1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ nhiễm Human papillomavirussau khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện ở phụ nữ có tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ 2-3 tại Bệnh viện Từ Dũ

6 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 314,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định tỷ lệ nhiễm HPV 6 tháng sau khoét chóp CTC bằng vòng điện (LEEP) ở phụ nữ có tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ 2 - 3 (CIN 2- 3) đến khám và điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ.

Trang 1

TỶ LỆ NHIỄM HUMAN PAPILLOMA VIRUS SAU KHOÉT CHÓP CỔ TỬ CUNG BẰNG VÒNG ĐIỆN Ở PHỤ NỮ CÓ TÂN SINH TRONG BIỂU MÔ

CỔ TỬ CUNG ĐỘ 2-3 TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ

Phạm Hồ Thúy Ái*, Bùi Chí Thương**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Human papilloma virus (HPV) là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư cổ tử cung (CTC) Các bệnh nhân CIN2-3 sau điều trị với phương pháp khoét chóp CTC bằng vòng điện (LEEP) vẫn có nguy cơ tái phát cao do nhiễm HPV kéo dài Các đối tượng này cần được theo dõi và tầm soát với những phác đồ riêng để giảm tỷ lệ ung thư CTC trong tương lai

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm HPV 6 tháng sau khoét chóp CTC bằng vòng điện (LEEP) ở phụ nữ có tân

sinh trong biểu mô cổ tử cung độ 2 - 3 (CIN 2- 3) đến khám và điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang từ tháng 10/2017 đến tháng 4/2018 trên

248 phụ nữ có CIN2 - 3 sau LEEP tại Bệnh viện Từ Dũ Xét nghiệm HPV bằng phương pháp Cobas 4800 được thực hiện 6 tháng sau khoét chóp

Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV 6 tháng sau LEEP ở phụ nữ CIN2 - 3 là 19,76% (KTC 95% = 14,9 – 25,0), type

16 chiếm 4,03%, type 18 chiếm 1,61%, một hoặc nhiều type nguy cơ cao khác 14,52% Các yếu tố liên quan bao gồm: mãn kinh P=0,001 (PR=6,48, KTC 95%: 2,12 – 19,81), bờ phẫu thuật dương tính P<0,05 (PR=2,81, KTC 95%: 1,09 – 7,20), tế bào học bất thường sau khoét chóp P=0,001 (PR=5,93, KTC 95%: 2,06 – 17,06)

Kết luận: Các phụ nữ CIN2-3 sau điều trị LEEP vẫn còn nhiễm HPV với tỉ lệ là 19,76% Các yếu tố mãn

kinh, bờ phẫu thuật dương tính, tế bào học bất thường sau khoét chóp đều làm tăng tỷ lệ nhiễm HPV sau khoét chóp

Từ khóa: human papillomavirus, sau điều trị, LEEP, CIN2-3

ABSTRACT

THE PREVALENCE OF HPV INFECTION AFTER LOOP EXCISION PROCEDURE TREATMENT FOR

CERVICAL INTRAEPITHELIAL NEOPLASIA GRADE 2 OR 3 AT TU DU HOSPITAL

Pham Ho Thuy Ai, Bui Chi Thuong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 186 - 191

Background: Human papilloma virus (HPV) is the leading cause of cervical cancer Patients with CIN2 - 3 after Loop Electrical Excision Procedure Treatment (LEEP) still have a higher risk of relapse due to prolonged HPV infection These subjects should be monitored and screened with individual algorithms to reduce the incidence of cervical cancer in the future

Objecttive: To determine the prevalence of HPV infections after with LEEP treatment at six months of

CIN2-3 treated patients at Tu Du hospital

Methods: A cross-section study analysis of 248 CIN2 - 3 patients after LEEP treatment at Tu Du hospital

from October 2017 to April 2018 HPV testing by Cobas4800 was performed six months after conization

Results: The prevalence of HPV infections 6 months after LEEP among women CIN2 - 3 was 19.76%

[95% CI = 14.9 - 25.0], type 16 accounted for 4.03%, type 18 accounted for 1.61%, one or 12 high risk orthers 14.52% Relevant factors included: menopause P = 0.001 (PR = 6.48, 95% CI: 2.12-19.81), surgical

*Bệnh viện Từ Dũ **Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

margin positive P <0.05 (PR = 2.81, 95% CI: 1.09 - 7.20), cytology abnormality after LEEP of P = 0.001 (PR

