Xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu có tính khẳng định trong chẩn đoán lao niệu-sinh dục. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá khả năng chẩn đoán xác định lao niệu sinh dục khi sử dụng riêng rẽ hay kết hợp với nhau của các xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu gồm nhuộm Ziehl-Neelsen nước tiểu, phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) nước tiểu tìm trực khuẩn lao, cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHẨN ĐOÁN LAO NIỆU SINH DỤC
CỦA CÁC XÉT NGHIỆM VI KHUẨN HỌC NƯỚC TIỂU
Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng*, Diêm Đăng Khoa*, Lê Văn Hiếu Nhân*, Trần Vĩnh Hưng**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu có tính khẳng định trong chẩn đoán lao niệu-sinh dục
Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá khả năng chẩn đoán xác định lao niệu sinh dục khi sử dụng riêng rẽ hay kết hợp với nhau của các xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu gồm nhuộm Ziehl-Neelsen nước tiểu, phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) nước tiểu tìm trực khuẩn lao, cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang mô tả với mẫu gồm
155 bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng nghi ngờ lao niệu sinh dục đến khám và điều trị tại Phòng khám Lao niệu bệnh viện Bình Dân trong hơn 10 năm từ 01/01/2004 đến 30/04/2014 Tất cả bệnh nhân đều được thực hiện cả 3 xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu gồm: nhuộm Ziehl-Neelsen nước tiểu, phản ứng PCR nước tiểu, cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen
Kết quả: trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ phát hiện bệnh lao niệu sinh dục khi sử dụng đơn độc các xét
nghiệm nhuộm Ziehl-Neelsen tìm trực khuẩn lao, phản ứng PCR nước tiểu, cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein-Jensen tìm trực khuẩn lao lần lượt là 55,5%, 54,8% và 34,8% Kết hợp 2 xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu: tỉ lệ phát hiện vi khuẩn khi kết hợp cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen và nhuộn Ziehl-Neelsen là 68,4%; cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein–Jensen kết hợp PCR là 64,5% và kết hợp giữa nhuộm Ziehl-Neelsen và PCR là 81,3% Kết hợp cả 3 xét nghiệm trên thì tỉ lệ phát hiện lao là 83,9%
Kết luận: Kết hợp các xét nghiệm vi khuẩn học nước tiểu cho tỉ lệ phát hiện bệnh lao niệu sinh dục cao hơn
và có tính khẳng định hơn Các xét nghiệm gián tiếp chỉ có giá trị gợi ý chẩn đoán và không làm tăng tỉ lệ chẩn đoán có ý nghĩa, chúng nên được trả về lại với vai trò là phương tiện phát hiện các di chứng của bệnh
Từ khóa: Lao niệu sinh dục, phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR), nhuộm Ziehl-Neelsen, cấy nước tiểu trên
môi trường Löwenstein–Jensen
ABSTRACT
BACTERIOLOGICAL EXAMINATIONS OF URINE IN DIAGNOSIS OF GENITOURINARY
TUBERCULOSIS
Nguyen Phuc Cam Hoang, Diem Dang Khoa, Le Van Hieu Nhan, Tran Vinh Hung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 4 - 2016: 96 - 102
