1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác động của mô hình thí điểm phương thức thanh toán theo định suất trong việc kê đơn thuốc tại một số trạm y tế xã tỉnh Kon Tum

7 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 7,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triển khai mô hình thí điểm phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo định suất tại một số trạm y tế xã tỉnh Kon Tum và tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của mô hình này đối với việc kê đơn thuốc tại một số trạm y tế xã tỉnh Kon Tum năm 2012. Ba xã Ngọc Tụ, Đăk Rơ Nga và Đăk Trăm huyện Đăk Tô được chọn để can thiệp; ba xã Đăk Tre, Đăk Pne và Đăk Kôi huyện Kon Rẫy được chọn làm đối chứng.

Trang 1

TÁC ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN

THEO ĐỊNH SUẤT TRONG VIỆC KÊ ĐƠN THUỐC TẠI MỘT SỐ

TRẠM Y TẾ XÃ TỈNH KON TUM

Lê Trí Khải 1 *, Nguyễn Công Khẩn 2 , Trần Văn Tiến 3 , Hoàng Văn Minh 4

1 Sở Y tế tỉnh Kon Tum

2 Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế, Hà Nội

3 Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Hà Nội

4 Trường Đại học Y Hà Nội

TÓM TẮT

Chúng tôi triển khai mô hình thí điểm phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo định suất tại một số trạm y tế xã tỉnh Kon Tum và tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của mô hình này đối với việc kê đơn thuốc tại một số trạm y tế xã tỉnh Kon Tum năm 2012 Ba xã Ngọc Tụ, Đăk

Rơ Nga và Đăk Trăm huyện Đăk Tô được chọn để can thiệp; ba xã Đăk Tre, Đăk Pne và Đăk Kôi huyện Kon Rẫy được chọn làm đối chứng Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2011 đến tháng 5/2014 Đối tượng nghiên cứu là các đơn thuốc điều trị ngoại trú năm 2011 và năm 2012 của 6 trạm y tế xã nghiên cứu Thiết

kế nghiên cứu can thiệp có đối chứng Kết quả: Tỷ lệ đơn thuốc sử dụng kháng sinh trong nước năm 2012

và tỷ lệ gia tăng đơn thuốc có tên thuốc kê theo tên gốc của 3 trạm y tế xã thực hiện thí điểm phương thức thanh toán theo định suất (100% và 120,5%) cao hơn 3 trạm y tế xã thực hiện phương thức thanh toán theo dịch vụ (98,9% và 4%); tỷ lệ gia tăng số đầu thuốc sử dụng bình quân/đơn của 3 trạm y tế xã thực hiện thí điểm phương thức thanh toán theo định suất (2,6%) ít hơn 3 trạm y tế xã thực hiện phương thức thanh toán theo dịch vụ (5,1%) và tỷ lệ gia tăng đơn thuốc có thuốc kháng sinh kê phù hợp với chẩn đoán của 3 trạm y tế xã thực hiện thí điểm phương thức thanh toán theo định suất (11,6%) nhiều hơn 3 trạm y

tế xã thực hiệnphương thức thanh toán theo dịch vụ (-1,4%).

Từ khóa: phương thức thanh toán theo định suất, kê đơn thuốc, kháng sinh, trạm y tế xã.

* Tác giả: Lê Trí Khải

Địa chỉ: Sở Y tế tỉnh Kon Tum

Điện thoại: 0962201999

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) quy định 3

phương thức cơ bản thanh toán chi phí khám

chữa bệnh (KCB) BHYT là thanh toán theo

định suất, thanh toán theo dịch vụ và thanh

toán theo trường hợp bệnh [1] Liên Bộ Y tế và

Bộ Tài chính xác định lộ trình áp dụng thanh

toán theo định suất đến năm 2015 tất cả cơ sở

y tế đăng ký KCB ban đầu tại địa phương thực

hiện phương thức thanh toán (PTTT) theo định

suất [2] Trạm y tế (TYT) tuyến xã là một trong

những cơ sở đăng ký KCB ban đầu chủ yếu

ở địa phương theo quy định của Luật BHYT

Năm 2011, số TYT xã thực hiện KCB BHYT

là 8.656 trạm, chiếm khoảng 80% tổng số TYT

xã trên cả nước, tăng 28% so với năm 2010 [3]