= 5.93, 95% CI: 2.06 - 17.06)

Conclusion: Women who received CIN2 - 3 after LEEP treatment still had an HPV infection rate of

19.76% Menopause, surgical margin positive, cytology abnormality after LEEP will increase the incidence of HPV infection after LEEP

Keywords: human papillomavirus, post treatment, LEEP, CIN2 - 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Những phụ nữ sau khoét chóp cổ tử cung

(CTC) vì tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ

2–3 (CIN2-3) vẫn còn nhiễm Human papilloma

virus (HPV) các type nguy cơ cao sẽ có tỷ lệ

tiến triển thành CIN và ung thư cổ tử cung

(UTCTC) cao hơn so với dân số chung từ

2-16%(13) Trong những trường hợp tái phát bệnh

có thể do thất bại trong việc điều trị nhưng

cũng có thể do chưa loại bỏ được hoàn toàn

HPV dẫn đến việc nhiễm HPV dai dẳng kéo

dài gây CIN(8) Để theo dõi lâm sàng một

trường hợp CIN, các chiến lược được đề xuất

bởi Hội Soi cổ tử cung và bệnh lý cổ tử cung

Hoa Kỳ (ASCCP) bao gồm: xét nghiệm HPV,

tế bào học và soi cổ tử cung (CTC), có thể sử

dụng đơn độc hoặc phối hợp các phương pháp

trong khoảng thời gian từ 3 tháng, 6 tháng đến

1 năm(14) Đã có các nghiên cứu trên thế giới

đưa ra tỷ lệ nhiễm HPV type nguy cơ cao sau

khoét chóp CTC bằng vòng điện dao động từ

10,8% đến 40,9%(5) Tại Việt Nam vẫn chưa có

nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm HPV sau

khoét chóp CTC bằng vòng điện Nhiều

nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa

HPV sau khoét chóp và tỷ lệ tái phát bệnh sau

hai năm với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên

đoán dương, giá trị tiên đoán âm khá cao khi

sử dụng đơn độc hoặc khi kết hợp với tế bào

học trong xét nghiệm co-testing(6) Trên thế giới

xét nghiệm HPV thường xuyên được sử dụng

trong lĩnh vực thực hành lâm sàng để hỗ trợ

việc phát hiện sớm CIN tái phát, nhưng cho

đến nay tỷ lệ nhiễm HPV sau điều trị vẫn rất

khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi bệnh nhân,

type HPV, kỹ thuật xét nghiệm, phương pháp

điều trị, thời điểm xét nghiệm sau điều trị và

đặc điểm của từng nghiên cứu(5)

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang trên 248 bệnh nhân CIN2-3 sau điều trị bằng phương pháp LEEP 6 tháng đến khám tại Đơn vị Kỹ thuật chẩn đoán thuộc khoa khám phụ khoa bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2017 đến tháng 4/2018

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Có kết quả mô học là CIN 2 - 3 và xét nghiệm HPV trước khoét chóp Đã được khoét chóp CTC bằng vòng điện 6 tháng trước Đang theo dõi và điều trị tại bệnh viện Từ Dũ Đồng ý tham gia nghiên cứu Nghe và hiểu tiếng Việt

Tiêu chuẩn loại trừ

Đã được phẫu thuật cắt hoàn toàn tử cung hoặc khoét chóp CTC lần 2 Có kết quả mô học sau khoét chóp là ung thư CTC Đang mang thai Đang mắc các bệnh lý làm suy giảm hệ miễn dịch: ung thư, AIDS, đang điều trị corticoid kéo dài Đang xuất huyết âm đạo Có đặt thuốc, giao hợp, siêu âm đầu dò âm đạo trong vòng 3 ngày trước Đang có bệnh lý cần điều trị cấp cứu Tâm thần hoặc giao tiếp khó khăn

Phương pháp tiến hành

Sàng lọc dữ liệu tại Đơn vị Kỹ thuật chẩn đoán thuộc khoa khám phụ khoa bệnh viện Từ

Dũ tìm đối tượng đúng tiêu chuẩn chọn mẫu Điện thoại liên lạc hẹn ngày thăm khám Tiếp

nhận bệnh nhân tại Đơn vị, tư vấn tham gia nghiên cứu và ký bảng đồng thuận Tiếp theo

sẽ thu thập bảng câu hỏi, dữ liệu hồ sơ Sau

đó, sẽ tiến hành lấy mẫu HPV và gửi phòng di

truyền Xét nghiệm được thực hiện trong nghiên cứu là xét nghiệm HPV bằng phương pháp Cobas®4800 cho 4 kết quả như sau: Âm tính; dương tính type 16; dương tính type 18;

