, 14,

21, 28, 35, 45

Vi nấm phát triển đủ độ, quan sát vi, đại thể xác định hình thái khúm nấm

Tiến hành kỹ thuật cấy trên kính

Trang 3

Theo dõi, quan sát sự phát triển của vi nấm

vào các ngày 3, 7, 10, 14, 21, 28, 35, 45

Theo dõi, thấy nấm mọc trên lá kính, quan

sát dưới kính hiển vi với phẩm xanh LPCB

Dựa vào đặc điểm khúm nấm, thời gian mọc,

quan sát hình thể dưới kính hiển vi định tên loài

KẾT QUẢ

Một số đặc điểm dịch tễ

Tổng số 207 bệnh nhân

Bảng 1: Tỉ lệ nhiễm các loại nấm da và phân bố theo

nơi cư ngụ

Nơi sống P.O Nấm men STNVN Tổng

TP.HCM 42 (73,6%) 25 (69,4%) 57 (50%) 124(59,9%)

Tỉnh thành

Bảng 2: Tỉ lệ nhiễm nấm da phân bố theo nhóm tuổi

Tuổi P.O Nấm men STNVN Tổng

16-30 31 (30,6%) 9 (9,1%) 61 (60,3%) 101 (48,8%) 31-45 18 (32,7%) 9 (16,4%) 28 (50,9%) 55 (26,6%)

Bảng 3: Tỉ lệ nhiễm nấm da phân bố theo giới tính

Giới tính P.O Nấm men STNVN Tổng

Một số đặc điểm lâm sàng

Bảng 4: Tỉ lệ phân bố theo triệu chứng lâm sàng các

loại nấm da

Triệu chứng Ngứa da Đau rát Đỏ da Rạn da

Nấm men 26 (72,2%) 20 (55,6%) 17 (47,2%) 1 (2,8%) STNVN 110 (96,5%) 70 (61,4%) 103 (90,4%) 17 (14,9%)

Bảng 5: Tỉ lệ phân bố theo vị trí sang thương các loại nấm da

Vị trí Đầu, mặt, cổ Thân Mông bẹn Tay Chân >2 vị trí

Kết quả cận lâm sàng

Bảng 6: Kết quả xét nghiệm soi tươi vi nấm

Loại nấm nhiễm Tần số Tỉ lệ (%)

Bảng 7: Kết quả nuôi cấy STNVN

Cấy STNVN Mọc Không mọc

Nhóm Tần số Tỉ lệ %

Bảng 8: Kết quả định danh STNVN

Loại STNVN Tần số Tỉ lệ %

Loại STNVN Tần số Tỉ lệ %

BÀN LUẬN

Với 207 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có

114 bệnh nhân nhiễm STNVN (55%), 57 bệnh nhân nhiễm P.O (27,5%) và 36 bệnh nhân nhiễm nấm men (17,5%), chúng tôi có những nhận xét như sau:

Nơi cư ngụ

Theo kết quả khảo sát thì tỉ lệ bệnh nhân cư trú tại TP Hồ Chí Minh là 124 bệnh nhân (59,9%) và ở các địa phương khác là 83 (40,1%) Đây có thể do nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh Tỉ lệ này bằng nhau ở nhóm STNVN với

57 người (50%) đến từ TP Hồ Chí Minh và 57 người (50%) đến từ tỉnh thành khác Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Lee là 84,5% bệnh nhân thành thị và 15,5% bệnh nhân vùng khác(5) Trong nghiên cứu của Nguyễn Thái Dũng thì tỉ lệ bệnh nhân ở nông thôn nhiều hơn

