1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả giáo dục sức khỏe tự chăm sóc bàn chân ở người bệnh đái tháo đường typ 2

5 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 293,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả chương trình giáo dục sức khỏe tự chăm sóc bàn chân ở người bệnh (NB) đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 tại một bệnh viện tỉnh.

Trang 1

HIỆU QUẢ GIÁO DỤC SỨC KHỎE TỰ CHĂM SÓC BÀN CHÂN

Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2

Phạm Nguyễn Hồng Phúc*, Ann Henderson**, Võ Nguyên Trung***

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả chương trình giáo dục sức khỏe tự chăm sóc bàn chân ở người bệnh (NB) đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2 tại một bệnh viện tỉnh

Đối tượng- phương pháp nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu gồm 73 NB ĐTĐ typ 2 đến khám và điều trị tại

bệnh viện đa khoa Tiền Giang được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện Những NB này được đánh giá kiến thức và hành vi lần 1 sau đó được áp dụng chương trình giáo dục sức khỏe về tự chăm sóc bàn chân Sau 1

tháng những NB này được đánh giá lại kiến thức và hành vi lần 2

Kết quả: Có 73NB được đưa vào nghiên cứu, kiến thức đúng tự chăm sóc bàn chân tăng từ 17,6% lên

76,7%, hành vi đúng tự chăm sóc bàn chân tăng từ 12,3% lên 64,4%

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy hiệu quả của chương trình GDSK trong việc nâng cao kiến thức, hành vi về

tự chăm sóc bàn chân ở NBĐTĐ typ 2

Từ khóa: Giáo dục sức khỏe, tự chăm sóc bàn chân, đái tháo đường, kiến thức, hành vi

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF HEALTH EDUCATION PROGRAM ABOUT FOOT SELF-CARE FOR TYPE 2

DIABETES PATIENTS

Pham Nguyen Hong Phuc, Ann Henderson, Vo Nguyen Trung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 5- 2018: 120 - 124

Objectives: To evaluate the effectiveness of self-care foot in diabetes patient type 2 about health education program in a provincial hospital

Methods: The study sample consisted of 73 diabetes patients type 2 who received treatment at Tien Giang

General Hospital with a convenient sampling method These patients were assessed for knowledge and behavior for the first time and then adopted a self-care foot health education program After 1 month these patients were re-evaluated knowledge and behavior second times

Results: 73 patients were inculed in the study, knowledge of foot self- care increase from 17.6% to 76.7%, behavior of foot self-care increase from 12.3% to 64.4%

Conclusions: Research shows the effectiveness of a health education program in improving knowledge and behavior of foot self-care in patients with type 2 diabetes

Keywords: Health education program, foot self-care, diabetes, knowledge, behavior

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các biến chứng bàn chân do ĐTĐ như biến

dạng bàn chân, loét bàn chân, hoại tử ngón

chân… là nguyên nhân phổ biến nhất trong

nhóm nguyên nhân không phải chấn thương gây cắt cụt chi ở các nước phát triển Nghiên cứu của Bộ Y tế cho thấy 5 - 7% số trường hợp ĐTĐ

bị biến chứng loét bàn chân và nguy cơ cắt cụt

*Học viên cao học điều dưỡng khóa 2016-2018, Đại học Y dược TPHCM

**Đại học Northern Colorado Mỹ, ***Đại học Y dược TPHCM

Trang 2

chi ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 15 - 46 lần so với

người không mắc bệnh(4). Sự hoại tử bàn chân có

thể xảy ra khi không được quan tâm chăm sóc

đúng mức, đáng sợ nhất có thể phải tháo bàn

chân là giải quyết bắt buộc khi không còn giữ

được nữa Như vậy việc chăm sóc bàn chân ở

người bệnh tiểu đường là vấn đề quan trọng và

cần được quan tâm chu đáo Trong đó vai trò

của người điều dưỡng là rất quan trọng trong

việc giáo dục sức khỏe, hướng dẫn NB tự chăm

sóc đôi chân của mình hàng ngày(3,11) Cho đến

nay tại Việt Nam vấn đề chăm sóc bàn chân bởi

chính NB ĐTĐ đã được nhiều tác giả quan tâm

nghiên cứu, tập trung về kiến thức và hành vi

của NB(6,9,16,17) Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu đánh

giá sự thay đổi kiến thức và hành vi sau khi

được GDSK tự chăm sóc bàn chân Chính vì thế

với câu hỏi nghiên cứu: “Liệu GDSK tự chăm

sóc bàn chân ở NB ĐTĐ có làm cải thiện kiến

thức và hành vi về việc tự chăm sóc bàn chân

hay không?”, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Hiệu quả giáo dục sức khỏe về tự chăm sóc

bàn chân ở NB đái tháo đường typ 2 tại một

bệnh viện tỉnh”