Objectives: Bacteriological examinations of urine are confirmative in diagnosis of genitourinary tuberculosis
(GUTB) We assess the efficacy of the bacteriological examinations of urine in detection of GUTB including Ziehl-Neelsen stain for AFB, polymerase chain reaction (PCR), and culture in Löwenstein-Jensen medium when used separately and combining
Patients and methods: We performed a descriptive cross-sectional study with 155 patients diagnosed of
GUTB clinically and/or paraclinically treated at the GUTB outpatient clinic of Binh Dan hospital in nearly 10 years from January 2004 to April 2014 All patients had 3 bacteriological examinations of urine including Ziehl-Neelsen stain for AFB, polymerase chain reaction IS6110 (PCR), and urine culture in Löwenstein-Jensen
Trang 2medium
Results: When used separately for the diagnosis of GUTB, the detection rate of Ziehl-Neelsen stain for AFB,
polymerase chain reaction (PCR), and culture in Löwenstein-Jensen medium are: 55.5% , 54.8%, and 34.8%, respectively Combination of 2 examinations, the detection rate of Ziehl-Neelsen stain for AFB combined with culture in Löwenstein-Jensen medium is 68.4%, the detection rate of culture in Löwenstein-Jensen medium combined with PCR is 64.5%, and the detection rate of Ziehl-Neelsen stain for AFB combined with PCR is 81.3% Combination of the 3 examinations had the detection rate of 83.9%
Conclusions: The combination of the 3 bacteriological examinations of urine raises the detection rate of
GUTB and makes the diagnosis more confirmative The indirect examinations are not really diagnostic and they don’t raise the detection rate significantly, hence, they deserve the classic role of detection of the disease’s sequalae
Keywords: Genitourinary tuberculosis, Polymerase chain reaction, Ziehl-Neelsen stain, urine culture in
Löwenstein-Jensen medium
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lao niệu sinh dục là loại lao ngoài phổi có
tần suất xếp hàng thứ hai sau lao hạch, chiếm
40% các trường hợp lao ngoài phổi(1) Tại các
nước phát triển, tần suất lao niệu sinh dục
khoảng 2% trên tổng số các thể lao, nhưng đối
với các nước đang phát triển như Việt Nam, tỉ lệ
này lên đến 20%(11) Chẩn đoán xác định lao niệu
còn là một chẩn đoán khó Trong khoảng thời
gian trước năm 2000, do hạn chế về kỹ thuật xét
nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu, tỉ lệ
tìm thấy trực khuẩn lao trong nước tiểu không
cao: chỉ khoảng 33-38%(6) và có nhiều trường hợp
phải điều trị thử lao như là một phương tiện
chẩn đoán Từ sau năm 2000, phòng khám lao
niệu bệnh viện Bình Dân đã áp dụng cả 3
phương pháp tìm trực khuẩn lao trong nước
tiểu: nhuộm Ziehl-Neelsen, phản ứng chuỗi
trùng hợp (PCR), cấy nước tiểu trên môi trường
Löwenstein(8, 7) Bài báo này đánh giá khả năng
chẩn đoán xác lao niệu sinh dục khi sử dụng
riêng rẽ hay kết hợp với nhau của 3 xét nghiệm
nêu trên
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân đến khám và điều trị lao
niệu sinh dục trong hơn mười năm từ
01/01//2004 đến 30/04/2014