Trang 4

thành thị(7) Đây có thể do nguyên nhân nghiên

cứu này thực hiện ở Nghệ An, nơi vẫn còn nhiều

hoạt động nông nghiệp nên sự khác biệt này có

tính khách quan, tùy thuộc nơi thực hiện nghiên

cứu, thời điểm nghiên cứu Ở nhóm P.O và nấm

men, tỉ lệ bệnh nhân ở TP Hồ Chí Minh so với

tỉnh thành khác là 42 (73,6%) và 25 (69,4%) so với

15 (26,4%) và 11 (30,6%) Điều này có thể do

bệnh nhân chưa chú trọng nhiều đến tình trạng

bệnh, do thể bệnh không ảnh hưởng nhiều, nên

những bệnh nhân ở xa không đến trực tiếp bệnh

viện Da Liễu mà điều trị tại địa phương

Độ tuổi trong nghiên cứu

Trong tổng số 207 bệnh nhân tham gia

nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy độ tuổi nhỏ

nhất là 1 tuổi và cao nhất là 69 tuổi Tuổi trung

bình là 32 ± 14,23 tuổi Qua đó cho thấy bệnh

nấm da có ở mọi lứa tuổi Độ tuổi chiếm nhiều

nhất trong nghiên cứu là 16-30 tuổi, chiếm tỉ lệ

48,8% (101 bệnh nhân) Trong đó, STNVN chiếm

60,3% (61 bệnh nhân), tiếp theo là P.O chiếm

30,6% (31 bệnh nhân), ít nhất là nấm men 9,1% (9

bệnh nhân) Theo sau là nhóm 31-45 tuổi với

26,6% (55 bệnh nhân) Trong đó, tỉ lệ STNVN là

50,9% (28 bệnh nhân), P.O là 32,7% (18 bệnh

nhân), ít nhất là nấm men 16,4% (9 bệnh nhân)

Nhóm tuổi 46-60 chiếm 15,5% (32 bệnh nhân),

với tỉ lệ STNVN là 62,5% (20 bệnh nhân), nấm

men là 25% (8 bệnh nhân), P.O là 12,5% (4 bệnh

nhân) Ở nhóm tuổi ≤15 thì chiếm tỉ lệ 5,8% (12

bệnh nhân), trong đó chiếm tỉ lệ nhiều lại là nấm

men với 50% (6 bệnh nhân), P.O là 33,3% (4 bệnh

nhân), STNVN chỉ chiếm 16,7% (2 bệnh nhân)

Cuối cùng với tỉ lệ ít nhất 3,3% (7 bệnh nhân) là

nhóm >60 tuổi Trong đó, nấm men chiếm 57,1%

(4 bệnh nhân), STNVN là 42,9% (3 bệnh nhân) và

không có bệnh nhân nào nhiễm P.O

Như vậy, trong nhóm tuổi từ 16 đến 60 thì

tỉ lệ STNVN vẫn chiếm ưu thế Khác biệt chỉ

xảy ra ở nhóm từ 15 tuổi trở xuống và trên 60

tuổi với tỉ lệ nấm men nhiều hơn, điều này có

thể do điều kiện vệ sinh ở trẻ nhỏ và người cao

tuổi không tự bản thân chăm sóc tốt được nên

dễ tạo điều kiện cho nấm men phát triển ở kẽ

bẹn, mông Theo nghiên cứu của Surendran KAK thì nhóm tuổi 16-30 chiếm nhiều nhất(12) Kết quả nghiên cứu của tác giả Rezaei-Matehkolaei(11) Pauld(10) và Agarwal(1) cũng cho

tỉ lệ nhiễm nấm cao nhất ở nhóm 21-30 tuổi Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thái Dũng cũng cho tỉ lệ nhiễm nấm cao nhất ở nhóm

20-29 tuổi(7) Nghiên cứu của Trương Quang Ánh

và cộng sự thực hiện năm 2003 về bệnh nấm nông tại Khoa Ký sinh trùng, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế cho thấy độ tuổi chủ yếu là 11 - 30 tuổi(15) Nghiên cứu của Bùi Văn Đức và cộng sự (2004) tại Bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh về bệnh nấm da cũng cho thấy tỷ lệ các đối tượng đến khám là người trẻ tuổi, trung bình là 22,5 tuổi, độ tuổi 16 - 40 chiếm 72,9%(3)

Giới tính

Trong 207 bệnh nhân tham gia nghiên cứu,

có 112 là nam giới chiếm tỉ lệ 54.1% nhiều hơn 95 bệnh nhân là nữ giới chiếm tỉ lệ 45.9% Tỉ lệ nam giới cũng chiếm nhiều hơn ở nhóm nhiễm P.O là

36 (63,1%) ở nam và 21 (36,9%) ở nữ, và nhóm STNVN là 60 (52,6%) ở nam và 54 (47,4%) ở nữ Riêng với nhóm nấm men thì tỉ lệ này có sự khác biệt khi ở nam là 16 (44,4%) và 20 (55,6%) ở nữ Điều này có thể do ở nữ và trẻ em, nấm men sống hoại sinh và dễ tự nhiễm ở bẹn từ nước tiểu

do vệ sinh không kĩ Còn ở nhóm P.O và STNVN thì nam chiếm tỉ lệ nhiều hơn do nam hoạt động sinh lý, hoạt động thể lực và tăng tiết

mồ hôi nhiều hơn ở nữ(12) Tỉ lệ nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của Paudel(10) khi nam chiếm 68.3% và nữ chiếm 31,6% Trong nghiên cứu của Agarwal(1) thì nam giới chiếm 68,3% và nữ chiếm 31,6% và với nghiên cứu của Surendran K.A.K thì nam là 62%, nữ 38%(12) Nghiên cứu của Nguyễn Thái Dũng thì tỉ lệ nam nhiễm nhiều hơn nữ là 63,4% và 36,6%(7) Nghiên cứu của Bùi Văn Đức và cộng sự (2004) tại Bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh về bệnh nấm da cũng cho thấy tỷ lệ nam, nữ là 55,1% và 44,9%(3) Triệu chứng lâm sàng

