1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu ứng dụng ghép tấm biểu mô được nuôi cấy từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc trong phẫu thuật mộng thịt tái phát

6 107 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 287,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đánh giá hiệu quả phương pháp ghép tấm biểu mô được nuôi cấy từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc trong phẫu thuật điều trị mộng thịt tái phát.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GHÉP TẤM BIỂU MÔ ĐƯỢC NUÔI CẤY TỪ TẾ BÀO GỐC VÙNG RÌA GIÁC MẠC

TRONG PHẪU THUẬT MỘNG THỊT TÁI PHÁT

Diệp Hữu Thắng*, Lê Minh Thông**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Điều trị mộng thịt tái phát là thách thức với bác sĩ nhãn khoa vì lý do hạn chế tái phát và tái lập

lại bề mặt nhãn cầu Ghép tấm biểu mô là phương pháp điều trị mới có thể thỏa mục đích điều trị

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả phương pháp ghép tấm biểu mô được nuôi cấy từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc

trong phẫu thuật điều trị mộng thịt tái phát

Phương pháp: Nghiên cứu loạt ca, mô tả can thiệp lâm sàng không nhóm chứng trên 44 bệnh nhân mộng

thịt tái phát được phẫu thuật ghép tấm biểu mô trong thời gian từ 01/22012 đến 12/2014

Kết quả: Có 44 mắt 17 nữ và 27 nam Tuổi từ 27 đến 85, trung bình là 54,57 tuổi Thời gian theo dõi 6

tháng đến 30 tháng Tỷ lệ tái phát chung ở thời điểm 24 tháng là 11,36% 50% tái phát ở khoảng thời gian 10 tháng sau mổ, tốc độ tái phát trung bình ở thời điểm 6 tháng là 7%, thời điểm 12 tháng là 10% An toàn, đáp ứng nhu cầu thực tế khi cắt mô rộng và tạo hình lại bề mặt nhãn cầu Các yếu tố nguy cơ chủ yếu làm tăng tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật: môi trường làm việc, dính mi cầu trước mổ và kích thích dai dẳng sau mổ

Kết luận: Ghép tấm biểu mô được nuôi cấy tế bào gốc vùng rìa giác mạc là một phương pháp mới điều trị

mộng thịt tái phát có tính an toàn và hiệu quả

Từ khóa: Mộng thịt tái phát Tấm biểu mô nuôi cấy từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc

ABSTRACT

STUDY OF APPLICATION CULTIVATED LIMBAL STEMCELL AUTOGRAFT

TRANSPLANTATION FOR RECURRENT PTERYGIA

Diep Huu Thang, Le Minh Thong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 168 - 173

Opening: Treatment of recurrent pterygiumis a challenge to opthalmologists because of recurrence limitation

and restructure the cornea Cultivated limbal stemcell autograft transplantation is a new treatment method which

is able to meet the treatment purpose

Purpose: To evaluate the effectiveness of cultivated limbal stemcell autograft transplantation method for

recurrent pterygium surgery

Method: Case series

Results: There were 44 eyes 17 female and 27 male From 27 to 85 years old, average 54.57 years old 6

months to 30 months follow up General recurrence rate at the month of 24 is 11.36% 50% recurrence rate is 10 month after surgery, average recurrence rate at the month of 6 is 7%, at the month of 12 is 10% Safety, meeting the actual requirement of extended tissue removal and reform eye surface Risky factors mainly made the increase

of recurrence rate after surgery: working environment, symblepharon and lengthened excitant after surgery

Conclusions: Cultivated limbal stemcell autograft transplantation is a new method to treat recurrent

pterygium having safety and effectiveness

Key words: recurrent pterygium, cultivated limbal stemcell autograft transplantation

* Bệnh viện Mắt TP.HCM ** Trường Đại học Y khoa Phạm ngọc Thạch

Tác giả liên lạc: BS: Diệp Hữu Thắng – ĐT: 0903.813247 – Email: diephuuthang65@yahoo.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mộng thịt tái phát vẩn còn là thách thức, vì

mộng thịt khi tái phát thì tiến triển nhanh, dính

chặt vào mô xơ bên dưới(5) Mục đích của phẫu

thuật cắt mộng là phải lấy hết mô xơ, tái lập lại

vị trí giải phẫu học bình thường của vùng rìa(9).