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu hồ sơ bệnh nhân đến khám và điều trị lao niệu từ 01/01//2004 đến 30/04/2014, ngoại trú và nội trú Các thông tin ghi nhận gồm triệu chứng lâm sàng, kết quả cận lâm sàng như xét nghiệm lao chung, chẩn đoán hình ảnh (chụp đường niệu tiêm cản quang-UIV, chụp cắt lớp điện toán đa lát cắt-MSCT), xét nghiệm nước tiểu: tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu tìm vi khuẩn thường, nhuộm Ziehl–Neelsen 3 mẫu nước tiểu lấy trong 3 ngày liên tiếp, cấy trên môi trường Löwenstein–Jensen 3 mẫu nước tiểu lấy trong 3 ngày liên tiếp, phản ứng PCR nước tiểu tìm
M.tuberculosis
Hình 1: Phát hiện M.tuberculosis bằng Các đám
M.tuberculosis không màu mọc
Trang 3Hình 2: Nhuộm Ziehl–Neelsen trên MT Löwenstein–
Jensen
Nhuộm Ziehl–Neelsen: hứng nước tiểu 12
giờ, từ 7 giờ tối đến 7 giờ sáng hôm sau tiểu
lần chót vào chai và mang đến phòng xét
nghiệm Cấy nước tiểu trên môi trường
Löwenstein–Jensen: hứng nước tiểu giữa dòng
khoảng 50 ml, 3 ngày liên tiếp, để tủ lạnh,
quay ly tâm và cấy chung 3 mẫu nước tiểu
trên 3 môi trường: Löwenstein, Coletsos và
BioFM, thực hiện tại Viện Pasteur thành phố
Hồ Chí Minh Phản ứng chuỗi trùng hợp
(PCR): hứng một mẫu nước tiểu giữa dòng
buổi sáng, dùng đoạn AND đích là trình tự
IS6110 phát hiện M.tuberculosis, thực hiện tại
Trung tâm Medic thành phố Hồ Chí Minh
Các số liệu được sử lý bằng phần mềm
thống kê SPSS 16
KẾT QUẢ
Bệnh nhân
Mẫu nghiên cứu có 155 bệnh nhân Bệnh
nhân nam: 68/155 (43,9%) Nữ: 87/155 (56,1%)
Tuổi trung bình: 44 tuổi (15 - 88)
Triệu chứng cơ năng
Bệnh nhân thường than phiền đau hông lưng nhiều nhất và ít khi ghi nhân triệu chứng sốt về chiều
Biểu đồ 1: Triệu chứng cơ năng
Triệu chứng thực thể
Ấn đau hông lưng là triệu chứng thường gặp nhất và các triệu chứng ít gặp là khối cứng ở bìu, đau hạ vị, khối cứng ở tuyến tiền liệt
Biểu đồ 2: Triệu chứng thực thể
Xét nghiệm chẩn đoán gián tiếp
Chụp hệ niệu tiêm cản quang (UIV): có 129/155 bệnh nhân (83,2%) có bất thường trên UIV
Trang 4Biểu đồ 3: Chụp cắt lớp điện toán (CT/MSCT): có 41/155 bệnh nhân (26,5%) được chụp CT/MSCT
Biểu đồ 4: Nội soi bàng quang: Có 30/155 bệnh nhân (19,4%) được nội soi bàng quang chẩn đoán
Trang 5Biểu đồ 5
Các xét nghiệm chẩn đoán trực tiếp
Xét nghiệm mô học có tổn thương lao
Thận: 27; Niệu quản: 9; Bàng quang: 3; Tuyến
tiền liệt: 2; Mào tinh: 2
Xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu
Nhuộm Ziehl–Neelsen nước tiểu tìm trực khuẩn
kháng acid-cồn
Có 86/155 (55,5%) bệnh nhân tìm thấy vi
khuẩn kháng acid–cồn trong nước tiểu
Cấy nước tiểu tìm trực khuẩn lao trên môi trường
Löwenstein–Jensen
Có 54/155 (34,8%) bệnh nhân có kết quả cấy
dương tính
Phản ứng chuỗi trùng hợp (Phản ứng IS6110-PCR)
Có 85/155 bệnh nhân (54,8%) dương tính tìm
thấy đoạn gen đặc hiệu của Mycobacteria
tuberculosis
Kết hợp các xét nghiệm
Bảng 1 Tỉ lệ phát hiện trực khuẩn lao khi kết hợp các
xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu
dương tính
Tỉ lệ
%
Nhuộm Ziehl–Neelsen + PCR 126 81,3
Cấy trên môi trường Löwenstein – 100 64,5