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ 01/01/2018 - 01/06/2018 tại Bệnh viện đa

khoa Tiền Giang

Thiết kế nghiên cứu

Khảo sát một nhóm trước và sau can thiệp

Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp

chọn mẫu thuận tiện theo tiêu chuẩn chọn

bệnh cho đến khi đủ cỡ mẫu

Cỡ mẫu

Gồm 73 NB ĐTĐ typ 2 đến khám và điều

trị tại bệnh viện đa khoa Tiền Giang

Tiêu chuẩn nhận vào

NB ĐTĐ typ 2 được chẩn đoán ĐTĐ typ 2

theo tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại của

ADA 2017

Tuổi ≥ 18

Đang điều trị tại bệnh viện đa khoa Tiền Giang từ 01/01/2018 đến 01/06/2018

Đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

NB có các bệnh lý cấp tính nặng (đột quỵ, nhồi máu cơ tim cấp tính, viêm gan cấp, suy thận cấp, viêm phổi nặng….)

NB mắc bệnh lý tâm thần không có khả năng giao tiếp

NB bị mù lòa, câm điếc

NB đã bị cắt cụt chi

NB không đến tái khám và không nghe điện thoại của nghiên cứu viên

Các bước tiến hành

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này qua 3 giai đoạn

Giai đoạn 1

Xây dựng bộ câu hỏi mô tả kiến thức, hành

vi của NB ĐTĐ typ 2 về tự chăm sóc bàn chân được dựa trên bộ câu hỏi có sẵn của Nguyễn Tiến Dũng năm 2012(12)

Giai đoạn 2

Kiểm tra lại bộ câu hỏi, nghiên cứu thử 30

NB nhằm đánh giá lại thời gian hoàn thành thu thập số liệu, rà soát lại các bước tiến hành nghiên cứu Các NB này chúng tôi không tính vào mẫu nghiên cứu

Giai đoạn 3

Thu thập số liệu nghiên cứu:

Bước 1: sàng lọc và thu nhận đối tượng Bước 2: tư vấn và ký đồng thuận tham gia nghiên cứu

Bước 3: khảo sát sự hiểu biết và hành vi của

NB lần 1 tại phòng tư vấn

Bước 4: tiến hành GDSK, thời gian khoảng 30 phút, mỗi lần tập trung khoảng 5 NB

Bước 5: khảo sát sự hiểu biết và hành vi của

NB lần 2 sau 1 tháng (thời điểm NB đến tái

khám)

Trang 3

Phân tích và xử lý số liệu

Số liệu thu thập sẽ được mô tả và phân tích

bằng phần mềm SPSS 22.0

KẾT QUẢ

Tổng cộng có 73 NB thỏa tiêu chí chọn mẫu

và được đưa vào nghiên cứu trong khoảng thời

gian từ 01/01/2018 đến 01/06/2018, tại khoa nội

tiết bệnh viện đa khoa Tiền Giang

Bảng 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nơi ở Thành thị 28 38,4

Nông thôn 45 61,6

Tuổi

<40 tuổi 2 2,7 40-49 tuổi 5 6.8 50-59 tuổi 15 20.5 60-69 tuổi 29 39,7

>=70 tuổi 22 30,1

Trình độ học

vấn

Không biết chữ 6 8,2 Tiểu học - Trung học

Phổ thông trung học 1 1,3

Trên Trung cấp 2 2,7 Thời gian mắc

bệnh

<5 năm 43 58,9 5-10 năm 13 17,8

>= 10 năm 17 23,3

Có nhận thông

tin về bàn

chân ĐTĐ

10 13,7 Phân loại bàn

chân

Có biến chứng bàn

Khác biệt kiến thức trước và sau giáo dục sức

khỏe tự chăm sóc bàn chân ĐTĐ

Bảng 2 So sánh tỷ lệ phần trăm kiến thức đúng của

đối tượng trước và sau giáo dục sức khỏe tự chăm sóc

bàn chân

Kiến thức

Trước can thiệp

Sau can thiệp p

n (%) n(%)