Tuy nhiên trong những trường hợp mộng thịt

tái phát, đặc biệt trường hợp tái phát nhiều lần

và kèm theo tình trạng dính mi cầu phương

pháp ghép kết mạc rời tỏ ra kém ưu thế vì mảnh

ghép cần phải có kích thước lớn hơn vùng củng

mạc để trần, mảnh ghép cần phải mỏng Trong

những trường hợp đó, tấm biểu mô được nuôi

cấy từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc tỏ ra ưu thế

hơn Từ giả thiết về tế bào gốc vùng rìa(2,1) và cần

mảnh ghép có kích thước đủ lớn trong phẫu

thuật điều trị mộng thịt tái phát nên chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ứng

dụng ghép tấm biểu mô được nuôi cấy từ tế

bào gốc vùng rìa giác mạc trong phẫu thuật

mộng thịt tái phát”

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tính hiệu quả và an toàn của phẫu

thuật ghép tấm biểu mô điều trị mộng tái phát

Xác định các yếu tố nguy cơ gây tái phát

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả can thiệp lâm sàng không nhóm

chứng

Đối tượng nghiên cứu

Dân số đích: Những bệnh nhân phẫu thuật

mộng thịt tái phát

Dân số nghiên cứu: Những bệnh nhân phẫu

thuật mộng thịt tái phát tại bệnh viện Mắt

TP.HCM trong thời gian từ tháng 1/2012 đến

tháng 12/2014

Cỡ mẫu

Mẫu hàng loạt ca, gồm tất cả các trường hợp

mộng thịt tái phát thoả điều kiện chọn mẫu

trong thời gian từ tháng 1/2012 đến tháng

12/2014 Tổng số có 44 ca

Phương pháp chọn mẫu Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân đã được

phẫu thuật mộng thịt trước đó ít nhất một lần, thời gian đã phẫu thuật gần nhất ít nhất là sáu tháng và hiện đang bị tái phát Mộng thịt tái phát độ 2 trở lên Chỉ số nhãn áp trong giới hạn bình thường Bệnh nhân người lớn, hợp tác tốt

và có điều kiện tái khám

Tiêu chuẩn loại trừ: mộng thịt giả tái phát

Có những bệnh lý viêm bề mặt nhãn cầu nặng, khô mắt nặng, quặm mi, sẹo giác mạc dày, tiền căn viêm giác mạc do virus Herpes và bệnh

glôcôm Bệnh nhân không thể lấy được tế bào

gốc rìa giác mạc Bệnh nhân không hợp tác tốt,

không có điều kiện tái khám

Chọn mẫu liên tiếp: Bệnh nhân thỏa các tiêu

chuẩn chọn mẫu và không có tiêu chuẩn loại trừ

sẽ được đưa vào nghiên cứu

Quy trình tạo tấm biểu mô tế bào gốc

Bệnh nhân thỏa các điều kiện để nhận vào nghiên cứu được tư vấn phương pháp mổ mới này Sau khi bệnh nhân đồng ý, cho bệnh nhân

ký vào tờ cam kết đồng ý phẫu thuật và tham gia nghiên cứu Bệnh nhân được lấy tế bào gốc vùng rìa giác mạc Bệnh nhân được hẹn ngày phẫu thuật sau thời gian lấy tế bào gốc từ 2 tuần đến 3 tuần tùy thuộc vào kết quả nuôi cấy Tế bào gốc vùng rìa giác mạc được gửi đến bộ môn

Mô phôi – Di truyền học của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch để nuôi cấy trên tấm màng ối Tấm màng ối có tế bào gốc sau khi nuôi cấy được đánh giá đại thể, chuyển lại bệnh viện để phẫu thuật, lấy mẫu làm mô học và nhuộm dấu ấn miễn dịch P63 để đánh giá có tế bào có thuộc tính “gốc’ không