Hiện nay, việc KCB tại TYT tuyến xã chủ

yếu là KCB ngoại trú Chính vì vậy, ngoài việc

khám bệnh và chẩn đoán bệnh chính xác, việc

kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú có vai trò

rất quan trọng quyết định đến hiệu quả điều trị, tiết kiệm chi phí cho người bệnh và hạn chế sự gia tăng chi phí KCB

Nhằm cung cấp bằng chứng khoa học cập nhật phục vụ cho việc xây dựng, hoàn thiện PTTT chi phí KCB BHYT theo định suất tại TYT tuyến xã để có thể áp dụng ở phạm vi lớn hơn, trong năm 2012 chúng tôi triển khai mô hình thí điểm PTTT chi phí KCB BHYT theo định suất mới tại một số xã tỉnh Kon Tum [4]

và tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của mô hình thí điểm phương thức thanh toán theo định suất đối với việc kê đơn thuốc tại một số trạm y tế xã tỉnh Kon Tum năm 2012

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thiết kế, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đơn thuốc điều trị

ngoại trú năm 2011 và năm 2012 của 6 TYT xã Ngày nhận bài: 22/07/2014

Ngày phản biện: 10/09/2014 Ngày đăng bài: 30/09/2014

Trang 2

nghiên cứu.

Thiết kế nghiên cứu: Can thiệp có đối chứng.

Địa điểm nghiên cứu: 3 xã Ngọc Tụ, Đăk

Rơ Nga và Đăk Trăm huyện Đăk Tô được chọn

để triển khai thí điểm can thiệp; 3 xã Đăk Tre,

Đăk Pne và Đăk Kôi huyện Kon Rẫy được

chọn để làm đối chứng

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2011

đến tháng 5/2014, trong đó thời gian tiến hành can thiệp trong năm 2012 và thời gian thu thập

số liệu tại thực địa từ tháng 4 - 7/2013

2.2 Cỡ mẫu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu so sánh hai

tỷ lệ, ta có:

Trong đó:

n là cỡ mẫu tối thiểu

Z(1-α/2) = Với khoảng tin cậy 95%, kiểm định 2

phía, Z(1-α/2) = 1,96

p = (p1 + p2) / 2

Z(1-β) = 1-β là lực mẫu, trong trường hợp này

ta lấy 1-β = 85%

p1 = Tỷ lệ kê đơn thuốc hợp lý ở thời sau can

thiệp tăng so với thời điểm trước can thiệp tại

các TYT xã can thiệp, dựa trên kinh nghiệm và

mong đợi của nhóm nghiên cứu, chúng tôi ước

tính p1=10%

p2 = Tỷ lệ kê đơn thuốc hợp lý ở thời sau can

thiệp tăng so với thời điểm trước can thiệp tại

các TYT xã đối chứng, dựa trên kinh nghiệm và

mong đợi của nhóm nghiên cứu, chúng tôi ước

tính p2=3%

Thay số liệu vào công thức tính cỡ mẫu so

sánh hai tỷ lệ trong phần mềm Sample size

de-termination in health studies của Tổ chức Y tế

thế giới (2.2b) ta có n = 222 Vì đây là mẫu

cụm, nên ta cần nhân với hệ số thiết kế (de:

de-sign effect) là 2 và ta sẽ có cỡ mẫu là 444, làm

tròn là 450 đơn thuốc điều tra ở thời điểm trước

can thiệp và 450 đơn thuốc điều tra ở thời điểm

sau can thiệp ở mỗi nhóm Như vậy, mỗi TYT

xã sẽ điều tra 150 đơn thuốc trước can thiệp và

150 đơn thuốc sau can thiệp

2.3 Chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này

là chọn mẫu cụm có chủ đích theo ba giai đoạn:

Giai đoạn 1 chọn huyện can thiệp và huyện đối

chứng, giai đoạn 2 chọn 3 xã can thiệp và 3 xã

đối chứng, giai đoạn 3 chọn đơn vị mẫu

Chọn đơn vị mẫu: Tất cả 6 TYT xã nghiên

cứu chỉ thực hiện KCB ngoại trú Khung mẫu

là Bảng tổng hợp chi phí KCB BHYT năm

2011 và năm 2012 của 6 TYT xã nghiên cứu

được lưu tại TYT xã Các trường hợp không

có chi phí KCB BHYT đã được loại bỏ khỏi các bảng tổng hợp này Bảng tổng hợp chi phí KCB BHYT năm 2011 sử dụng cho khung mẫu điều tra ở thời điểm trước can thiệp Bảng tổng hợp chi phí KCB BHYT năm 2012 sử dụng cho khung mẫu điều tra ở thời điểm sau can thiệp Tiến hành chọn đơn vị mẫu theo phương pháp mẫu ngẫu nhiên hệ thống cho đến khi đủ cỡ mẫu được xác định cho mỗi TYT Trường hợp đơn vị mẫu được chọn không có kháng sinh (KS) thì được chọn đơn vị mẫu kế tiếp trên khung mẫu cho đến khi có KS Trên cơ sở danh sách đơn vị mẫu

đã được lựa chọn, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập các đơn thuốc lưu tại TYT xã (bản sao) để khảo sát

2.4 Quy trình thu thập số liệu

Nhóm nghiên cứu khảo sát các đơn thuốc

đã được lựa chọn Kết quả khảo sát từng đơn thuốc được ghi riêng vào Phiếu khảo sát kê đơn thuốc hợp lý Tiêu chuẩn để đánh giá đơn thuốc dựa vào Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú [5] và Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí các cấp cứu thông thường ở tuyến y tế xã [6] do

Bộ Y tế ban hành Quy trình này được lặp đi lặp lại cho đến khi đủ số lượng mẫu của từng TYT

2.5 Biến số nghiên cứu chính

Các biến số danh mục gồm: Đường dùng thuốc KS, nguồn gốc thuốc KS, tên thuốc KS

và thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán

Các biến số định lượng gồm: Số đầu thuốc

sử dụng bình quân (BQ)/đơn, số ngày dùng thuốc KS và số ngày dùng thuốc KS BQ/đơn Hiệu quả của mô hình thí điểm trong việc kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại các TYT xã được đo lường bằng số đầu thuốc sử dụng BQ/ đơn ít hơn, tỷ lệ đơn thuốc sử dụng KS trong nước cao hơn, tỷ lệ đơn thuốc KS kê theo tên

n = {Z1-a/2 √2P(1-P) + Z1-ß√P1(1-P1) + P2(1-P2)}2

(P1-P2)2

Trang 3

gốc cao hơn, tỷ lệ đơn thuốc có số ngày dùng

KS từ 5 ngày trở lên cao hơn, tỷ lệ đơn thuốc có

thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán cao hơn ở

thời điểm sau can thiệp so với thời điểm trước

can thiệp và so với nhóm chứng

2.6 Phương pháp quản lý, xử lý và phân tích

số liệu

Toàn bộ các thông tin đã được mã hóa, làm

sạch trước khi nhập bằng chương trình Epidata

3.1, sau đó sử dụng phần mềm Stata 10.0 để

phân tích

Công thức tính tỷ lệ gia tăng năm 2012 so

với năm 2011:

Tỷ lệ gia tăng (%) = (Chỉ số 2012 - Chỉ số 2011) x 100

Chỉ số 2011

Áp dụng các phân tích mô tả: Tính tần số (n), tỷ lệ phần trăm (%), tỷ lệ gia tăng năm

2012 so với năm 2011

Để so sánh, tìm sự khác biệt cho biến định tính của trên 1 nhóm, áp dụng test khi bình phương (χ2) khi tần số mong đợi của các ô đều lớn hơn hoặc bằng 5 hoặc fisher’s exact test khi tần số mong đợi của một ô nào đó nhỏ hơn

5 Áp dụng test phi tham số (Mann-Whitney test) để so sánh, tìm sự khác biệt cho biến định lượng của 2 nhóm độc lập (2 huyện) Sử dụng Z test để so sánh tỷ lệ gia tăng giữa các chỉ số của

2 huyện Mức ý nghĩa thống kê p<0,05 được

áp dụng

III KẾT QUẢ

Bảng 1 Tình hình kê đơn thuốc tại các trạm y tế xã 2 huyện trước can thiệp (2011)

