1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả chẩn đoán lao niệu sinh dục của các xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu

7 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 430,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu có tính khẳng định trong chẩn đoán lao niệu-sinh dục. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá khả năng chẩn đoán xác định lao niệu sinh dục khi sử dụng riêng rẽ hay kết hợp với nhau của các xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu gồm nhuộm Ziehl-Neelsen nước tiểu, phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) nước tiểu tìm trực khuẩn lao, cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHẨN ĐOÁN LAO NIỆU SINH DỤC

CỦA CÁC XÉT NGHIỆM VI KHUẨN HỌC NƯỚC TIỂU

Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng*, Diêm Đăng Khoa*, Lê Văn Hiếu Nhân*, Trần Vĩnh Hưng**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu có tính khẳng định trong chẩn đoán lao niệu-sinh dục

Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá khả năng chẩn đoán xác định lao niệu sinh dục khi sử dụng riêng rẽ hay kết hợp với nhau của các xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu gồm nhuộm Ziehl-Neelsen nước tiểu, phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) nước tiểu tìm trực khuẩn lao, cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang mô tả với mẫu gồm

155 bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng nghi ngờ lao niệu sinh dục đến khám và điều trị tại Phòng khám Lao niệu bệnh viện Bình Dân trong hơn 10 năm từ 01/01/2004 đến 30/04/2014 Tất cả bệnh nhân đều được thực hiện cả 3 xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu gồm: nhuộm Ziehl-Neelsen nước tiểu, phản ứng PCR nước tiểu, cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen

Kết quả: trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ phát hiện bệnh lao niệu sinh dục khi sử dụng đơn độc các xét

nghiệm nhuộm Ziehl-Neelsen tìm trực khuẩn lao, phản ứng PCR nước tiểu, cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein-Jensen tìm trực khuẩn lao lần lượt là 55,5%, 54,8% và 34,8% Kết hợp 2 xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu: tỉ lệ phát hiện vi khuẩn khi kết hợp cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen và nhuộn Ziehl-Neelsen là 68,4%; cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen kết hợp PCR là 64,5% và kết hợp giữa nhuộm Ziehl-Neelsen và PCR là 81,3% Kết hợp cả 3 xét nghiệm trên thì tỉ lệ phát hiện lao là 83,9%

Kết luận: Kết hợp các xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu cho tỉ lệ phát hiện bệnh lao niệu sinh dục cao hơn

và có tính khẳng định hơn Các xét nghiệm gián tiếp chỉ có giá trị gợi ý chẩn đoán và không làm tăng tỉ lệ chẩn đoán có ý nghĩa, chúng nên được trả về lại với vai trò là phương tiện phát hiện các di chứng của bệnh

Từ khóa: Lao niệu sinh dục, phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR), nhuộm Ziehl-Neelsen, cấy nước tiểu trên

môi trường Löwenstein–Jensen

ABSTRACT

BACTERIOLOGICAL EXAMINATIONS OF URINE IN DIAGNOSIS OF GENITOURINARY

TUBERCULOSIS

Nguyen Phuc Cam Hoang, Diem Dang Khoa, Le Van Hieu Nhan, Tran Vinh Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 4 - 2016: 96 - 102

Objectives: Bacteriological examinations of urine are confirmative in diagnosis of genitourinary tuberculosis

(GUTB) We assess the efficacy of the bacteriological examinations of urine in detection of GUTB including Ziehl-Neelsen stain for AFB, polymerase chain reaction (PCR), and culture in Löwenstein-Jensen medium when used separately and combining

Patients and methods: We performed a descriptive cross-sectional study with 155 patients diagnosed of

GUTB clinically and/or paraclinically treated at the GUTB outpatient clinic of Binh Dan hospital in nearly 10 years from January 2004 to April 2014 All patients had 3 bacteriological examinations of urine including Ziehl-Neelsen stain for AFB, polymerase chain reaction IS6110 (PCR), and urine culture in Löwenstein-Jensen