Trang 3

dương tính một hoặc nhiều type trong 12 type

HPV nguy cơ cao gồm 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52,

56, 58, 59, 66, 68 (gọi tắt 12hr) Cách lấy mẫu

đúng hướng dẫn của nhà sản xuất

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Tuổi trung bình các đối tượng là 38, nhỏ

tuổi nhất là 23 tuổi và lớn tuổi nhất là 64 tuổi,

72,2% sống ở tỉnh, phần lớn người Kinh, 79%

làm nghề nội trợ, trình độ học vấn tập trung ở

cấp II-III 63,7%, đang sống với chồng 87,5%

Về đặc điểm sản phụ khoa và thói quen sinh

hoạt: phụ nữ mãn kinh chỉ chiếm 8,9%; 92,3%

giao hợp lần đầu sau 18 tuổi; 28,2% có nhiều

hơn 1 bạn tình; 66,5% giao hợp lại sau khoét

chóp có sử dụng bao cao su; 71% có 1 - 2 con;

41,5% không thường xuyên dùng bao cao su;

73,4% không dùng thuốc ngừa thai; 94%

không hút thuốc lá Xét về đặc điểm lâm sàng

của các bệnh nhân này ta nhận thấy: giải phẫu

bệnh trước khoét chóp của CIN2:CIN3 tương

đương 40:60; bờ phẫu thuật dương tính có 36

trường hợp chiếm tỉ lệ 14,5%; soi CTC sau

khoét chóp kết quả bình thường 92,7%; 31%

vùng chuyển tiếp không quan sát được sau

khoét chóp; tế bào học bình thường trong phần

lớn các trường hợp 91,13%, trong số 22 ca bất

thường bao gồm các bất thường như sau: 13 ca

ASCUS; 8 ca LSIL và 1 ca HSIL

Tình trạng nhiễm HPV sau khoét chóp CTC

Bảng 1 Tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao sau khoét

chóp CTC

Nhiễm HPV

sau khoét chóp

Tổng số (n=248) Tỷ lệ (%)

Khoảng tin cậy 95%

Xét nghiệm được 49 bệnh nhân có kết quả

dương tính với xét nghiệm HPV Cobas4800

chiếm tỷ lệ 19,76% (KTC 95% = 14,9 – 25,0)

Mỗi bệnh nhân có thể nhiễm một hoặc nhiều

hơn một type HPV nguy cơ cao Tất cả các

trường hợp nhiễm HPV sau khoét chóp đều

giảm so với trước khoét chóp Có một số trường

hợp triệt tiêu hoàn toàn như trường hợp đồng

nhiễm type 16 và 18; type 18 và 12hr; type 16,18

và 12hr (Bảng 2)

Để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu và đồng tác, chúng tôi đã đưa 10 yếu tố có P < 0,25 vào phương trình hồi quy đa biến nhằm tìm yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HPV sau khoét chóp của các đối tượng trong nghiên cứu Phân tích đa biến cho thấy sự thay đổi như sau: Hai yếu tố là hút thuốc lá và soi CTC trong phân tích đơn biến có ý nghĩa thống kê đã trở thành không

có ý nghĩa thống kê trong phân tích đa biến với P>0,05 Ba yếu tố bao gồm tình trạng kinh nguyệt, bờ phẫu thuật dương tính và tế bào học sau khoét chóp có sự thay đổi Trong đó nhiễm HPV sau khoét chóp ở nhóm mãn kinh tăng PR

từ 3,22 lên 6,48, PR trong nhóm bờ phẫu thuật dương tính tăng nhẹ từ 2,36 lên 2,81 và trong nhóm bất thường tế bào học PR lại giảm từ 6,13 xuống 5,93 Như vậy, qua phân tích đa biến có hai yếu tố không còn ý nghĩa thống kê là hút thuốc lá và soi CTC, 3 yếu tố còn lại là tình trạng kinh nguyệt, bờ phẫu thuật dương tính và tế bào học có sự thay đổi rõ rệt so với phân tích đơn biến Các yếu tố còn lại không thay đổi mối liên quan với tình trạng nhiễm HPV 6 tháng sau khoét chóp CTC bằng vòng điện

