Xác định tỷ lệ và đặc điểm đau đầu do xuất huyết não, mối liên quan giữa đau đầu với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và CT scan não. Xác định giá trị tiên lượng tử vong của triệu chứng đau đầu do xuất huyết não.
Trang 1ĐAU ĐẦU DO XUẤT HUYẾT NÃO TRONG GIAI ĐOẠN CẤP
Lê Văn Tuấn*, Men Puthik**
TÓM TẮT
Mở đầu: Đau đầu là một triệu chứng thường gặp của xuất huyết não Tỷ lệ đau đầu thay đổi tùy theo nghiên cứu khác nhau có thể do tiêu chí chọn mẫu Mối liên quan giữa đau đầu và tiên lượng tử vong vẫn chưa khảo sát một cách đầy đủ và có nhiều kết quả khác nhau
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ và đặc điểm đau đầu do xuất huyết não, mối liên quan giữa đau đầu với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và CT scan não Xác định giá trị tiên lượng tử vong của triệu chứng đau đầu do xuất huyết não
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả tiền cứu, bệnh nhân xuất huyết não trong giai đoạn cấp và có thể cung cấp thông tin đáng tin cậy về đau đầu, đánh giá tử vong sau 30 ngày khởi phát xuất huyết não Các biến
số thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0
Kết quả: 105 bệnh nhân (52,5%) có triệu chứng đau đầu Đau đầu thường là mức độ nặng 51,9% Vị trí đau đầu thường gặp nhất là lan tỏa 47,6% Có 7 yếu tố tiên đoán đau đầu quan trọng: tiền căn tăng huyết áp, tiền căn đau đầu, buồn nôn hoặc nôn, GCS<15, xuất huyết não bên phải, xuất huyết dưới lều, và tràn máu não thất.Tỷ lệ tử vong được ghi nhận 2,5% Đau đầu là một yếu tố có giá trị tiên lượng tử vong sớm 30 ngày sau khởi phát xuất huyết não
Kết luận: Đau đầu là một triệu chứng thường gặp của xuất huyết não và là một yếu tố tiên lượng tử vong sớm 30 ngày
Từ khóa: Đau đầu; Xuất huyết não; tiên lượng tử vong
ABSTRACT
HEADACHE IN INTRACEREBRAL HEMORRHAGE
Le Van Tuan, Men Puthik * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 1 - 2016: 70 - 76
Background: Headache is a common symptom in intracerebral hemorrhage The headache frequency varies from study to study due to methodological differences The relationship between headache and mortality prognosis are not fully clarified and the result are controversial
Objective: The aim of the study is to clarify frequency and clinical features of headache in intracerebral hemorrhage The study was undertaken to analyze the headache-associated factors, the possible related clinical, investigation test, head CT and the headache potential predictors of early mortality in intracerebral hemorrhage Methods: We prospectively studied 200 patients with acute intracerebral admitted within 7 days of symptoms onset All patients able to provide reliable information on the presence or absence of onset headache To evaluate the association between headache and 30 days mortality We used SPSS ver 16.0 and significance was set at p<0.05
Results: One hundred and five (52.5%) patients experienced headache at stroke onset Headache was severe
in 51.9% Bilateral headache was more frequent and seen in 47.6% In a multivariate analysis, headache at stroke onset was positively associated with history of hypertension, previous history of headache, nausea or vomiting, GCS<15, right hemisphere hemorrhage, infratentorial hemorrhage, and intraveticular hemorrhage A total of 5