Cách kiểm soát sai số trong đo lường:

Các quy trình nuôi cấy tế bào gốc tự thân tuân theo quy trình chuẩn của bộ môn Mô phôi – Di truyền học Các quy trình được chuyển giao từ Nhật đã được công bố trên các tạp chí Giác mạc Phòng thí nghiệm của bộ môn đạt tiêu chuẩn chất lượng của Bộ Y tế Đã được nghiệm thu đề tài cấp Bộ năm 2014

Trang 3

Phẫu thuật viên là người có kinh nghiệm lâu

năm trong lãnh vực phẫu thuật mộng thịt tái

phát

Quy trình phẫu thuật thu hoạch tế bào gốc

Tê cạnh nhãn cầu mắt cần lấy tế bào gốc

Đánh dấu kết mạc rìa cực trên kích thước 3

2mm

Phẫu tích vào trong giác mạc vùng rìa 1mm

Cắt kết mạc rìa và một phần giác mạc

Mô tế bào gốc được cho vào dung dịch bảo

quản

Khâu phủ kết mạc

Quy trình phẫu thuật mộng và ghép tấm

biểu mô

Tách đầu mộng, thân mộng khỏi giác mạc

và thượng củng mạc

Làm sạch mô xơ, sợi mạch trên thượng củng

mạc, vùng rìa và để lại lớp củng mạc láng

Bóc tách và lấy mô xơ, sợi mạch nằm dưới

kết mạc thân mộng, thượng củng mạc, phần

dính vào bao cơ trực Thì này cần phải được làm

tỉ mỉ cẩn thận, vì mộng tái phát xuất hiện mô xơ

sợi mạch đáng kể và dính chặt với củng mạc

bên dưới khắp thân mộng Có thể gặp trường

hợp mộng dính vào bao cơ trực hoặc bám vào

nhu mô giác mạc nếu phẫu thuật cắt mộng

trước đây sâu qua lớp Bowman

Cắt thân mộng thịt rộng: mô mộng phải

được lấy hết

Đốt cầm máu: hạn chế đốt nhiều, chỉ đốt

ngay những điểm đang chảy máu, vì đốt nhiều

sẽ tạo ra mô sẹo trầm trọng hoặc gây thiếu máu

trầm trọng hoặc gây thiếu máu khu trú rìa Có

thể sử dụng Adrenalin nhỏ bề mặt

Tráng keo fibrin gồm hai thành phần lên bề

mặt cần ghép

Dán tấm biểu mô đã nuôi cấy tế bào

Đặt kính áp tròng

Thuốc dùng hậu phẫu

Kháng sinh nhỏ: Ofloxacin 0,3% nhỏ 6 lần

/ngày trong 7 ngày

Kháng viêm nhỏ: Flumetholon 0,1% nhỏ 4 lần /ngày trong 2 đến 3 tuần

Thuốc giảm đau Paracetamol 0,5g trong 2 ngày đầu sau mổ

Xử lý số liệu

Số liệu được nhập bằng phần mềm Excel

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê Stata 12 Các tét thống kê chính được sử dụng là tét phi tham số, test Chi bình phương so sánh hai tỷ lệ Nếu biến số phân phối không bình thường thì sử dụng phép kiểm phi tham số So sánh các mối liên quan đến yếu tố tái phát bằng phân tích đơn biến (Chi bình phương, Odd ratio) và phân tích đa biến để tìm ra yếu tố thực

sự liên quan đến sự tái phát

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Bảng 1 Các đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)

Giới

- Nam

- Nữ

27

17

61,36 38,64 Tuổi: 54,57 ± 13,85 (27-85)

- <40 tuổi

- 40 – 60

- > 60

6

21

17

13,64 47,73 38,63 Môi trường làm việc

- Trong nhà

- Ngoài trời

34

10

77,27 22,73 Mắt bệnh

- Mắt phải

- Mắt trái

21

23

47,73 52,27

Vị trí mộng

- Phía mũi

- Phía thái dương

- Mũi + thái dương

38

3

3

86,36 6,82 6,82

Nhận xét: Giới nam mắc nhiều hơn nữ

(61,36% so với 38,64%) Nhóm tuổi 40 – 60 chiếm nhiều nhất Đa số bệnh nhân có môi trường làm việc trong nhà (77,27%) Mắt bị mộng không có khác biệt giữa mắt phải và mắt trái Vị trí mộng thường gặp là phía mũi (86,36%) Nhóm nghiên cứu có độ tuổi dao