Trang 2

medium

Results: When used separately for the diagnosis of GUTB, the detection rate of Ziehl-Neelsen stain for AFB,

polymerase chain reaction (PCR), and culture in Löwenstein-Jensen medium are: 55.5% , 54.8%, and 34.8%, respectively Combination of 2 examinations, the detection rate of Ziehl-Neelsen stain for AFB combined with culture in Löwenstein-Jensen medium is 68.4%, the detection rate of culture in Löwenstein-Jensen medium combined with PCR is 64.5%, and the detection rate of Ziehl-Neelsen stain for AFB combined with PCR is 81.3% Combination of the 3 examinations had the detection rate of 83.9%

Conclusions: The combination of the 3 bacteriological examinations of urine raises the detection rate of

GUTB and makes the diagnosis more confirmative The indirect examinations are not really diagnostic and they don’t raise the detection rate significantly, hence, they deserve the classic role of detection of the disease’s sequalae

Keywords: Genitourinary tuberculosis, Polymerase chain reaction, Ziehl-Neelsen stain, urine culture in

Löwenstein-Jensen medium

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lao niệu sinh dục là loại lao ngoài phổi có

tần suất xếp hàng thứ hai sau lao hạch, chiếm

40% các trường hợp lao ngoài phổi(1) Tại các

nước phát triển, tần suất lao niệu sinh dục

khoảng 2% trên tổng số các thể lao, nhưng đối

với các nước đang phát triển như Việt Nam, tỉ lệ

này lên đến 20%(11) Chẩn đoán xác định lao niệu

còn là một chẩn đoán khó Trong khoảng thời

gian trước năm 2000, do hạn chế về kỹ thuật xét

nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu, tỉ lệ

tìm thấy trực khuẩn lao trong nước tiểu không

cao: chỉ khoảng 33-38%(6) và có nhiều trường hợp

phải điều trị thử lao như là một phương tiện

chẩn đoán Từ sau năm 2000, phòng khám lao

niệu bệnh viện Bình Dân đã áp dụng cả 3

phương pháp tìm trực khuẩn lao trong nước

tiểu: nhuộm Ziehl-Neelsen, phản ứng chuỗi

trùng hợp (PCR), cấy nước tiểu trên môi trường

Löwenstein(8, 7) Bài báo này đánh giá khả năng

chẩn đoán xác lao niệu sinh dục khi sử dụng

riêng rẽ hay kết hợp với nhau của 3 xét nghiệm

nêu trên

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân đến khám và điều trị lao

niệu sinh dục trong hơn mười năm từ

01/01//2004 đến 30/04/2014

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu hồ sơ bệnh nhân đến khám và điều trị lao niệu từ 01/01//2004 đến 30/04/2014, ngoại trú và nội trú Các thông tin ghi nhận gồm triệu chứng lâm sàng, kết quả cận lâm sàng như xét nghiệm lao chung, chẩn đoán hình ảnh (chụp đường niệu tiêm cản quang-UIV, chụp cắt lớp điện toán đa lát cắt-MSCT), xét nghiệm nước tiểu: tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu tìm vi khuẩn thường, nhuộm Ziehl–Neelsen 3 mẫu nước tiểu lấy trong 3 ngày liên tiếp, cấy trên môi trường Löwenstein–Jensen 3 mẫu nước tiểu lấy trong 3 ngày liên tiếp, phản ứng PCR nước tiểu tìm