dương tính
Tỉ lệ
%
trường Löwenstein –Jensen Nhuộm Ziehl–Neelsen + cấy trên môi trường Löwenstein –Jensen + PCR
133 85,8
Bảng 2 Tỉ lệ phát hiện lao niệu sinh dục khi khi sử
dụng các xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu
Nhuộm Ziehl-Neelsen 55,5 Cấy trên môi trường Löwenstein–Jensen 34,8
Kết hợp nhuộm Ziehl-Neelsen và cấy trên môi
trường Löwenstein–Jensen
68,4 Kết hợp nhuộm Ziehl-Neelsen và PCR 81,3 Kết hợp cấy trên môi trường Löwenstein–Jensen
và PCR
64,5 Kết hợp cả 3 xét nghiệm 85,8
BÀN LUẬN
Chẩn đoán lao niệu sinh dục đến nay vẫn là một chẩn đoán khó Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định bệnh là tìm thấy trực khuẩn lao trong nước tiểu và/hoặc hình ảnh hoại tử bã đậu và đại bào Langerhans trong mẫu mô sinh thiết Trong nhiều năm trước, do những hạn chế về phương tiện kỹ thuật, tỉ lệ tìm thấy trực khuẩn lao trong mẫu nước tiểu thường không cao Tỉ lệ của Ngô Gia Hy báo cáo tại bệnh viện Bình Dân (1995)(6) là
Trang 6thuốc kháng lao như một phương pháp chẩn
đoán Trước đây, tiêu chuẩn chẩn đoán là tìm
thấy vi khuẩn kháng acid-cồn trong nước tiểu là
chắc chắn nhất, nhưng tỉ lệ dương tính khá thấp
nên phải kết hợp cùng rất nhiều các phương tiện
chẩn đoán gián tiếp khác như chụp hệ niệu có
cản quang Trong loạt này, việc phối hợp phản
ứng chuỗi trùng hợp (PCR) với các xét nghiệm
tiêu chuẩn có thể được xem là một sự cải tiến về
kỹ thuật nhằm làm tăng tỉ lệ phát hiện nhiễm lao
niệu sinh dục
Các xét nghiệm nước tiểu riêng rẽ
Về nhuộm Ziehl-Neelsen nước tiểu
Loạt này có 86/155 bệnh nhân tìm thấy vi
khuẩn kháng acid-cồn trong mẫu nước tiểu, đạt
tỉ lệ 55,5% Tỉ lệ này thấp hơn tỉ lệ được báo cáo
của một loạt trước đây của chúng tôi (2005)(8) là
78%, nhưng cao hơn so với nhiều nghiên cứu
như của Hsu (2010)(3) là 14,1%, Lee (2011)(5) là
41,6%, Yazdani (2008)(12) là 18,2% Kết quả dương
tính đối với nhuộm Ziehl-Neelsen trong loạt này
cao là do lấy mẫu hứng trong 12 giờ, có những
bệnh nhân được thử đến 6 mẫu nước tiểu
Về cấy nước tiểu tìm trực khuẩn lao trên môi
trường Löwenstein-Jensen
Loạt này có 54/155 bệnh nhân có kết quả
dương tính, đạt tỉ lệ 34,8% Tỉ lệ này thấp hơn so
với một loạt trước đây của chúng tôi (2005)(8) là
51,1%, của Yazdani (2008)(12) là 57,6%, của Lee
(2011)(5) là 55,4%, nhưng cao hơn tỉ lệ của Hemal
(2000)(2) là 30,95%, của Kulchavenia (2010)(4) là
23,3%, của Sharma (2013)(9) là 8% Kết quả cấy
khác biệt giữa các nghiên cứu do quy trình cấy
tương đối phức tạp kéo dài, trung bình cấy 3
mẫu nước tiểu mất 3 tháng và phụ thuộc nhiều
vào điều kiện kỹ thuật của phòng xét nghiệm
Về phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR)
Loạt này có 85/155 bệnh nhân có kết quả
dương tính với đoạn gen đặc hiệu IS6110 của
Mycobacteria tuberculosis, đạt tỉ lệ 54,8% Tỉ lệ
phản ứng PCR dương tính của loạt này cao
hơn so với một loạt trước đây của chúng tôi
(2005)(8) là 42,4% nhưng thấp hơn so với các tác
giả: Hemal (2000)(2) là 94,29%, Yazdani (2008)(12)