* Bộ môn Thần Kinh, ĐHYD TPHCM
Trang 2out of 200 (2.5%) ICH patients died within 30 days of the onset of the ICH It is noteworthy that headaches were associated with mortality within 30 days after the event
Conclusion: Headache is a common symptom in intracerebral hemorrhage patients and predicts early 30 days mortality
Key words: Headache; intracerebral hemorrhage; mortality prognosis
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuất huyết não là một trong những
nguyên nhân gây tử vong cao và để lại di
chứng nặng nề Tỷ lệ tử vong là 30 đến 40%
sau 1 tháng và khoảng 50% bệnh nhân xuất
huyết não chết sau 1 năm Đau đầu là một
triệu chứng thường gặp lúc khởi phát xuất
huyết não nhưng tỷ lệ chính xác của đau đầu
do xuất huyết não vẫn còn bàn cãi Đau đầu
được báo cáo trong 33 – 88% (Mohr 1978(11);
Carolei 1983(4)) trường hợp xuất huyết não Cơ
chế bệnh sinh của đau đầu liên quan với xuất
huyết não vẫn còn chưa rõ ràng Đau đầu
cũng có thể là một triệu chứng thường bị bỏ
qua và nhiều bác sỹ quan tâm các triệu chứng
và dấu thần kinh khác Mối liên quan giữa đau
đầu và tiên lượng tử vong vẫn chưa khảo sát
một cách đầy đủ và có nhiều kết quả khác
nhau Trong vài thập niên gần đây sự hiểu biết
về đột quị có tiến bộ nhiều nhưng hầu hết
nghiên cứu tập trung vào đột quị thiếu máu
não(7) Nghiên cứu về đau đầu do đột quị hoặc
chỉ riêng về đột quị thiếu máu não đã được
tiến hành nhiều so với nghiên cứu về đau đầu
ở nhóm bệnh nhân xuất huyết não
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hai trăm bệnh nhân xuất huyết não khởi
phát bệnh trong vòng 7 ngày đã được đưa vào
nghiên cứu trong thời gian từ tháng 12/2015 đến
tháng 03/2015 Các bệnh nhân được chẩn đoán
bằng lâm sàng và CT scan não Tất cả các bệnh
nhân đều có thể cung cấp thông tin đáng tin cậy
về đau đầu Các trường hợp tử vong 24 giờ đầu
sau nhập viện, bệnh nhân hôn mê, mất ngôn
xuất huyết, xuất huyết trong u não đều được loại trừ khỏi nghiên cứu Các dữ liệu được thu thập sau khi bệnh nhân nhập vào khoa bệnh lý mạch máu não, bệnh viện nhân dân 115 Các dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng cần thu thập bao gồm: tuổi, giới, tiền căn tăng huyết áp, tiền căn đái tháo đường, tiền căn uống rượu, tiền căn hút thuốc lá, tiền căn đau đầu, đau đầu trước ngày khởi phát đột quị, triệu chứng đau đầu, mức độ đau đầu, vị trí đau đầu, buồn nôn hoặc nôn, co giật, dấu hiệu sinh tồn, BMI, yếu liệt, phản xạ da lòng bàn chân, dấu màng não, rối loạn lipid máu, đường huyết, nguyên nhân xuất huyết não, tử vong sau 30 ngày, điểm ICH Các dữ liệu CT scan não cần được thu thập bào gồm: vị trí xuất huyết não, thể tích khối máu tụ, mức độ đẩy lệch đường giữa, tràn máu não thất, xuất huyết dưới nhện Triệu chứng đau đầu được khai thác trực tiếp từ bệnh nhân và một số đặc điểm đau đầu được ghi nhận Tử vong được xác định sau 30 ngày khởi phát xuất huyết não
Các số liệu được thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 Với các biến định tính, phép kiểm chi bình phương được dùng để phân tích trong các bảng chéo Với các biến định