Trang 4

động từ 27 đến 85 tuổi, trung bình là 54,57 tuổi

(SD = 13,85)

Bảng 2 Các đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)

Độ mộng

- Độ 2

- Độ 3

- Độ 4

12

23

9

27,27 52,27 20,45 Hoạt tính mộng

- Teo

- Trung gian

- Thân dày

0

31

13

0 70,45 29,55

Bảng 3 Các đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)

Số lần tái phát

- Một lần

- Hai lần

- Ba lần

- Bốn lần

7

22

14

1

15,91 50,00 31,82 2,27 Dính mi cầu trước mổ

- Có

- Không

5

39

11,36 88,64 Song thị trước mổ

- Có

- Không

1

43

2,27 97,73 Thời gian từ lần mổ trước đến nay:

61,64 tháng ± 38,24 (6 tháng-12 năm)

- ≤ 5 năm

- > 5 năm 18

26

40,91 59,09 Thị lực trước mổ

- Tốt

- Trung bình

- Thấp

- Kém

3

11

21

9

6,82 25,00 47,73 20,45 Nhãn áp trung bình

16,07 ± 0,33 mmHg

Nhận xét: Đa số bệnh nhân trong mẫu

nghiên cứu đều có mộng thịt tái phát ở độ 3,

tương đương qua rìa giác mạc từ 2 đến 4 mm

(52,27%) Số lượng mộng trung gian chiếm đa số

(70,45%), không có bệnh nhân mộng tái phát

nào ở dạng teo Đa số bệnh nhân đều tái phát từ

2 đến 3 lần, chỉ có 1 bệnh nhân (2,27%) tái phát

lần thứ tư 5 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu

có tình trạng dính mi cầu trước mổ, chiếm tỷ lệ

11,36% Duy nhất một bệnh nhân có tình trạng

song thị trước mổ, do dính mi cầu nhiều gây

hạn chế vận nhãn (2,27%) Thời gian từ lần mổ trước đến nay dao động từ 6 tháng đến 12 năm,

trung bình là 61,64 tháng (SD = 38,24) 6,82%

bệnh nhân có thị lực trước mổ ở mức tốt, 20,45%

có thị lực kém, số còn lại nằm ở nhóm thấp đến trung bình, với 47,73% thuộc nhóm trung bình

Thay đổi thị lực sau mổ: Sau phẫu thuật, thị

lực trung bình của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là 0,43, xấp xỉ 4/10 Có 12 trường hợp không tăng thị lực sau mổ, 8 trường hợp tăng thị lực dưới 2 hàng, 15 trường hợp tăng thị lực từ 2 hàng trở lên nhưng dưới 4 hàng, 8 trường hợp tăng thị lực từ 4 đến dưới 6 hàng và

1 trường hợp tăng thị lực trên 6 hàng Trước mổ

có 1 trường hợp thị lực trên 8/10 trong khi sau

mổ có 4 trường hợp thị lực trên 8/10

Tỷ lệ tái phát: thời gian theo dõi 30 tháng,

chúng tôi ghi nhận được 5 trường hợp tái phát sau phẫu thuật, tương đương 11,36% Thời gian tái phát dao động từ 4 tháng đến 24 tháng,

trung bình là 10,2 tháng (SD = 8,31)