Kiến thức về chăm sóc bàn

chân 45 (61,6) 71 (97,3) <0,001**

Kiến thức về rửa chân 21 (28,8) 50 (68,5) <0,001**

Kiến thức về kiểm tra bàn

chân 18 (24,7) 46(63) <0,001**

Kiến thức về chăm sóc và vệ

sinh vết thương 17 (23,3) 42 (57,5) <0,001**

Kiến thức về thể dục bàn

44 (60,2) 62 (83,7) <0,005**

Kiến thức

Trước can thiệp

Sau can thiệp p

n (%) n(%)

Kiến thức về bảo hộ chân 35 (47,9) 58 (78,3) <0,001** Kiến thức về chăm sóc da và

móng chân 11 (14,1) 40(54) <0,001** Kiến thức về gặp bác sỹ để

kiểm tra bàn chân 30 (41,1) 68 (93,2) <0,001** Tổng % kiến thức đúng 13 (17,8) (56) 76,7 <0,001**

** Kiểm định Mc Nemar

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự

khác biệt về tỷ lệ đúng trước can thiệp là 17,8%

và sau can thiệp là 76,7%, sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Khác biệt về hành vi trước sau GDSK tự chăm sóc bàn chân

Bảng 3 So sánh tỷ lệ phần trăm hành vi đúng của

đối tượng trước và sau GDSK tự chăm sóc bàn chân

Hành vi

Trước can thiệp

Sau can thiệp p n(%) n(%)

Hành vi về rửa chân 36 (49,3) 55 (75,3) <0,001** Hành vi về chăm sóc da và

móng chân 25 (34,2) 43 (58,9) <0,05** Hành vi kiểm tra bàn chân 24 (32,9) 29 (39,7) 0,487** Hành vi bảo hộ bàn chân 44 (60,3) 64 (87,7) <0,001** Hành vi thể dục bàn chân 12 (16,4) 37 (50,7) <0,001** Hành vi chăm sóc vết

thương 55 (75,3) 71 (97,3) <0,001** Hành vi gặp bác sỹ để

kiểm tra bàn chân 27 (37) 53 (72,6) <0,001** Tổng tỷ lệ phần trăm hành

vi 9 (12,3) 47 (64,4) <0,001**

**Kiểm định Mc Nemar

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự

khác biệt về tỷ lệ hành vi đúng trước can thiệp là 12,3% và sau can thiệp là 64,4%, sự thay đổi này

có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu

Khu vực sinh sống của NB đa phần là ở nông thôn chiếm 61,6%, Kết quả này tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Đào (2012)(9).

Về độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 63,8, nhỏ nhất là 32, lớn nhất là 86 Đối tượng nghiên cứu đa số trên 60 tuổi chiếm 71,3% Kết