M.tuberculosis

Hình 1: Phát hiện M.tuberculosis bằng Các đám

M.tuberculosis không màu mọc

Trang 3

Hình 2: Nhuộm Ziehl–Neelsen trên MT Löwenstein–

Jensen

Nhuộm Ziehl–Neelsen: hứng nước tiểu 12

giờ, từ 7 giờ tối đến 7 giờ sáng hôm sau tiểu

lần chót vào chai và mang đến phòng xét

nghiệm Cấy nước tiểu trên môi trường

Löwenstein–Jensen: hứng nước tiểu giữa dòng

khoảng 50 ml, 3 ngày liên tiếp, để tủ lạnh,

quay ly tâm và cấy chung 3 mẫu nước tiểu

trên 3 môi trường: Löwenstein, Coletsos và

BioFM, thực hiện tại Viện Pasteur thành phố

Hồ Chí Minh Phản ứng chuỗi trùng hợp

(PCR): hứng một mẫu nước tiểu giữa dòng

buổi sáng, dùng đoạn AND đích là trình tự

IS6110 phát hiện M.tuberculosis, thực hiện tại

Trung tâm Medic thành phố Hồ Chí Minh

Các số liệu được sử lý bằng phần mềm

thống kê SPSS 16

KẾT QUẢ

Bệnh nhân

Mẫu nghiên cứu có 155 bệnh nhân Bệnh

nhân nam: 68/155 (43,9%) Nữ: 87/155 (56,1%)

Tuổi trung bình: 44 tuổi (15 - 88)

Triệu chứng cơ năng

Bệnh nhân thường than phiền đau hông lưng nhiều nhất và ít khi ghi nhân triệu chứng sốt về chiều

Biểu đồ 1: Triệu chứng cơ năng

Triệu chứng thực thể

Ấn đau hông lưng là triệu chứng thường gặp nhất và các triệu chứng ít gặp là khối cứng ở bìu, đau hạ vị, khối cứng ở tuyến tiền liệt

Biểu đồ 2: Triệu chứng thực thể

Xét nghiệm chẩn đoán gián tiếp

Chụp hệ niệu tiêm cản quang (UIV): có 129/155 bệnh nhân (83,2%) có bất thường trên UIV

Trang 4

Biểu đồ 3: Chụp cắt lớp điện toán (CT/MSCT): có 41/155 bệnh nhân (26,5%) được chụp CT/MSCT

Biểu đồ 4: Nội soi bàng quang: Có 30/155 bệnh nhân (19,4%) được nội soi bàng quang chẩn đoán

Trang 5

Biểu đồ 5

Các xét nghiệm chẩn đoán trực tiếp

Xét nghiệm mô học có tổn thương lao

Thận: 27; Niệu quản: 9; Bàng quang: 3; Tuyến

tiền liệt: 2; Mào tinh: 2

Xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu

Nhuộm Ziehl–Neelsen nước tiểu tìm trực khuẩn

kháng acid-cồn

Có 86/155 (55,5%) bệnh nhân tìm thấy vi

khuẩn kháng acid–cồn trong nước tiểu

Cấy nước tiểu tìm trực khuẩn lao trên môi trường

Löwenstein–Jensen

Có 54/155 (34,8%) bệnh nhân có kết quả cấy

dương tính

Phản ứng chuỗi trùng hợp (Phản ứng IS6110-PCR)

Có 85/155 bệnh nhân (54,8%) dương tính tìm

thấy đoạn gen đặc hiệu của Mycobacteria

tuberculosis

Kết hợp các xét nghiệm

Bảng 1 Tỉ lệ phát hiện trực khuẩn lao khi kết hợp các

xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu

dương tính

Tỉ lệ

%

Nhuộm Ziehl–Neelsen + PCR 126 81,3

Cấy trên môi trường Löwenstein – 100 64,5

dương tính

Tỉ lệ

%

trường Löwenstein –Jensen Nhuộm Ziehl–Neelsen + cấy trên môi trường Löwenstein –Jensen + PCR

133 85,8

Bảng 2 Tỉ lệ phát hiện lao niệu sinh dục khi khi sử

dụng các xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu

Nhuộm Ziehl-Neelsen 55,5 Cấy trên môi trường Löwenstein–Jensen 34,8

Kết hợp nhuộm Ziehl-Neelsen và cấy trên môi

trường Löwenstein–Jensen

68,4 Kết hợp nhuộm Ziehl-Neelsen và PCR 81,3 Kết hợp cấy trên môi trường Löwenstein–Jensen

và PCR

64,5 Kết hợp cả 3 xét nghiệm 85,8

BÀN LUẬN

Chẩn đoán lao niệu sinh dục đến nay vẫn là một chẩn đoán khó Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định bệnh là tìm thấy trực khuẩn lao trong nước tiểu và/hoặc hình ảnh hoại tử bã đậu và đại bào Langerhans trong mẫu mô sinh thiết Trong nhiều năm trước, do những hạn chế về phương tiện kỹ thuật, tỉ lệ tìm thấy trực khuẩn lao trong mẫu nước tiểu thường không cao Tỉ lệ của Ngô Gia Hy báo cáo tại bệnh viện Bình Dân (1995)(6) là