Bảng 4 Tương quan của các yếu tố nguy cơ với tái

phát

Yếu tố nguy cơ Hệ số tương

quan r P

- Môi trường làm việc

- Phân độ mộng

- Hoạt tính mộng

- Dính mi cầu trước mổ

- Kích thích kéo dài sau mổ

- Thời gian từ lần phẫu thuật trước

đến nay

0,351 0,344 0,553 0,549 0,580 -0,301

0,020 0,022

<0,001

<0,001

<0,001 0,047

Nhận xét: Yếu tố hoạt tính mộng có tương quan đến khả năng tái phát với P <0,001, tương quan thuận, mức độ khá chặt chẽ r=0,553 Yếu

tố dính mi cầu trước mổ có tương quan đến khả năng tái phát với P <0,001, tương quan thuận, mức độ khá chặt chẽ r = 0,549 Yếu tố kích thích kéo dài sau mổ có tương quan đến khả năng tái phát với P <0,001, tương quan thuận, mức độ khá chặt chẽ r = 0,580

Trang 5

Bảng 5 Tỷ lệ thành công

Tác giả Phương pháp Thời gian theo dõi (tháng) Tỷ lệ tái phát

Mohammad (2010) Để trần củng mạc + áp MMC + nhỏ

Bevacizumab

3 – 6 100% tái phát, nhóm nhỏ

bevacizumab tái phát chậm hơn

AK Wong (2000) Ghép kết mạc tự thân từ cực dưới 16,2 18,2%

Trần Tuấn Huy (2006) Ghép kết mạc tự thân + áp MMC 6 6,1%

Khaled (2010) Để trần củng mạc + tiêm MMC dưới

kết mạc trước mổ

Mohamed A Fakhry

(2011)

Ghép kết mạc tự thân + tiêm MMC dưới kết mạc trước mổ 1 tháng

Mohammad (2010) Để trần củng mạc + áp MMC + nhỏ

Bevacizumab

3 – 6 100% tái phát, nhóm nhỏ

bevacizumab tái phát chậm hơn

AK Wong (2000) Ghép kết mạc tự thân từ cực dưới 16,2 18,2%

Trần Tuấn Huy (2006) Ghép kết mạc tự thân + áp MMC 6 6,1%

Khaled (2010) Để trần củng mạc + tiêm MMC dưới

kết mạc trước mổ

Mohamed A Fakhry

(2011)

Ghép kết mạc tự thân + tiêm MMC dưới kết mạc trước mổ 1 tháng

DG Said (2013) Ghép kết mạc rời + áp MMC + Tiêm

5FU sau mổ

17,2 Giảm tăng sinh mô sợi mạch ở

93,3% trường hợp Volkan (2013) Tiêm Ranizibumab dưới kết mạc 1 lần 6 20% giảm cương tụ kết mạc, 80%

không đổi Tiêm Ranizibumab dưới kết mạc 3 lần 6 50% giảm cương tụ kết mạc, 25%

tăng cương tụ, 25% không đổi Larissa (2013) Tiêm Bevacizumab dưới kết mạc 1 97,2% giảm cương tụ

Angel (2015) Tiêm Bevacizumab dưới kết mạc 3 lần 12 Nhóm bevacizumab giảm độ tăng

sinh mạch máu giác mạc và rìa giác mạc, giảm độ đục giác mạc Diệp Hữu Thắng

(2015)

So sánh các phương pháp phẫu thuật trên

mộng thịt tái phát: Tỷ lệ tái phát trong nghiên

cứu của chúng tôi là 11,36% với phương pháp

ghép tấm tế bào gốc Tỷ lệ này thấp hơn so với

các phương pháp để trần củng mạc kèm áp

hoặc không áp Mytomicin của tác giả Leonardo(6), hoặc phương pháp ghép kết mạc tự thân của các tác giả S E Ti(9,8), AK Wong, Trần Tuấn Huy(10), Mohamed A Fakhry, Kavita(7) Một số tác giả đưa ra tỷ lệ tái phát thấp hơn như