lượng, phép kiểm được sử dụng là t – student
Các biến có ý nghĩa trong phân tích đơn biến sẽ được đưa vào phân tích hồi qui đa biến logistic binary nhằm tìm ra những biến thật sự có ý nghĩa độc lập trong tiên đoán đau đầu do xuất
huyết não Giá tri p<0,05 được coi như có ý nghĩa
thống kê
KẾT QUẢ
Tỷ lệ và đặc điểm đau đầu
Tất cả 200 bệnh nhân (130 nam và 70 nữ; tuổi
Trang 3Tỷ lệ đau đầu thay đổi tùy theo vị trí xuất huyết
Tỷ lệ đau đầu cao hơn ở nhóm bệnh nhân xuất
huyết tiểu não và thùy não so với não sâu Tỷ lệ
đau đầu ở nhóm bệnh nhân xuất huyết thùy não
là 13/21 bệnh nhân (61,9%) Mức độ đau đầu
được ghi nhận như sau: nặng 54 bệnh nhân
(51,9%), trung bình 19 bệnh nhân (18,3%), và nhẹ
31 bệnh nhân (29,8%) Vị trí đau đầu được ghi
nhận như sau: lan tỏa 47,5%; bên phải 27,6%; bên
trái 9,5%; và vùng chẩm 15,2% Trên những bệnh
nhân xuất huyết dưới lều thì vị trí đau đầu
thường gặp nhất là vùng chẩm chiếm 47,1%
Buồn nôn hoặc nôn là triệu chứng kèm theo đau
đầu trong 51,4% Có 12 bệnh nhân có đau đầu
trước ngày khởi phát đột quị và phần lớn có
triệu chứng đau đầu lúc khởi phát xuất huyết
não (n=10)
Mối liên quan giữa đau đầu với các đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng, và CT scan não
Bệnh nhân có triệu chứng đau đầu trẻ hơn
nhóm bệnh nhân không đau đầu 2,2 tuổi và gặp
nhiều hơn ở nữ giới nhưng qua phân tích kiểm
chi bình phương thì đều không có ý nghĩa thống
kê Mức độ đau đầu cũng không liên quan với
giới tính nữ với p=0,228 Những bệnh nhân đau
đầu trẻ hơn 70 tuổi có mức độ đau nặng hơn những bệnh nhân ≥70 tuổi Tiền căn tăng huyết
áp và tiền căn đau đầu có liên quan đến triệu chứng đau đầu với p<0,05 Những tiền căn khác như tiền căn đái tháo đường, uống rượu, hút thuốc lá, và đau đầu migraine không liên quan đến triệu chứng đau đầu
Các biến được ghi nhận là có ý nghĩa thống
kê trong mối liên quan với đau đầu được ghi nhận trong bảng 1 và bảng 2 Những yếu tố đó bao gồm: buồn nôn hoặc nôn, GCS<15 điểm, dấu màng não
Bảng 1: Mối liên quan giữa các dấu hiệu cận lâm sàng với đau đầu
Các biến Tổng số
n=200
Đau đầu n=105
Không đau đầu n=95
Giá trị
p
Tăng lipid máu (n, %)
111 (55,5%)
60 (57,1%)
51 (53,7%)
0,623 Đường huyết
(TB±ĐLĐ)
126,45
± 51,44
133,25
± 59,70
118,93
± 39,37
0,086 Đường huyết
≥ 200 (mg/dL)
15 (7,5%) 10 (9,5%) 5 (5,3%) 0,253
Một số đặc điểm của CT scan não đã được so sánh giữa nhóm đau đầu và không đau đầu để tìm ra yếu tố tiên đoán đau đầu (xem bảng 3)
Bảng 2: Mối liên quan giữa dấu hiệu lâm sàng với đau đầu
Các biến Tổng số n=200 Đau đầu n=105 Không đau đầu n=95 Giá trị p
Buồn nôn hoặc nôn (n, %) 70 (35%) 54 (51,4%) 16 (16,8%) <0,001
Co giật (n, %) 6 (3%) 5 (4,8%) 1 (1,1%) 0,125 GCS=15 (n, %) 186 (93%) 93 (88,57%) 93 (97,89%)
0,01 GCS <15 (n, %) 14 (7%) 12 (11,43%) 2 (2,11%)
Mạch (lần/phút) 84,87± 13,17 86,12 ± 13,47 83,49± 12,76 0,412 HATT lúc nhập viện 160,90 ± 28,64 160,00 ± 28,75 161,89 ± 28,63 0,775 HATTr lúc nhập viện 91,55 ± 15,04 91,04 ± 14,99 92,10 ± 15,15 0,978 HATT >200 (mmHg) 12 (6%) 6 (5,7%) 6 (6,3%) 0,858 HATT >160 (mmHg) 79 (39,5%) 44 (41,9%) 35 (36,8%) 0,465 HATTr >120 (mmHg) 5 (2,5%) 3 (2,9%) 2 (2,1%) 0,734 BMI 21,92 ± 3,70 22,37 ± 3,53 21,42 ± 3,84 0,235 BMI≥25 (n, %) 47 (23,5%) 26 (24,8%) 21 (22,1%) 0,658 Yếu liệt chi (n, %) 173 (86,5%) 88 (83,8%) 85 (89,5%) 0,242 Dấu Babinski (n, %) 91 (45,5%) 46 (43,8%) 45 (47,4%) 0,614 Dấu màng não (n, %) 16 (8%) 13 (12,4%) 3 (3,2%) 0,016