Trang 6

thuốc kháng lao như một phương pháp chẩn

đoán Trước đây, tiêu chuẩn chẩn đoán là tìm

thấy vi khuẩn kháng acid-cồn trong nước tiểu là

chắc chắn nhất, nhưng tỉ lệ dương tính khá thấp

nên phải kết hợp cùng rất nhiều các phương tiện

chẩn đoán gián tiếp khác như chụp hệ niệu có

cản quang Trong loạt này, việc phối hợp phản

ứng chuỗi trùng hợp (PCR) với các xét nghiệm

tiêu chuẩn có thể được xem là một sự cải tiến về

kỹ thuật nhằm làm tăng tỉ lệ phát hiện nhiễm lao

niệu sinh dục

Các xét nghiệm nước tiểu riêng rẽ

Về nhuộm Ziehl-Neelsen nước tiểu

Loạt này có 86/155 bệnh nhân tìm thấy vi

khuẩn kháng acid-cồn trong mẫu nước tiểu, đạt

tỉ lệ 55,5% Tỉ lệ này thấp hơn tỉ lệ được báo cáo

của một loạt trước đây của chúng tôi (2005)(8) là

78%, nhưng cao hơn so với nhiều nghiên cứu

như của Hsu (2010)(3) là 14,1%, Lee (2011)(5) là

41,6%, Yazdani (2008)(12) là 18,2% Kết quả dương

tính đối với nhuộm Ziehl-Neelsen trong loạt này

cao là do lấy mẫu hứng trong 12 giờ, có những

bệnh nhân được thử đến 6 mẫu nước tiểu

Về cấy nước tiểu tìm trực khuẩn lao trên môi

trường Löwenstein-Jensen

Loạt này có 54/155 bệnh nhân có kết quả

dương tính, đạt tỉ lệ 34,8% Tỉ lệ này thấp hơn so

với một loạt trước đây của chúng tôi (2005)(8) là

51,1%, của Yazdani (2008)(12) là 57,6%, của Lee

(2011)(5) là 55,4%, nhưng cao hơn tỉ lệ của Hemal

(2000)(2) là 30,95%, của Kulchavenia (2010)(4) là

23,3%, của Sharma (2013)(9) là 8% Kết quả cấy

khác biệt giữa các nghiên cứu do quy trình cấy

tương đối phức tạp kéo dài, trung bình cấy 3

mẫu nước tiểu mất 3 tháng và phụ thuộc nhiều

vào điều kiện kỹ thuật của phòng xét nghiệm

Về phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR)

Loạt này có 85/155 bệnh nhân có kết quả

dương tính với đoạn gen đặc hiệu IS6110 của

Mycobacteria tuberculosis, đạt tỉ lệ 54,8% Tỉ lệ

phản ứng PCR dương tính của loạt này cao

hơn so với một loạt trước đây của chúng tôi

(2005)(8) là 42,4% nhưng thấp hơn so với các tác

giả: Hemal (2000)(2) là 94,29%, Yazdani (2008)(12)

là 78,79%, Kulchavenya (2010)(4) là 95,59%, Hsu (2010)(3) là 75% Kết quả dương tính PCR trong loạt này thấp có thể do các nguyên nhân sau: bệnh nhân khi làm xét nghiệm PCR tại Trung tâm Medic thường chỉ gửi một mẫu nước tiểu

do giá thành của một mẫu PCR còn tương đối cao Loạt này chỉ dùng đoạn AND đích là trình

tự IS6110 nhằm phát hiện Mycobacteria

tuberculosis nên nếu tác nhân gây bệnh là Mycobacteria bovis, Mycobacteria avium, v.v., thì

không phát hiện được

Về sự kết hợp các xét nghiệm

Trong loạt này, tỉ lệ phát hiện lao khi kết hợp các xét nghiệm là:

Nhuộm Ziehl-Neelsen kết hợp PCR là 81,3% Cấy trên môi trường Löwenstein-Jensen kết hợp PCR là 64,5%

Cấy trên môi trường Löwenstein-Jensen kết hợp nhuộm Ziehl-Neelsen là 68,4%

Kết hợp cả 3 phương pháp tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu là 85,8%

Cấy trên môi trường Löwenstein-Jensen, nhuộm Ziehl-Neelsen kết hợp UIV là 83,9% Kết hợp cả 3 phương pháp tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu + UIV là 89%

Khi so sánh giữa hai nhóm là nhóm là sử dụng đơn độc PCR và nhóm xét nghiệm tìm trực khuẩn lao truyền thống là cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein-Jensen kết hợp nhuộm Ziehl-Neelsen, ta thấy ở nhóm xét nghiệm truyền thống tỉ lệ phát hiện trực khuẩn lao lớn hơn nhóm sử dụng đơn độc PCR (68,4% so với

54,8%) Từ kết quả này có thể thấy tại Việt Nam,

phản ứng PCR trong chẩn đoán lao niệu vẫn chưa thể thay thế cho bộ xét nghiệm tìm trực khuẩn lao truyền thống Điều này càng được khẳng định khi so sánh tỉ lệ phát hiện lao niệu sinh dục giữa PCR với bộ xét nghiệm gồm cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein-Jensen, nhuộm Ziehl-Neelsen kết hợp UIV với kết quả là

bộ xét nghiệm truyền thống được sử dụng trước

Trang 7

đây cho tỉ lệ chẩn đoán lao cao hơn (83,9% so với

54,8%) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

Trên thế giới, PCR là một xét nghiệm được đánh

giá cao, theo các tác giả nước ngoài, tỉ lệ chẩn

đoán lao của PCR là 75-99%, nhưng tại Việt

Nam, do các nguyên nhân đã nêu, PCR tạm thời

chỉ giữ vai trò phối hợp mà chưa thể đóng vai trò

thay thế các xét nghiệm truyền thống

Khi xét vai trò như một xét nghiệm kết hợp,

câu hỏi đặt ra là bộ xét nghiệm kết hợp nào cho tỉ

lệ phát hiện lao cao nhất, tiện lợi nhất? Theo

bảng 1 và 2, ta thấy bộ xét nghiệm nhuộm

Ziehl-Neelsen kết hợp với PCR cho tỉ lệ phát hiện trực

khuẩn lao cao hơn bộ xét nghiệm cấy nước tiểu

trên môi trường Löwenstein-Jensen kết hợp

nhuộm Ziehl-Neelsen (81,3% so với 68,4%) Với

bộ xét nghiệm đầu, chỉ cần 3-5 ngày là sẽ có kết

quả thay vì sau 3 tháng như bộ xét nghiệm sau

Cũng theo bảng 1 và 2, có thể thấy sự kết hợp cả

3 xét nghiệm tìm trực khuẩn lao là tiêu chuẩn tốt

nhất để chẩn đoán xác định lao niệu sinh dục Sự

kết hợp 3 xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong

nước tiểu với UIV thành mô hình xét nghiệm

mới cũng tỏ ra hiệu quả hơn mô hình xét nghiệm

cũ chỉ gồm cấy nước tiểu trên môi trường

Löwenstein-Jensen, nhuộm Ziehl-Neelsen và

UIV với tỉ lệ phát hiện cao hơn (89% so với

83,9%) Tuy nhiên, UIV chỉ là một xét nghiệm

chẩn đoán gián tiếp không có tính khẳng định và

tỉ lệ phát hiện cũng không cao hơn nhiều so với

sự kết hợp bộ 3 xét nghiệm tìm trực khuẩn lao

trong nước tiểu (89% so với 85,8%) Vì vậy, nên

chăng hãy quan tâm phát triển các kỹ thuật chẩn

đoán trực tiếp và trả UIV về lại với vai trò là

phương tiện phát hiện các di chứng của lao trên

hệ tiết niệu sinh dục(8,10)