Đường dùng thuốc KS

Nguồn gốc thuốc KS

Tên thuốc KS

Số ngày dùng thuốc KS

Đơn thuốc kê thuốc KS phù hợp với

Bảng 1 cho thấy ở thời điểm trước can thiệp

(2011), đường dùng thuốc KS và số ngày dùng

thuốc KS tại các TYT xã 2 huyện có sự khác

biệt không đáng kể (không có ý nghĩa thống

kê); tuy nhiên về nguồn gốc thuốc KS và tên

thuốc KS có sự khác biệt đáng kể có nghĩa

thống kê với p<0,05 Các TYT xã huyện Đăk

Tô sử dụng 100% KS trong nước, trong khi đó

các TYT xã huyện Kon Rẫy sử dụng 94,2% KS

trong nước và 5,8% KS nước ngoài Tên thuốc

KS kê theo tên gốc, biệt dược và tên gốc + biệt

dược của các TYT xã huyện Đăk Tô theo thứ

tự tương ứng với các tỷ lệ là 44,4%, 51,6% và 4,0%; trong khi đó các tỷ lệ này của các TYT

xã huyện Kon Rẫy là 83,1%, 16,4% và 0,5%

Tỷ lệ đơn thuốc kê thuốc KS phù hợp với chẩn đoán của các TYT xã huyện Đăk Tô là 83,1%, trong khi đó tỷ lệ này của các TYT xã huyện Kon Rẫy là 78,4% và sự khác biệt này không

có ý nghĩa thống kê

Tình hình kê đơn thuốc tại 3 TYT xã huyện Đăk Tô: Tất cả thuốc KS đều được kê đơn dưới dạng thuốc uống và đều là KS trong nước Tên thuốc KS năm 2012 kê theo tên gốc chiếm tỷ

Trang 4

lệ 92,0%, tăng 120,5%; kê theo biệt dược giảm

89,7% và kê vừa tên gốc vừa biệt dược giảm

33,3% so với năm 2011; các sự khác biệt này

đều có ý nghĩa thống kê với p<0,05 (c2) Tỷ lệ

đơn thuốc có số ngày dùng KS ≥ 5 ngày năm

2011 là 99,3% và năm 2012 là 99,8%, sự khác

biệt này không có ý nghĩa thống kê

Tình hình kê đơn thuốc tại 3 TYT xã huyện

Kon Rẫy: Tỷ lệ đơn thuốc kê KS đường uống

chiếm 99,1% trong năm 2011 và chiếm 98,9%

trong năm 2012, số còn lại là sử dụng KS

tiêm hoặc vừa tiêm vừa uống, tuy nhiên các

sự khác biệt này đều không có ý nghĩa thống

kê Đơn thuốc sử dụng KS trong nước năm

2012 tăng 7,3% và sử dụng KS nước ngoài giảm 88,5% so với năm 2011; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 (Fish-er’s exact test) Tên thuốc KS năm 2012 kê theo tên gốc chiếm tỷ lệ 86,5%, tăng 4,0%;

kê theo biệt dược giảm 25,7%, nhưng kê vừa tên gốc vừa biệt dược lại tăng 200,0% so với năm 2011; tuy nhiên các sự khác biệt này đều không có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ đơn thuốc

có số ngày dùng KS ≥ 5 ngày năm 2012 là 98,7%, giảm 0,4% so với năm 2011, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Bảng 2 So sánh tỷ lệ gia tăng năm 2012 so với năm 2011 của một số chỉ số kê đơn thuốc giữa các trạm y tế xã 2 huyện

Tên thuốc KS

Số ngày dùng thuốc KS

Bảng 2 cho thấy tỷ lệ gia tăng tên thuốc kê

theo tên gốc và kê vừa tên gốc vừa biệt dược, đơn

thuốc có số ngày dùng KS ≤ 4 ngày có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 huyện với p<0,05

Tỷ lệ gia tăng tên thuốc kê theo tên gốc của huyện

Đăk Tô cao hơn huyện Kon Rẫy; ngược lại tỷ lệ

gia tăng tên thuốc kê vừa tên gốc vừa biệt dược

và đơn thuốc có số ngày dùng KS ≤ 4 ngày của

huyện Kon Rẫy cao hơn huyện Đăk Tô

Một số chỉ số tổng hợp về kê đơn thuốc: (i)