Phổ biến nhất là triệu chứng ngứa da với

Trang 5

83,1% bệnh nhân trong nghiên cứu Đây cũng là

triệu chứng phổ biến nhất trong cả 3 nhóm bệnh

với các tỉ lệ 96,5%, 72,2%, 63,2% cho nhóm

STNVN, nấm men và P.O

Theo sau là triệu chứng đỏ da với 73,4% và

các tỉ lệ 90,4%, 47.2% và 56,1% lần lượt cho các

nhóm STNVN, nấm men và P.O Đau rát chiếm

tỉ lệ chung 46,4% và ở STNVN là 61,4%, nấm

men là 55,6%, P.O là 10,5%, cuối cùng chiếm ít

nhất là tỉ lệ rạn da với 9,7% bệnh nhân gặp phải,

tương ứng với 14,9% cho nhóm STNVN, 2,8%

cho nhóm nấm men và 3,5% cho nhóm P.O Tình

trạng rạn da chỉ xuất hiện ở một số bệnh nhân tự

ý sử dụng thuốc, không theo chỉ định Như vậy,

ngứa là triệu chứng thường gặp nhất của nhóm

nấm trên da Kết quả này phù hợp với nghiên

cứu của Nguyễn Thái Dũng khi tỉ lệ ngứa là

95,1%(7) Nghiên cứu của Mahalakshmi ghi nhận

triệu chứng ngứa là 79,5%(6)

Vị trí sang thương

Chiếm tỉ lệ nhiều nhất là nhóm nấm ở vùng

mông, bẹn với 36,7%, tiếp theo là nhóm nấm ở

thân với 31,4%, tiếp đến là vùng tay với 20,8%,

chân 15,5% và ít nhất là vùng đầu, mặt, cổ với

11,6% Trong đó có 10,6% bệnh nhân nhiễm nấm

nhiều hơn 2 vị trí Trong nhóm P.O, tỉ lệ nhiều

nhất là vùng thân với 77,2%, đây cũng vị trí

thường gặp của P.O(14) Ở nhóm nấm men thì vị

trí gặp nhiều nhất là vùng mông, bẹn và tay,

nách với 38,9% và 44,4% và trong phạm vi

nghiên cứu này không có trường hợp nào ở

vùng đầu, mặt, cổ Với sang thương nấm trên da

thì vùng mông, bẹn, nách là những vị trí phổ

biến nhất(14) Trong nhóm STNVN, phổ biến nhất

là gặp ở vùng mông, bẹn với 51,8%, chân 21,1%,

3 vùng thân; đầu, mặt, cổ và tay với những tỉ lệ

gần ngang nhau là 16,7%, 15,8%, 14% Trong đó

có 12,3% trường hợp bị nhiễm nhiều hơn 2 vị trí

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Tôn

Nữ Phương Anh khi có tỉ lệ nấm vùng bẹn

chiếm cao nhất(13) Kết quả của Nguyễn Thái

Dũng(7) thì nấm ở vùng da trơn nhiều nhất, còn

theo Agarwal(1), Rezaei-Matehkolaei(11) thì nấm ở

thân chiếm nhiều nhất

Kết quả định danh nấm sợi

Trong 207 bệnh nhân nghiên cứu, có 114 trường hợp dương tính với sợi tơ nấm vách ngăn Trong đó tỉ lệ nuôi cấy dương tính là 82

ca, chiếm 71,9% Điều này có thể do những nguyên nhân như bệnh nhân đã tự bôi thuốc trước đó, cách lấy mẫu, kỹ thuật cấy… Kết quả sau định danh chúng tôi nhận thấy

Trichophyton sp chiếm tỉ lệ cao hơn Microsporum sp và Epidermophyton sp

Trong nhóm Trichophyton sp thì tác nhân thường gặp nhất là Trichophyton rubrum (29,3%) Chiếm tỉ lệ ít nhất là Trichophyton schoenleinnii (1,2%)

Trong nhóm Microsporum sp thì tác nhân thường gặp nhất là Microsporum gypseum (7,3%) Chiếm tỉ lệ ít nhất là Microsporum audouinii (2,4%)

Trong nhóm Epidermophyton sp thì chỉ thấy tác nhân Epidermophyton floccosum (3,7%)