là 78,79%, Kulchavenya (2010)(4) là 95,59%, Hsu (2010)(3) là 75% Kết quả dương tính PCR trong loạt này thấp có thể do các nguyên nhân sau: bệnh nhân khi làm xét nghiệm PCR tại Trung tâm Medic thường chỉ gửi một mẫu nước tiểu
do giá thành của một mẫu PCR còn tương đối cao Loạt này chỉ dùng đoạn AND đích là trình
tự IS6110 nhằm phát hiện Mycobacteria
tuberculosis nên nếu tác nhân gây bệnh là Mycobacteria bovis, Mycobacteria avium, v.v., thì
không phát hiện được
Về sự kết hợp các xét nghiệm
Trong loạt này, tỉ lệ phát hiện lao khi kết hợp các xét nghiệm là:
Nhuộm Ziehl-Neelsen kết hợp PCR là 81,3% Cấy trên môi trường Löwenstein-Jensen kết hợp PCR là 64,5%
Cấy trên môi trường Löwenstein-Jensen kết hợp nhuộm Ziehl-Neelsen là 68,4%
Kết hợp cả 3 phương pháp tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu là 85,8%
Cấy trên môi trường Löwenstein-Jensen, nhuộm Ziehl-Neelsen kết hợp UIV là 83,9% Kết hợp cả 3 phương pháp tìm trực khuẩn lao trong nước tiểu + UIV là 89%
Khi so sánh giữa hai nhóm là nhóm là sử dụng đơn độc PCR và nhóm xét nghiệm tìm trực khuẩn lao truyền thống là cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein-Jensen kết hợp nhuộm Ziehl-Neelsen, ta thấy ở nhóm xét nghiệm truyền thống tỉ lệ phát hiện trực khuẩn lao lớn hơn nhóm sử dụng đơn độc PCR (68,4% so với
54,8%) Từ kết quả này có thể thấy tại Việt Nam,
phản ứng PCR trong chẩn đoán lao niệu vẫn chưa thể thay thế cho bộ xét nghiệm tìm trực khuẩn lao truyền thống Điều này càng được khẳng định khi so sánh tỉ lệ phát hiện lao niệu sinh dục giữa PCR với bộ xét nghiệm gồm cấy nước tiểu trên môi trường Löwenstein-Jensen, nhuộm Ziehl-Neelsen kết hợp UIV với kết quả là
bộ xét nghiệm truyền thống được sử dụng trước
Trang 7đây cho tỉ lệ chẩn đoán lao cao hơn (83,9% so với
54,8%) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
Trên thế giới, PCR là một xét nghiệm được đánh
giá cao, theo các tác giả nước ngoài, tỉ lệ chẩn
đoán lao của PCR là 75-99%, nhưng tại Việt
Nam, do các nguyên nhân đã nêu, PCR tạm thời
chỉ giữ vai trò phối hợp mà chưa thể đóng vai trò
thay thế các xét nghiệm truyền thống
Khi xét vai trò như một xét nghiệm kết hợp,
câu hỏi đặt ra là bộ xét nghiệm kết hợp nào cho tỉ
lệ phát hiện lao cao nhất, tiện lợi nhất? Theo
bảng 1 và 2, ta thấy bộ xét nghiệm nhuộm
Ziehl-Neelsen kết hợp với PCR cho tỉ lệ phát hiện trực
khuẩn lao cao hơn bộ xét nghiệm cấy nước tiểu
trên môi trường Löwenstein-Jensen kết hợp
nhuộm Ziehl-Neelsen (81,3% so với 68,4%) Với
bộ xét nghiệm đầu, chỉ cần 3-5 ngày là sẽ có kết
quả thay vì sau 3 tháng như bộ xét nghiệm sau
Cũng theo bảng 1 và 2, có thể thấy sự kết hợp cả
3 xét nghiệm tìm trực khuẩn lao là tiêu chuẩn tốt
nhất để chẩn đoán xác định lao niệu sinh dục Sự
kết hợp 3 xét nghiệm tìm trực khuẩn lao trong
nước tiểu với UIV thành mô hình xét nghiệm
mới cũng tỏ ra hiệu quả hơn mô hình xét nghiệm
cũ chỉ gồm cấy nước tiểu trên môi trường
Löwenstein-Jensen, nhuộm Ziehl-Neelsen và
UIV với tỉ lệ phát hiện cao hơn (89% so với
83,9%) Tuy nhiên, UIV chỉ là một xét nghiệm
chẩn đoán gián tiếp không có tính khẳng định và
tỉ lệ phát hiện cũng không cao hơn nhiều so với