Tại 3 TYT xã huyện Đăk Tô số đầu thuốc sử

dụng BQ/đơn năm 2012 là 4,0 loại, tăng 2,6%

so với năm 2011, sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê với p<0,05 (Mann-Whitney test); số

ngày dùng thuốc KS BQ/đơn của cả 2 năm đều

là 5,0 ngày; tỷ lệ đơn thuốc có thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán năm 2012 là 94,7%, tăng 11,6% so với năm 2011 và sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê với p<0,05 (c2) (ii) Tại 3 TYT xã huyện Kon Rẫy số đầu thuốc sử dụng BQ/đơn năm 2012 là 4,1 loại, tăng 5,1% so với năm 2011, sự khác biệt này có ý nghĩa thống

kê với p<0,05 (Mann-Whitney test); số ngày dùng thuốc KS BQ/đơn của cả 2 năm đều là 5,0 ngày; tỷ lệ đơn thuốc có thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán năm 2012 là 77,3%, giảm 1,4%

so với năm 2011 và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê

Trang 5

Bảng 3 So sánh tỷ lệ gia tăng năm 2012 so với năm 2011 của một số chỉ số tổng hợp về kê đơn thuốc giữa các trạm y tế xã 2 huyện

Bảng 3 cho thấy tỷ lệ gia tăng số đầu thuốc

sử dụng BQ/đơn và đơn thuốc có thuốc KS kê

phù hợp với chẩn đoán có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê giữa 2 huyện với p<0,05 Tỷ

lệ gia tăng số đầu thuốc sử dụng BQ/đơn của

huyện Đăk Tô ít hơn huyện Kon Rẫy và tỷ lệ

gia tăng đơn thuốc có thuốc KS kê phù hợp với

chẩn đoán của huyện Đăk Tô nhiều hơn huyện

Kon Rẫy

IV BÀN LUẬN

Qua việc khảo sát đơn thuốc có KS tại 3

TYT xã huyện Đăk Tô ở thời điểm trước can

thiệp (2011) và thời điểm sau can thiệp (2012)

cho thấy tất cả thuốc KS đều được kê đơn dưới

dạng thuốc uống và đều là KS trong nước Việc

sử dụng KS trong nước là một trong những yếu

tố hạn chế gia tăng chi phí KCB BHYT, đồng

thời góp phần thực hiện tốt chủ trương “Người

Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” của Bộ

Y tế Theo quy định của Quy chế kê đơn thuốc

trong điều trị ngoại trú [5], tên thuốc được viết

theo tên chung quốc tế hay tên gốc (INN,

ge-neric name) hoặc nếu ghi tên biệt dược phải ghi

tên gốc trong ngoặc đơn (trừ trường hợp thuốc

có nhiều hoạt chất), tên thuốc KS sau can thiệp

(2012) được kê theo tên gốc chiếm tỷ lệ 92,0%,

tăng 120,5%; kê theo biệt dược giảm 89,7% và

kê vừa tên gốc vừa biệt dược giảm 33,3% so với

thời điểm trước can thiệp (2011); các sự khác

biệt này đều có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Điều này chứng tỏ kiến thức và thực hành về

kê đơn thuốc hợp lý của nhân viên y tế sau can

thiệp đã có sự tăng lên đáng kể Trong khi đó,

sự thay đổi các chỉ số này ở thời điểm trước

can thiệp và sau can thiệp của 3 TYT xã huyện

Kon Rẫy không rõ rệt và có xu hướng không

rõ ràng; đơn thuốc sử dụng KS trong nước và

tên thuốc KS kê theo tên gốc tăng; tuy nhiên,

tên thuốc KS kê vừa tên gốc vừa biệt dược lại

tăng và tỷ lệ đơn thuốc có số ngày dùng KS ≥

điểm trước can thiệp (Bảng 1), tỷ lệ tên thuốc

KS kê theo tên gốc của các TYT xã huyện Kon Rẫy (83,1%) cao hơn nhiều so với các TYT xã huyện Đăk Tô (44,4%) và các tỷ lệ tên thuốc

KS kê theo biệt dược hoặc kê vừa tên gốc vừa biệt dược của các TYT xã huyện Kon Rẫy đều thấp hơn so với các TYT xã huyện Đăk Tô và các sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Khi so sánh tỷ lệ gia tăng một số chỉ số về đường dùng, nguồn gốc, tên thuốc và số ngày dùng thuốc KS giữa các xã của huyện Đăk Tô

và huyện Kon Rẫy cho thấy tỷ lệ gia tăng tên thuốc kê theo tên gốc và kê vừa tên gốc vừa biệt dược, đơn thuốc có số ngày dùng KS ≤ 4 ngày có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 huyện với p<0,05 Tỷ lệ đơn thuốc sử dụng KS trong nước và tỷ lệ gia tăng tên thuốc kê theo tên gốc của huyện Đăk Tô cao hơn huyện Kon Rẫy; ngược lại tỷ lệ gia tăng tên thuốc kê vừa tên gốc vừa biệt dược và đơn thuốc có số ngày dùng KS ≤ 4 ngày của huyện Kon Rẫy cao hơn huyện Đăk Tô Điều này càng chứng tỏ sự can thiệp đã có những hiệu quả rõ rệt so với không can thiệp