Trang 4

Anh Khoa (2013)(17) Về tỷ lệ giới tính thì nữ/nam

là 2,1/1, kết quả này phù hợp với nhiều nghiên

cứu trong và ngoài nước Nghiên cứu của

Nguyễn Thị Gái (2017) có 67,7% là nữ, theo

Natalia De saP là 62,4% là nữ(8,11).Về trình độ học

vấn thì NB có trình độ học vấn từ cấp 2 trở

xuống chiếm tỷ lệ cao là 83,6% Tương tự nghiên

cứu của Nguyễn Thị Bích Đào (2012) với đối

tượng nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao là có trình độ

học vấn từ cấp 2 trở xuống(9), đa số NB trong

nghiên cứu này sống tại nông thôn nên có tỷ lệ

trình độ học vấn thấp Về thời gian mắc bệnh thì

tỷ lệ NB mắc bệnh đa phần là dưới 5 năm chiếm

tỷ lệ 58,9% Kết quả tương tự như trên cũng gặp

trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Đào

(2012) với đa số NB mắc bệnh dưới 5 năm là

47,2%(9), Sawanjai (2006) là 58,5%(13) Trong

nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ NB nhận được

thông tin chăm sóc bàn chân rất thấp chỉ có

13,7%, nghiên cứu chúng tôi đối tượng nghiên

cứu chủ yếu sống ở nông thôn cho nên việc tiếp

cận và tiếp nhận những nguồn thông tin đại

chúng (tivi, internet, báo đài, sách, tạp chí…) vẫn

còn hạn chế Về biến chứng bàn chân chúng tôi

ghi nhận có 16,4% NB có biến chứng bàn chân

Khác biệt điểm số kiến thức trước và sau giáo

dục sức khỏe

Tỷ lệ kiến thức đúng của NB về tự chăm sóc

bàn chân trước can thiệp chỉ ở mức rất thấp

(17,8%), tương đương kết quả nghiên cứu của

Bohorquez Robles R (2017) là 15,5%, thấp hơn

Nguyễn Tiến Dũng (2012) là 21,3%(2,12) Sự khác

biệt này có thể là do cách chọn mẫu Đối tượng

nghiên cứu của chúng tôi là NB đang điều trị nội

trú, và theo Hồ Bích Thủy trình độ học vấn và trí

thức của NB ở phòng khám thường cao hơn so

với bệnh phòng vì đa phần NB ở phòng khám

thuộc diện bảo hiểm y tế và cán bộ hưu trí(5) Sau

khi được GDSK, tỷ lệ NB có kiến thức đúng đã

có sự thay đổi đáng kể là 76,7% và sự thay đổi

này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Sự khác

biệt thể hiện rõ ở tất cả 8 nội dung tự chăm sóc

bàn chân bao gồm kiến thức chung, kiến thức về

rửa chân, kiểm tra bàn chân, chăm sóc vệ sinh

vết thương, thể dục bàn chân, bảo hộ chân, chăm sóc da và móng chân, gặp bác sĩ kiểm tra bàn chân với giá trị p < 0,001

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rõ hiệu quả của chương trình GDSK nâng cao kiến thức tự chăm sóc bàn chân của NB Kết quả này tương đồng kết quả nghiên cứu của Huỳnh Quốc Thắng thực hiện tại bệnh viện đa khoa Đồng Nai với tỷ lệ NB có kiến thức đúng trước can thiệp là 78,44% và sau can thiệp tăng lên 94,69%(6) Tương tự, nghiên cứu của Sharoni thực hiện tại Malaysia cho thấy tỷ lệ điểm kiến thức đúng trước can thiệp là 6,68 ± 2,9, sau can thiệp điểm

số tăng lên là 9,97 ± 1,35(14) Việc nâng cao kiến thức của NB về việc tự chăm sóc bàn chân góp phần giúp cho NB tự tin hơn trong quản lý tình hình sức khỏe cá nhân, nâng cao chất lượng cuộc sống, và điều này cũng thể hiện rõ tác động tích cực của chương trình GDSK được triển khai

Khác biệt điểm số hành vi trước và sau giáo dục sức khỏe

Tỷ lệ NB có hành vi chung về tự chăm sóc bàn chân sau can thiệp là 64,4% so với trước can thiệp chỉ có 12,3%, và sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Theo nghiên cứu của Tewahido D (2017), trong 5 vấn đề tự chăm sóc ở

NB ĐTĐ typ 2 bao gồm kiêng ăn, luyện tập thể lực, theo dõi đường huyết, uống thuốc theo toa,

tự chăm sóc bàn chân, thì điểm số hành vi tự chăm sóc chân là thấp nhất so với các vấn đề tự chăm sóc còn lại Hầu hết NB không hề nghe qua việc tự chăm sóc bàn chân là gì, mặc dù nhiều người trong số họ đang có vấn đề bàn chân cần phải nhập viện điều trị(15) Kết quả hành

vi tự chăm sóc bàn chân đúng trước can thiệp có

tỷ lệ rất thấp, tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Đào (2012), Lê Thị Tuyết Hoa (2008), Nongmaithem (2017), Bohorquez Robles

R (2017)(2,7,9,10) Sau khi được GDSK tỷ lệ hành vi đúng của NB tăng lên 64,4% Qua đó cho thấy được tác động tích cực của chương trình GDSK lên hành vi tự chăm sóc bàn chân của NB Tương

tự, nghiên cứu của Huỳnh Quốc Thắng (2012),

Trang 5

Sharoni (2017) cũng đưa ra những kết quả khẳng

định tác dụng tích cực của chương trình GDSK

trong việc thay đổi hành vi tự chăm sóc bàn chân

ở NB ĐTĐ typ 2(6,14)

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kiến thức

và hành vi đúng trước can thiệp về tự chăm sóc

bàn chân có tỷ lệ rất thấp Sau khi áp dụng

chương trình GDSK, tỷ lệ kiến thức và hành vi

đúng đã cải thiện đáng kể Qua kết quả nghiên

cứu cho thấy hiệu quả của chương trình giáo

dục sức khỏe tự chăm sóc bàn chân có tác động

tích cực thay đổi kiến thức và hành vi đúng cho

NB ĐTĐ typ 2 Nghiên cứu cho thấy cần triển

khai và tiếp tục áp dụng chương trình GDSK về

tự chăm sóc bàn chân cho NB ĐTĐ typ 2 Nhấn

mạnh tầm quan trọng của NB trong vấn đề tự

chăm sóc đôi bàn chân của mình để ngăn ngừa

biến chứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahmad Sharoni SK, Minhat HS, Mohd Zulkefli NA et al (2016),