Khi phân tích đa biến chúng tôi thấy có ba yếu tố tác động lên tình trạng nhiễm HPV sau khoét chóp CTC bằng vòng điện trên phụ nữ CIN2 - 3 như sau: Nhóm phụ nữ mãn kinh tăng nguy cơ nhiễm HPV sau khoét chóp lên 6,48 lần so với nhóm phụ nữ còn kinh nguyệt

Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0,01 (KTC 95% 2,12 – 19,81) Những đối tượng có bờ phẫu thuật dương tính tăng tỷ lệ nhiễm HPV lên 2,81 lần so với những bệnh nhân có bờ phẫu thuật âm tính Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0,05 (KTC 95% 1,09 – 7,20) Tế bào học sau khoét chóp có bất thường sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm HPV lên 5,93 lần so với nhóm có kết quả tế bào học bình thường sau khoét chóp Sự khác biệt này có ý

Trang 4

nghĩa thống kê với P<0,01 (KTC 95% 2,06 – 17,06) (Bảng 3)

Bảng 2 Phân bố nhiễm các type HPV trước và sau khoét chóp

Nhóm type HPV

HPV (+) trước khoét chóp HPV (+) sau khoét chóp Tần suất Tỷ lệ %

N=234 (+)

Tỷ lệ % N=248 Tần suất

Tỷ lệ%

N=49 (+)

Tỷ lệ % N=248

Type 16

Type 18

Nhóm 12hr

Type 16 và 18

Type 16 và nhóm 12hr

Type 18 và nhóm 12hr

Type 16, 18 và nhóm 12hr

91

18

91

6

22

5

1

38,89 7,69 38,89 2,56 9,40 2,14 0,43

36,69 7,26 36,69 2,42 8,87 2,02 0,40

9

4

35

0

1

0

0

18,37 8,16 71,43

0 2,04

0

0

3,63 1,61 14,11

0 0,40

0

0

Bảng 3 Tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao sau khoét chóp CTC trong mô hình hồi qui đa biến

Có (n=49) Không (n=199)

Trình độ học vấn

Tình trạng hôn nhân

Tình trạng kinh nguyệt

Tuổi giao hợp lần đầu

Giao hợp lại sau KC

Hút thuốc lá

Bờ phẫu thuật

Soi CTC

Tế bào học sau KC

Nhiễm HPV trước KC

(*) Multivariate Logistic Regression

Trang 5

BÀN LUẬN

Tình trạng nhiễm HPV sau khoét chóp CTC 6

tháng bằng vòng điện

Tỷ lệ nhiễm HPV 6 tháng sau khoét chóp

CTC bằng vòng điện ở 248 phụ nữ có CIN2-3

trong nghiên cứu của chúng tôi là 19,76% cao

hơn so với một số tác giả Nagai N(9), Ribaldone

R(12) Asciutto KC(3) với các tỷ lệ lần lượt là 11,8%,

10,8% và 15,4% Trái lại tỷ lệ chúng tôi có được

thấp hơn những nghiên cứu của tác giả Alonso

T(2) (35,3%), Pirtea I(11) (40,9%) Bên cạnh đó cũng

có nhiều nghiên cứu có tỷ lệ gần tương 2đồng

với nghiên cứu của chúng tôi như nghiên cứu

của Kreimer AR(7), Aerssen A(1) Nam K(10),

Grazyna AS(4) với tỷ lệ dao động từ 17,8% đến

22% Hầu hết các nghiên cứu có cỡ mẫu tương

đối thấp, chỉ có ba nghiên cứu có cỡ mẫu hơn

200 là nghiên cứu của tác giả Alonso T(2),

Asciutto KC(3) và Kreimer AR(7)