Tại huyện Đăk Tô, số đầu thuốc sử dụng BQ/đơn năm 2012 so với năm 2011 tăng 2,6%

và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05, thể hiện quyền lợi của người bệnh không bị cắt giảm mà còn tăng lên trong khoán định suất Tỷ

lệ đơn thuốc có thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán năm 2012 so với năm 2011 tăng 11,6% và

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Điều này cho thấy sự lạm dụng KS trong kê đơn thuốc đã được hạn chế, góp phần hạn chế t́nh trạng kháng kháng sinh của vi sinh vật và hạn chế gia tăng chi phí KCB BHYT Trong khi

đó, tại huyện Kon Rẫy, số đầu thuốc sử dụng BQ/đơn năm 2012 so với năm 2011 tăng 5,1%

và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Điều này không những chỉ bảo đảm quyền lợi

Trang 6

BHYT gia tăng không thể kiểm soát nổi [7 - 9]

Tỷ lệ đơn thuốc có thuốc KS kê phù hợp với

chẩn đoán năm 2012 là 77,3%, giảm 1,4% so

với năm 2011 Điều này không chỉ gây nên sự

lạm dụng KS mà còn ảnh hưởng đến kết quả

điều trị do tỷ lệ khỏi bệnh không cao nên người

bệnh phải điều trị nhiều ngày hoặc nhiều đợt

hơn hoặc phải chuyển lên tuyến trên để điều trị

gây tốn kém cho quỹ BHYT và gia đình người

bệnh

Khi so sánh tỷ lệ gia tăng một số chỉ số tổng

hợp về kê đơn thuốc giữa các xã của huyện Đăk

Tô và huyện Kon Rẫy cho thấy tỷ lệ gia tăng

số đầu thuốc sử dụng BQ/đơn và đơn thuốc

có thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 huyện với

p<0,05; tỷ lệ gia tăng số đầu thuốc sử dụng BQ/

đơn của huyện Đăk Tô ít hơn huyện Kon Rẫy

và tỷ lệ gia tăng đơn thuốc có thuốc KS kê phù

hợp với chẩn đoán của huyện Đăk Tô nhiều

hơn huyện Kon Rẫy Điều này chứng tỏ khi

thực hiện khoán định suất việc khống chế sự

gia tăng sử dụng thuốc tốt hơn dẫn đến sự gia

tăng chi phí KCB BHYT sẽ ít hơn và tỷ lệ đơn

thuốc có thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán

cao hơn so với huyện chưa thực hiện khoán

định suất

V KẾT LUẬN

3 TYT xã thực hiện thí điểm PTTT theo

định suất sử dụng 100% KS trong nước trong

2 năm 2011-2012 và tên thuốc KS kê theo tên

gốc năm 2012 chiếm tỷ lệ 92,0%, tăng 120,5%

so với năm 2011 Tỷ lệ đơn thuốc sử dụng KS

trong nước năm 2012 và tỷ lệ gia tăng đơn

thuốc có tên thuốc kê theo tên gốc của 3 TYT

xã thực hiện thí điểm PTTT theo định suất

(100% và 120,5%) cao hơn 3 TYT xã thực hiện

PTTT theo dịch vụ (98,9% và 4%)

3 TYT xã thực hiện thí điểm PTTT theo

định suất có số đầu thuốc sử dụng BQ/đơn năm

2012 là 4,0 loại, tăng 2,6%; tỷ lệ đơn thuốc có

thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán năm 2012

là 94,7%, tăng 11,6% so với năm 2011 Tỷ lệ

gia tăng số đầu thuốc sử dụng BQ/đơn của 3

TYT xã thực hiện thí điểm PTTT theo định

suất (2,6%) ít hơn 3 TYT xã thực hiện PTTT

theo dịch vụ (5,1%) và tỷ lệ gia tăng đơn thuốc

có thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán của 3

TYT xã thực hiện thí điểm PTTT theo định suất (11,6%) nhiều hơn 3 TYT xã thực hiện PTTT theo dịch vụ (-1,4%)