Trang 6

Trần Tuấn Huy với phương pháp ghép kết mạc

áp Mytomicin C, Khaled với phương pháp để

trần củng mạc kèm áp hoặc tiêm Mytomicin C

Tuy nhiên, các tác giả này đều có thời gian

theo dõi ngắn hơn, trong vòng 12 tháng(5,8), do

đó, có thể không phát hiện được tất cả các

trường hợp tái phát theo thời gian

Đánh giá tính an toàn sau mổ

Các biến chứng nặng như hoại tử mảnh

ghép, loét giác mạc, viêm củng mạc hoại tử,

thủng nhãn cầu, viêm màng bồ đào, dính mi

cầu, nang kết mạc, tăng nhãn áp không xuất

hiện trong suốt thời gian theo dõi Trường hợp

u hạt viêm xuất hiện ở bệnh nhân có mảnh ghép

không tốt và biến chứng tụ máu dưới mảnh

ghép có thể do thao tác Điều này cho thấy

phương pháp ghép tấm tế bào gốc điều trị

mộng thị tái phát là một phương pháp an toàn,

với tỷ lệ biến chứng không cao hơn so với các

nghiên cứu khác

KẾT LUẬN

Nghiên cứu ghép tấm biểu mô được nuôi

cấy tế bào gốc vùng rìa giác mạc cho 44 bệnh

nhân mộng thịt tái phát thực hiện tại Khoa Giác

Mạc Bệnh Viện Mắt TP Hồ Chí Minh từ tháng

01/2012 đến tháng 06/2015 với thời gian theo dõi

trung bình 15,95 tháng ± 8,57, lâu nhất 30 tháng

và gần nhất 4 tháng Tỷ lệ tái phát chung ở thời

điểm 24 tháng là 11,36% Năm mươi phần trăm

(50%) tái phát ở khỏang thời gian 10 tháng sau

mổ, tốc độ tái phát trung bình ở thời điểm 6

tháng là 7%, thời điểm 12 tháng là 10% Ứng

dụng tế bào gốc vùng rìa trong điều trị có tính

an toàn và đáp ứng nhu cầu thực tế khi cần cắt

mô rộng và tạo hình lại bề mặt nhãn cầu như trong trường hợp mộng tái phát

Các yếu tố nguy cơ chủ yếu làm tăng tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật bao gồm: môi trường làm việc, dính mi cầu trước mổ và kích thích dai dẳng sau mổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Burman S, Sangwan V (2008), Cultivated limbal stem cell transplantation for ocular surface reconstruction, Clinical Ophthalmology: 2(3): pp.489-502

2 Dua HS, Saini JS, et al (2008), Limbal stem cell deficiency: Concept, aetiology, clinical presentation, diagnosis and management Department of Ophthalmology, Queens Medical Centre, Nottingham, UK The Ocular Surface, Vol 6, No 1 pp.415-422

3 Gris O, Guell JL, et al (2000), Limbal-Conjunctival Autograft Transplation for the treatment of recurrent pterygium

pp.270-273

4 Kenneth RK, Scheffer CGT (1998) “Limbalautograft transplantation for advanced and recurrentpterygium”,

Ophthamology, vol 92, pp.1460-67

5 Hirst LW et (2009), Pterygium Surgery Focal Points Clinical Modules for Ophthalmologists American Academy of Ophthalmology Vol 27, No 3, Modul 3 of 3 pp.1-14

6 Mastropasqua L, Carpineto P, et al (1996) Long term results of intraoperative mitomycin C in the treatment of recurrent

pterygium British Jounal of Ophthalmology, 80: pp.288-291

7 Salagar KM, et al (2013), Conjunctival Autograft in Primary

and Recurrent Pterygium: A Study Journal of Clinical and

Diagnostic Research, 7(12): pp.2825-2827

8 Shimazaki J, Yang HY, Tsubota K (1996), Limbal autograft transplantation for recurrent and advanced pterygia Ophthalmic Surg Lasers, pp.17-23

9 Ti SE, Chee SP, Dear KB, Tan DT (2000) Analysis of variation

in success rates in conjunctival autografting for primary and

recurrent pterygium Br J Ophthalmol, 84:pp.385–389

10 Trần Tuấn Huy & Lê Minh Thông (2007), Đánh giá phương pháp điều trị mộng thịt tái phát bằng ghép kết mạc rìa tự thân

kết hợp áp và không áp Miomycin-C Y Học TP Hồ Chí Minh,

11(1), 205-210

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/03/2016 Ngày bài báo được đăng: 15/04/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 00:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w