"Health education programmes to improve foot self-care

practices and foot problems among older people with diabetes:

a systematic review", Int J Older People Nurs, 11 (3), pp 214-39

2 Bohorquez Robles R, Compean Ortiz LG, Gonzalez Quirarte

NH et al (2017), "Knowledge and Practices of Diabetes Foot

Care and Risk of Developing Foot Ulcers in Mexico May Have

Implications for Patients of Mexican Heritage Living in the

US", Diabetes Educ, 43 (3), pp 297-303

3 Borges WJ, Ostwald SK (2008), "Improving foot self-care

behaviors with Pies Sanos", West J Nurs Res, 30 (3), pp 325-41

4 Bộ Y tế (2017) Chăm sóc bàn chân đái tháo đường Available from:

http://moh.gov.vn/news/pages/tinkhac.aspx?ItemID=1147

5 Hồ Bích Thủy (2000), "Khảo sát sự hiểu biết của bệnh nhân về

bệnh đái tháo đường tại bệnh viện nhân dân Gia Định", Luận

văn thạc sỹ y học, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, trg

68-69

6 Huỳnh Quốc Thắng (2012), "Nghiên cứu thực trạng kiến thức

thái độ hành vi và hiệu quả một số biện pháp giáo dục về

phòng ngừa chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo đường

typ 2 tại bệnh viện đa khoa Đồng Nai", Tạp chí Y học Việt Nam,

pp 64-68

7 Lê Thị Tuyết Hoa (2008), "Nghiên cứu xác định yếu tố nguy cơ

loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường", Luận văn tiến sĩ y

học, Đại học Y dược TPHCM

8 Natalia De SP, Moura JR, Junior EB et al (2014), "Knowledge,

attitudes and practices for the prevention of diabetic foot", Rev

Gaucha Enferm, 35(3), pp 36-42

9 Nguyễn Thị Bích Đào, Vũ Thị Là (2012), "Kiến thức thái độ và hành vi tự chăm sóc chân của bệnh nhân đái tháo đường typ 2

khám và điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy", Tạp chí Y học TPHCM,

Tập 16 (Số 2), pp 56-60

10 Nongmaithem M, Bawa AP, Pithwa AK et al (2016), "A study

of risk factors and foot care behavior among diabetics", J Family

Med Prim Care, 5 (2), pp 399-403

11 Nguyễn Thị Gái (2017), "Hiệu quả chương trình quản lý các hoạt

động tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường typ 2 " Luận văn thạc sĩ điều dưỡng, Đại học Y dược TPHCM

12 Nguyễn Tiến Dũng, Phùng Văn Lợi (2012), "Các yếu tố liên quan đến hành vi chăm sóc bàn chân đái tháo đường typ 2 tại

Thái Nguyên", Tạp chí khoa học và công nghệ, pp 55-60

13 Sawangjai S (2006), "Foot care behaviors in type 2 diabetes

patient", Faculty of Graduate Studies, Mahidol University, pp

117-122

14 Sharoni SKA, Abdul Rahman H, Minhat HS et al (2017), "A self-efficacy education programme on foot self-care behaviour among older patients with diabetes in a public long-term care

institution, Malaysia: a Quasi-experimental Pilot Study", BMJ

Open, 7 (6), pp 395-401

15 Tewahido D, Berhane Y (2017), "Self-Care Practices among

Diabetes Patients in Addis Ababa: A Qualitative Study", PLoS

One, 12 (1), pp 297-302

16 Trần Chiêu Phong, Lê Hồng Ninh (2006), "Kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng chăm sóc bàn chân đái tháo đường tại

trung tâm y tế quận 1", Tạp chí y học TP HCM, Tập 10 (Số 1), pp

33-37

17 Trần Đăng Anh Khoa, Triệu Thị Thảo Anh (2013), " Tỷ lệ kiến thức tốt về chăm sóc bàn chân giữa các nhóm có/không béo phì, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và các mức HBA1C ở BN đái tháo đường typ 2 nhập viện khoa nội tiết bệnh viện đa

khoa Trung Ương Cần Thơ", Tạp chí Y học TPHCM, tập 17 (số

14), pp 177-181

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/08/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 00:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w