Kết luận này cho thấy các TYT xã thực hiện thí điểm PTTT theo định suất có tác động tốt đối với việc kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú so với các TYT xã thực hiện PTTT theo dịch vụ

Lời cảm ơn:

Nhóm nghiên cứu xin trân trọng cảm ơn Dự

án HEMA đã hỗ trợ kinh phí để triển khai mô hình thí điểm; cảm ơn Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội tỉnh Kon Tum, TTYT, Bảo hiểm xã hội 2 huyện

và 6 TYT xã nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi triển khai nghiên cứu Nhóm nghiên cứu cam kết không xung đột lợi ích từ kết quả nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quốc hội, Luật bảo hiểm y tế, số 25/2008/ QH12, ngày 14/11/2008

2 Bộ Y tế & Bộ Tài chính, Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế, số 09/2009/TTLT-BYT-BTC, ngày 14/8/2009

3 Tống Thị Song Hương, "Bảo hiểm y tế toàn dân thực trạng và giải pháp", Tài chính y tế hướng tới chăm sóc sức khỏe toàn dân (Kỷ yếu Hội nghị khoa học kinh tế y tế lần thứ hai), 2012, tr 7-24

4 Bộ Y tế Đề án Thí điểm thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo định suất tại trạm y tế xã (ban hành kèm theo Quyết định số 622/QĐ-BYT ngày 03/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế), 2011

5 Bộ Y tế, Quyết định về việc ban hành Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, số 04/2008/QĐ-BYT, ngày 01/02/2008

6 Bộ Y tế, Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí các cấp cứu thông thường ở tuyến y tế xã, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, 2004

7 Bộ Y tế & Nhóm đối tác y tế (2013), Báo cáo chung Tổng quan ngành y tế năm 2013

- Hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, Hà Nội

8 Berenson R.A & Rich E.C, "US

approach-es to physician payment: the deconstruc-tion of primary care", Journal of general internal medicine, 25(6), 2010, 613-618

9 CBEH Vietnamese Group, Review of pilot of

Trang 7

capitation-based reimbursement method for

HI-based healthcare in Vietnam - Findings obtained from Hai Duong, Thanh Hoa, Hoa Binh and Ha Nam Provinces, Hanoi, 2010

IMPACTS OF PILOT MODEL OF CAPITATION PAYMENT METHOD ON PRE-SCRIBE MEDICINE AT SOME COMMUNE HEALTH STATIONS OF KON TUM PROVINCE

Le Tri Khai 1 , Nguyen Cong Khan 2 , Tran Van Tien 3 , Hoang Van Minh 4

1 Health Department of Kon Tum Province

2 Administration of Science Technology and Training, MoH, Hanoi

3 Health Strategy and Policy Institute, Hanoi

4 Ha Noi Medical University

We implemented a pilot model of capitation

payment method at some commune health

sta-tions (CHCs) of Kon Tum province and

con-ducted the study in order to assess the impacts

of this model on prescribe medicine at some

commune health stations of Kon Tum province

in 2012 Three communes in Dak To district,

including Ngoc Tu, Dak Ro Nga and Dak Tram,

were chosen as the intervention sites; three

oth-er communes belong to Kon Ray district,

in-cluding Dak Tre, Dak Pne and Dak Koi, were

chosen as the comparison sites The assessment

was conducted during 10/2011-5/2014 Study

subject was the health care services of health

insurance at the six CHCs Control trial design

was employed Results: Increasing rate of

pre-scriptions that used domestic antibiotic and

ge-neric name at three CHSs that implemented the pilot of capitation payment method was higher than this rate at three CHSs that implemented fee-for-service payment method; increasing rate of average numbers of medicine per pre-scription at three CHSs that implemented the pilot of capitation payment method was less than this rate at three CHSs that implemented fee-for-service payment method, and increas-ing rate of antibiotic prescriptions consistent with diagnoses at three CHSs that

implement-ed the pilot of capitation payment method was more than this rate at three CHSs that imple-mented fee-for-service payment method

Keywords: capitation payment method,

prescribe medicine, antibiotics, commune health station

Ngày đăng: 15/01/2020, 00:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w