sự kết hợp bộ 3 xét nghiệm tìm trực khuẩn lao
trong nước tiểu (89% so với 85,8%) Vì vậy, nên
chăng hãy quan tâm phát triển các kỹ thuật chẩn
đoán trực tiếp và trả UIV về lại với vai trò là
phương tiện phát hiện các di chứng của lao trên
hệ tiết niệu sinh dục(8,10)
KẾT LUẬN
Kết hợp các xét nghiệm vi khuẩn học nước
tiểu cho tỉ lệ phát hiện bệnh lao niệu sinh dục
cao hơn và có tính khẳng định hơn Các xét
nghiệm gián tiếp chỉ có giá trị gợi ý chẩn đoán và
không làm tăng tỉ lệ chẩn đoán có ý nghĩa, chúng nên được trả về lại với vai trò là phương tiện phát hiện các di chứng của bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Çek M, Lenk S, Naber KG, Bishop MC, Johansen TEB, Botto
H, Grabe M, Lobel B, Redorta JP, Tenke P (2005) “EAU Guidelines for the Management of Genitourinary
Tuberculosis” Eur Urol, 48, pp.353–62
2 Hemal AK, Gupta NP, Kumar R, Rajeev TP, Dar L, Seth P (2000) “Polymerase chain reaction in clinically suspected genitourinary tuberculosis: comparison with intravenous urography, bladder biopsy, and urine acid fast bacilli culture”
Urology,56 (4), pp.570-4
3 Hsu HL, Lai CC, Yu FL, Lee JC, Chou CH, Tan CK, Yang PC, Hsueh PR (2010) “Clinical and microbiological characteristics
of urine culture-confirmed genitourinary tuberculosis at
medical centers in Taiwan from 1995 to 2007” Eur J Clin
Microbiol Infect Dis, Vol.30, pp.319–326
4 Kulchavenya (2010) ”Some aspects of urogenital tuberculosis”
Int J Nephrol Urol, Vol.2(2), pp.351-60
5 Lee JY, Park HY et al (2011) “Clinical Characteristics of Genitourinary Tuberculosis during a Recent 10-Year Period in
One Center” Korean J Urol, Vol 52(3),pp.200-5
6 Ngô Gia Hy, Phạm Văn Bùi, Võ Thị Hồng Liên, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (1995) Một vài sắc thái đặc biệt của lao niệu sinh
dục và phẫu thuật tạo hình đường tiểu Thời sự Y dược học
TP.Hồ Chí Minh,(5), tr.33-35
7 Nguyen Phuc Cam Hoang, Vu Le Chuyen Genitourinary
tuberculosis in a developing country (Vietnam): diagnosis and treatment, Urogenital Infections, European Association of Urology (EAU)–International Consultation on Urological Diseases (ICUD).©2010, p.892
8 Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng “Chẩn đoán, kết quả điều trị hẹp niệu quản do lao niệu-sinh dục” Luận án Tiến sĩ Y học, 2008
9 Sharma N., Sharma V et al (2013) “Diagnostic value of PCR
in genitourinary tuberculosis” Indian J Clin Biochem,
Vol.28(3),pp.305-8
10 Wang L.J., Wu C.F., Wong Y.C., Chuang C.K., Chu S.H., Chen C.J (2003) “Imaging findings of urinary tuberculosis on
excretory urography and computerized tomography” J Urol,
Vol.169(2),pp.524-8
11 Whitelaw A.C., Sturm W.A (2009) “Microbiological testing for Mycobacterium tuberculosis” Tuberculosis: a comprehensive clinical reference,1 st Ed, Sauders, pp.169-78
12 Yazdani M., Shahidi S., Shirani M (2007) “Urinary Polymerase Chain Reaction for Diagnosis of Urogenital
Tuberculosis” Urology Journal, Vol 5,(1), pp.46-9
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 13/6/2016 Ngày bài báo được đăng: 30/06/2016