Trang 4Bảng 3: Mối liên quan giữa các đặc điểm CT scan não và đau đầu
Các biến Tổng số n=200 Đau đầu n=105 Không đau đầu n=95 Giá trị P
Xuất huyết dưới lều (n, %) 20 (10,3%) 17 (16,8%) 3 (3,2%) 0,002 Xuất huyết thùy não (n, %) 21 (10,5%) 13 (12,4%) 8 (8,4%) 0,362 Xuất huyết tiểu não (n, %) 6 (3%) 6 (5,7%) 0 (0%) 0,018 Xuất huyết não sâu (n, %) 147 (73,5%) 68 (64,8%) 79 (83,2%) 0,003 XHN bên phải (n, %) 136 (69%) 78 (75,7%) 58 (61,7%) 0,033 Thể tích khối máu tụ (mL) (TB±ĐLC) 11,86±11,70 13,73±12,65 9,80±10,23 0,006 Thể tích khối máu tụ >40 mL (n, %) 8 (4%) 6 (5,7%) 2 (2,1%) 0,193 Thể tích khối máu tụ <30 mL (n, %) 180 (90%) 90 (85,7%) 90 (94,7%)
0,034 Thể tích khối máu tụ ≥30 mL (n,%) 20 (10%) 15 (14,3%) 5 (5,3%)
Thể tích khối máu tụ >10 mL (n, %) 81 (41,1%) 50 (48,5%) 31 (33%) 0,027
Di lệch đường giữa (mm) (TB±ĐLC) 2,06±3,23 2,67±3,63 1,38±2,57 <0,001
Di lệch đường giữa >10 mm (n, %) 5 (2,5%) 5 (4,8%) 0 (0%) 0,031 Tràn máu não thất (n, %) 39 (19,5%) 26 (24,8%) 13 (13,7%) 0,048 Xuất huyết dưới nhện (n, %) 3 (1,5%) 3 (2,9%) 0 (0%) 0,097 Xuất huyết dưới lều, xuất huyết tiểu não,
xuất huyết não bên phải, thể tích khối máu tụ,
di lệch đường giữa, và tràn máu não thất là
những yếu tố được xác định là có liên quan với
đau đầu với p<0,05 Chúng tôi cũng phân tích
xem thể tích khối máu tụ và tình trạng tràn máu
não thất kèm theo có phải là yếu tố làm cho mức
độ đau đầu nặng hơn nhưng kết quả cho thấy
không mối liên quan nào có ý nghĩa thống kê Vị
trí đau đầu thường ở cùng bên với vị trí khối
máu tụ Nguyên nhân xuất huyết não không
phải là yếu tố tiên đoán đau đầu Những biến có
ý nghĩa thống kê trong phân tích đơn biến được
đưa vào phân tích đa biến và chia thành 2 nhóm
phân tích đa biến là nhóm lâm sàng, cận lâm
sàng và nhóm đặc điểm CT scan não Chúng tôi
ghi nhận những biến độc lập có ý nghĩa thống kê
cả trong phân tích đơn biến và đa biến là: tiền
căn tăng huyết áp, tiền căn đau đầu, buồn nôn
hoặc nôn, xuất huyết não bên phải, xuất huyết
dưới lều, và tràn máu não thất
Mối liên quan giữa đau đầu và tiên lượng
tử vong
Trong toàn thời gian nghiên cứu, tỷ lệ tử
vong 30 ngày sau khởi phát xuất huyết não là
2,5% (5/200 bệnh nhân) Điểm ICH cũng được
tử vong được tìm thấy trong nghiên cứu bao gồm: đau đầu, điểm GCS=13 hoặc 14, và thể tích khối máu tụ (≥30 mL)
Bảng 4: Mối liên quan giữa một số biến và tử vong sớm 30 ngày
Tổng số n=200
Tử vong n=5
Sống N=195
Giá trị
p Đau đầu 105(52,5%) 5 (100%) 100 (51,3%) 0,031 Không đau đầu 95 (47,5%) 0 (0%) 95 (48,7%0 ICH=0 115(57,5%) 1 (20%) 114 (58,5%) 0,086 ICH= 1; 2
hoặc 3
85 (42,5%)
4 (80%)
81 (41,5%) Tuổi ≥80 14 (7%) 0 (0%) 14 (7,2%) 0,534 GCS=13
hoặc 14 điểm
14 (7%) 2 (40%) 14 (6,2%) 0,003 Thể tích khối
máu tụ (mL)
11,86
± 11,70
24,30
± 18,62
11,53
± 11,36
0,049 Thể tích khối
máu tụ ≥30 mL
20 (10%) 2 (40%) 18 (9,2%) 0,024 Tràn máu
não thất