KẾT LUẬN

Kết hợp các xét nghiệm vi khuẩn học nước

tiểu cho tỉ lệ phát hiện bệnh lao niệu sinh dục

cao hơn và có tính khẳng định hơn Các xét

nghiệm gián tiếp chỉ có giá trị gợi ý chẩn đoán và

không làm tăng tỉ lệ chẩn đoán có ý nghĩa, chúng nên được trả về lại với vai trò là phương tiện phát hiện các di chứng của bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Çek M, Lenk S, Naber KG, Bishop MC, Johansen TEB, Botto

H, Grabe M, Lobel B, Redorta JP, Tenke P (2005) “EAU Guidelines for the Management of Genitourinary

Tuberculosis” Eur Urol, 48, pp.353–62

2 Hemal AK, Gupta NP, Kumar R, Rajeev TP, Dar L, Seth P (2000) “Polymerase chain reaction in clinically suspected genitourinary tuberculosis: comparison with intravenous urography, bladder biopsy, and urine acid fast bacilli culture”

Urology,56 (4), pp.570-4

3 Hsu HL, Lai CC, Yu FL, Lee JC, Chou CH, Tan CK, Yang PC, Hsueh PR (2010) “Clinical and microbiological characteristics

of urine culture-confirmed genitourinary tuberculosis at

medical centers in Taiwan from 1995 to 2007” Eur J Clin

Microbiol Infect Dis, Vol.30, pp.319–326

4 Kulchavenya (2010) ”Some aspects of urogenital tuberculosis”

Int J Nephrol Urol, Vol.2(2), pp.351-60

5 Lee JY, Park HY et al (2011) “Clinical Characteristics of Genitourinary Tuberculosis during a Recent 10-Year Period in

One Center” Korean J Urol, Vol 52(3),pp.200-5

6 Ngô Gia Hy, Phạm Văn Bùi, Võ Thị Hồng Liên, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (1995) Một vài sắc thái đặc biệt của lao niệu sinh

dục và phẫu thuật tạo hình đường tiểu Thời sự Y dược học

TP.Hồ Chí Minh,(5), tr.33-35

7 Nguyen Phuc Cam Hoang, Vu Le Chuyen Genitourinary

tuberculosis in a developing country (Vietnam): diagnosis and treatment, Urogenital Infections, European Association of Urology (EAU)–International Consultation on Urological Diseases (ICUD).©2010, p.892

8 Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng “Chẩn đoán, kết quả điều trị hẹp niệu quản do lao niệu-sinh dục” Luận án Tiến sĩ Y học, 2008

9 Sharma N., Sharma V et al (2013) “Diagnostic value of PCR

in genitourinary tuberculosis” Indian J Clin Biochem,

Vol.28(3),pp.305-8

10 Wang L.J., Wu C.F., Wong Y.C., Chuang C.K., Chu S.H., Chen C.J (2003) “Imaging findings of urinary tuberculosis on

excretory urography and computerized tomography” J Urol,

Vol.169(2),pp.524-8

11 Whitelaw A.C., Sturm W.A (2009) “Microbiological testing for Mycobacterium tuberculosis” Tuberculosis: a comprehensive clinical reference,1 st Ed, Sauders, pp.169-78

12 Yazdani M., Shahidi S., Shirani M (2007) “Urinary Polymerase Chain Reaction for Diagnosis of Urogenital

Tuberculosis” Urology Journal, Vol 5,(1), pp.46-9

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 13/6/2016 Ngày bài báo được đăng: 30/06/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 00:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w