Quy trình kỹ thuật tìm sợi tơ nấm vách ngăn

Từ qui trình soi tươi tìm vi nấm đang thực hiện tại bệnh viện, triển khai định danh vi nấm với các kỹ thuật cấy, cấy trên kính để định danh Với việc xây dựng quy trình hoàn chỉnh, từng bước chuẩn hóa thao tác kỹ thuật đã bước đầu định danh được nhóm sợi tơ nấm có vách ngăn, kết quả nhận dạng được các loại như

Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes, Trichophyton tonsurans, Trichophyton schoenleinii, Microsporum audouinii, Microsporum gypseum, Epidermophyton floccosum

KẾT LUẬN

Phần lớn bệnh nhân đến khám khi gặp triệu chứng ngứa da gây khó chịu, gặp nhiều ở nhóm người trẻ độ tuổi 16 đến 30 và nhóm bệnh nhân đến từ TP Hồ Chí Minh cũng chiếm ưu thế hơn các tỉnh thành khác

Tại bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh thì sợi tơ nấm vách ngăn gây bệnh nấm trên da với

tỉ lệ cao nhất và trong đó loại Trichophyton rubrum là tác nhân gây bệnh nhiều nhất

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Agarwal US, Saran J, Agarwal P (2014) "Clinico-mycological

study of dermatophytes in a tertiary care centre in Northwest

India" Indian J Dermatol Venereol Leprol, 80(2):194

2 Arsić-Arsenijević V, Branković M, Dzamić A Colović I, Mitrović

S, Ratkov E (2010) "Antimycotics susceptibility testing of

dermatophytes" Srp Arh Celok Lek Serbian, 138:518-525

3 Bùi Văn Đức và cộng sự (2004) "Góp phần nghiên cứu tác dụng

của Griseofulvin trong điều trị bệnh nấm da do Dermatophytes

ở bệnh nhân nghiện ma túy" Y học Thành phố Hồ Chí Minh,

pp.32-39

4 Havlickova B, Czaika VA, Friedrich M (2008) "Epidemiological

trends in skin mycoses worldwide" Mycoses, 51(S4):2-15

5 Lee WJ, Kim SL, Jang YH, Lee SJ, et al (2015) "Increasing

Prevalence of Trichophyton rubrum Identified through an

Analysis of 115,846 Cases over the Last 37 Years" J Korean Med

Sci, 30(5):639-43

6 Mahalakshmi R, Apoorva R, Joshua J (2017) "Dermatophytosis:

clinical profile and association between sociodemographic

factors and duration of infection" Int J Res Dermatol,

3(2):282-285

7 Nguyễn Thái Dũng (2017) "Nghiên cứu một số đặc điểm và kết

quả điều trị nấm da ở bệnh nhân đến khám và điều trị tại trung

tâm chống phong - da liễu Nghệ An 2015 - 2016" Luận văn Tiến

sỹ Y học, Viện sốt rét ký sinh trùng trung ương

8 Nishimoto K (2006) "An epidemiological survey of

dermatomycoses in Japan 2002" Nihon Ishinkin Gakkai Zasshi,

47(2):103-11

9 Nweze EI (2014) "Dermatophytosis in Western Africa: a

review" Pak J Biol Sci, pp.649-656

10 Paudel D, Manandhar S (2015) "Dermatophytic Infections among the Patients Attending Di Skin Hospital and Research

Center at Maharajgunj Kathmandu" Journal Nepal Health Res

Counc, pp 226-232

11 Rezaei-Matehkolaei A, Rafiei A, Makimura K, et al (2016)

"Epidemiological Aspects of Dermatophytosis in Khuzestan,

southwestern Iran, an Update" Mycopathologia, 181(7-8):547-53

12 Surendran K, Bhat RM, Boloor R, et al (2014) "A clinical and

mycological study of dermatophytic infections" Indian J

Dermatol, 59(3):262-7

13 Tôn Nữ Phương Anh, Ngô Thị Minh Châu, Phan Thị Hằng Giang, Nguyễn Thị Hoá (2012) "Nghiên cứu bệnh nguyên bệnh

vi nấm ở da của bệnh nhân khám tại bệnh viện trường Đại học

Y Dược Huế" Tạp chí Y dược học, 11: pp.92-98

14 Trần Xuân Mai (2015) Bệnh vi nấm ngoài da, ký sinh trùng Y

học Nhà xuất bản Y học TP Hồ Chí Minh,

https://xuatbanyhoc.vn/ky-sinh-trung-y-hoc-1

15 Trương Quang Ánh, Tôn Nữ Phương Anh (2003) "Bước đầu khảo sát tình hình nhiễm nấm da và nấm ngoại biên ở bệnh nhân được xét nghiệm nấm tại Khoa Ký sinh trùng" - Bệnh viện

Trường Đại học Y khoa Huế" Phòng chống bệnh Sốt rét và các

bệnh Ký sinh trùng, pp.80-85

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 02/07/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 01:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w