Chúng tôi so sánh với các nghiên cứu trên

thế giới từ năm 2002 trở lại đây trên các đối

tượng là các phụ nữ mắc CIN2 - 3 hoặc có tổn

thương mức độ cao ở CTC, tất cả đều được

khoét chóp CTC bằng vòng điện, sau 6 tháng

được thăm khám và làm xét nghiệm HPV Tỷ lệ

này có biên độ dao động khá cao phụ thuộc vào

nhiều yếu tố như mức độ bệnh, kỹ thuật khoét

chóp, kỹ thuật xét nghiệm, nhóm type, độ tuổi

đối tượng nghiên cứu, cỡ mẫu… Vì vậy, kết quả

nghiên cứu của chúng tôi cũng có sự giống và

khác nhau với nhiều nghiên cứu trên thế giới

Tuy tỷ lệ HPV sau khoét chóp 6 tháng có khác

nhau trong nhiều nghiên cứu trên thế giới

nhưng tất cả đều cho thấy rằng tỷ lệ nhiễm HPV

giảm đi nhiều so với trước khoét chóp Cụ thể là

tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao trước khoét chóp

trên những đối tượng CIN2+ dao động từ 84,7%

đến 96,6% và tỷ lệ này trong nghiên cứu của

chúng tôi là 94,35% phù hợp với nghiên cứu của

Nam K(10) là 94,8%

Chúng tôi đã thu thập được trong nghiên

cứu là 49 trường hợp HPV dương tính sau khoét

chóp CTC bằng vòng điện 6 tháng được phân

chia thành 3 nhóm theo xét nghiệm Cobas4800:

HPV type 16, HPV type 18 và nhóm 12hr (dương tính một hoặc nhiều type trong 12 type nguy cơ cao) Có một kết quả đáng ngạc nhiên rằng sự phân bố các type HPV nguy cơ cao sau khoét chóp gần như khác biệt hoàn toàn so với trước khoét chóp Nếu trước khoét chóp nhóm type 16

và nhóm 12hr có tỷ lệ cao tương đồng nhau (38,89%) thì sau khoét chóp tỷ lệ dương tính của nhóm type 16 thấp hơn hẳn so với nhóm 12hr (18,37% so với 71,43%) Xem xét nghiên cứu của các tác giả khác nhận thấy rằng, sau khoét chóp

tỷ lệ type 16 không còn ưu thế trong nghiên cứu của Kreimer AR(7) và Asciutto KC(3) các nhóm 12hr có vẻ cao hơn với tỷ lệ lần lượt là 36,36%-58,42% so với tỷ lệ nhóm type 16 là 25,12%-32,34% Trái lại nghiên cứu của tác giả Pirtea I(11) cho tỷ lệ nhóm type 16 cao hơn nhóm 12hr Tỷ lệ dương tính với type 18 trong nghiên cứu chúng tôi tương đối thấp (8.16%) nhưng cũng phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới

Mối liên quan đến tình trạng nhiễm HPV sau khoét chóp CTC 6 tháng

Như vậy, sau khi phân tích đơn biến, chúng tôi ghi nhận được có 5 yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao sau khoét chóp CTC đó

là tình trạng kinh nguyệt, hút thuốc lá, bờ phẫu thuật dương tính, soi CTC và tế bào học sau khoét chóp CTC 6 tháng Tuy nhiên, nhằm kiểm soát các yếu tố gây nhiễu chúng tôi tiến hành phân tích hồi quy đa biến Chúng tôi đưa 5 biến độc lập có p < 0,25 vào phương trình hồi quy đa biến để phân tích (trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tuổi giao hợp lần đầu, giao hợp lại sau khoét chóp, nhiễm HPV trước khoét chóp) Khi phân tích đa biến chúng tôi thấy có ba yếu tố tác động lên tình trạng nhiễm HPV sau khoét chóp CTC bằng vòng điện trên phụ nữ CIN2-3 như sau: Nhóm phụ nữ mãn kinh tăng nguy cơ nhiễm HPV sau khoét chóp lên 6,48 lần

so với nhóm phụ nữ còn kinh nguyệt Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0,01 (KTC 95% 2,12 – 19,81) Những đối tượng có bờ phẫu thuật dương tính tăng tỷ lệ nhiễm HPV lên 2,81 lần so với những bệnh nhân có bờ phẫu thuật

Trang 6

âm tính Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

với P<0,05 (KTC 95% 1,09 – 7,20) Tế bào học sau

khoét chóp có bất thường sẽ làm tăng nguy cơ

nhiễm HPV lên 5,93 lần so với nhóm có kết quả

tế bào học bình thường sau khoét chóp Sự khác

biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0,01 (KTC

95% 2,06 – 17,06)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 248 phụ nữ CIN2-3 sau

khoét chóp CTC bằng vòng điện 6 tháng tại đơn

vị Kỹ thuật chẩn đoán khoa Khám phụ khoa

bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2017 đến tháng

4/2018 và sử dụng xét nghiệm HPVcobas4800,

chúng tôi có được những kết quả:

Tỷ lệ nhiễm HPV 6 tháng sau LEEP ở phụ

nữ có CIN2 3 là 19,76% (KTC 95% = 14,9 – 25,0)

Trong đó: Tỷ lệ nhiễm HPV type 16 là: 4,03%

(10/248 trường hợp) Tỷ lệ nhiễm HPV type 18 là:

1,61% (4/248 trường hợp) Tỷ lệ nhiễm một hoặc

nhiều type trong 12 type HPV nguy cơ cao (31,

33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, 68): 14,52%

(36/248 trường hợp)

Các yếu tố liên quan đến tình nhiễm HPV 6

tháng LEEP ở phụ nữ có CIN 2-3 là: Phụ nữ

mãn kinh tăng tỷ lệ nhiễm HPV sau khoét

chóp lên 6,48 lần so với phụ nữ còn kinh

nguyệt với P=0,001 (KTC 95%: 2,12 – 19,81) Bờ

phẫu thuật bằng 0 mm sẽ làm tăng tỷ lệ nhiễm

HPV gấp 2,81 lần những trường hợp có bờ

phẫu thuật khác 0 mm với P<0,05 (KTC 95%:

1,09 – 7,20) Các trường hợp có bất thường tế

bào học sau khoét chóp làm tăng 5,93 lần tỷ lệ

nhiễm HPV sau khoét chóp với P=0,001 (KTC

95%: 2,06 – 17,06)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aerssens A, Claeys P, Garcia A, et al (2008) “Natural history

and clearance of HPV after treatment of precancerous cervical

lesions” Histopathology, 52, pp 381-386

2 Alonso I, Torné A, Puig-Tintoré LM, et al (2006) “Pre- and

residual/recurrent disease in patients treated for CIN 2-3”

Gynecol Oncol, 103, pp 631–636

3 Asciutto KC, Henic E, Darlin L, Forslund O, et al (2016) “Follow

up with HPV test and cytology as test of cure, 6 months after

conization, is reliable 2016” Acta Obstetricia et Gynecologica

Scandinavica, 95(11), pp 1251-1257

4 Grazyna A.S, Catriona G., Heather C., Kate C.S., et al (2015)

“Cobas 4800 HPV detection in the cervical, vaginal and urine samples of women with high-grade CIN before and after

treatment” J Clin Pathol, 0, pp 1–4

5 Hoffman SR, Le T, Lockhart A (2017). “ Patterns of persistent HPV infection after treatment for cervical intraepithelial

neoplasia (CIN): A systematic review” International Journal of

Cancer, pp.25

6 Kang WD, Kim SM (2016) “Human papillomavirus genotyping

as a reliable prognostic marker of recurrence after loop electrosurgical excision procedure for high-grade cervical intraepithelial neoplasia (CIN2-3)

7 Kreimer AR, Katki HA, Schiffman M, et al (2007) “Viral

determinants of human papillomavirus persistence following loop electrical excision procedure treatment for cervical

intraepithelial neoplasia grade 2 or 3” Cancer Epidemiol

Biomarkers Prev, 16(1), pp 11–16

8 Mariani L, Preti M, Origoni M (2016) “HPV-Testing in

Follow-up of Patients Treated for CIN2+ Lesions” Journal of cancer, 7(1),

pp 107-114

9 Nagai N, Mukai K, Oshita T, et al (2004) “Human

papillomavirus DNA status after loop excision for cervical

intraepithelial neoplasia grade III — a prospective study” Int J

Mol Med 2004; 13:589–593

10 Nam K, Chung S, Kim J, et al (2009) “Factors associated with

HPV persistence after conization in patients with negative

margins” J Gynecol Oncol, 20, pp 91–95

11 Pirtea L, Grigoraş D, Matusz P et al (2016) “Age and HPV type

as risk factors for HPV persistence after loop excision in patients

with high grade cervical lesions: an observational study” BMC

Surgery, 16(1), pp.70

12 Ribaldone R, Boldorini R, Capuano A, et al (2010) “Role of HPV

testing in the follow up of women treated for cervical

dysplasia” Arch Gynecol Obstet, 282, pp 193–197

13 Soutter WP, Sasieni P, Panoskaltsis T (2006) “Long-term risk of

invasive cervical cancer after treatment of squamous cervical

intraepithelial neoplasia” Int J Cancer, 118, pp 2048–2055

14 Wright TC, Massad LS, Dunton CJ, et al (2007) “Guidelines for

the management of women with cervical intraepithelial

neoplasia or adenocarcinoma in situ” Am J Obstet Gynecol, 197,

pp 340–34

Ngày đăng: 15/01/2020, 00:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w