39 (19,5%) 2 (40%) 37 (19%) 0,241 Xuất huyết dưới
lều
20 (10%) 0 (0%) 20(10,25%) 0,444 BÀN LUẬN
Đau đầu lúc khởi phát xuất huyết não xảy
ra trong 52,5% trường hợp Những bệnh nhân xuất huyết não thùy và tiểu não có tỷ lệ đau đầu cao hơn bệnh nhân xuất huyết não sâu Tỷ
lệ đau đầu được báo cáo trong các nghiên cứu khác nhau 23% đến 78,4%(6,19) Tỷ lệ đau đầu
Trang 5đau đầu do xuất huyết não khác nhau tùy theo
nghiên cứu bởi vì cách chọn mẫu, nguyên
nhân, vị trí xuất huyết não.Trong nhiều
nghiên cứu, tỷ lệ đau đầu có thể cao hơn con
số được báo cáo vì lý do một số bệnh nhân có
rối loạn tri giác hoặc mất ngôn ngữ không thể
khai thác được triệu chứng đau đầu Mặc dù
bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi chủ
yếu là bệnh nhân có GCS=15 điểm và thể tích
khối máu tụ <10 mL nhưng chúng tôi vẫn ghi
nhận mức độ đau đầu nặng chiếm 51,9%
không khác so với một số nghiên cứu(2,3,21)
Điều này cho thấy khối máu tụ nhỏ gây ra đau
đầu không phải gây ra bởi tăng áp lực nội sọ
và là bằng chứng ủng hộ đau đầu liên quan
đến sự hoạt động của phân bố cấu trúc nhạy
cảm đau tùy thuộc vị trí giải phẫu Đau đầu
lan tỏa là vị trí thường gặp nhất và không có
khác nhau với nghiên cứu trước đây(9,20) Cơ
chế gây đau đầu lan tỏa có thể giải thích bởi cơ
chế cơ học gây ra bởi máu chảy lan tỏa ở đáy
sọ và kích thích thụ thể đau
Đau đầu thường gặp hơn ở người trẻ và
phụ nữ trong dân số chung(14) Nhiều nghiên
cứu cho thấy đau đầu do xuất huyết não
thường gặp ở người trẻ hơn so với nhóm
không đau đầu(116,) Kết quả cho thấy bệnh
nhân đau đầu do xuấy huyết não trẻ hơn
nhóm không đau đầu 2,2 tuổi nhưng sự khác
biệt không có ý nghĩa thống kê Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận nữ
giới không phải yếu tố liên quan đến đau đầu
tượng tự nghiên cứu của Vestergaard(21)
Trong nghiên cứu của Melo(10), bệnh nhân nữ
có triệu chứng đau đầu thường gặp hơn so với
bệnh nhân nam và giá trị p=0,002 Tiền căn
tăng huyết áp liên quan đến đau đầu (p=0,014)
tương tự nghiên cứu của Abadie(1) (tiền căn
tăng huyết áp và tiền căn uống rượu) Các
nghiên cứu trước đó cho ra kết quả khác nhau:
Melo(10) không tìm thấy tiền căn nào có ý nghĩa
thống kê; Shigematsu(16) ghi nhận tiền căn hút
thuốc lá và uống rượu Trong nghiên cứu của
Abadie, khi phân tích đa biến chỉ ghi nhận
tiền căn uống rượu có liên quan đến đau đầu
do xuất huyết não Trong khi nghiên cứu của chúng tôi vẫn ghi nhận tiền căn tăng huyết áp
là yếu tố tiên đoán đau đầu cả trong phân tích đơn biến và đa biến Tiền căn đau đầu và đau đầu trước ngày khởi phát đột quị được ghi nhận là yếu tố liên quan đến đau đầu do xuất huyết não Tiền căn đau đầu Migraine không liên quan đến đau đầu do xuất huyết não trong nghiên cứu của chúng tôi và nghiên cứu của Melo(10) nhưng nó là một yếu tố tiên đoán đau đầu do nhồi máu não trong nghiên cứu của Tentschert(18) và nghiên cứu của Kumral(9) Buồn nôn hoặc nôn trong nghiên cứu của chúng tôi và nghiên cứu của Melo đều có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,001 trong phân tích đơn biến và khi điều chỉnh với các yếu tố khác trong tương quan đa biến, mức ý nghĩa này vẫn không đổi với tỉ suất chênh OR=5,551 Buồn nôn hoặc nôn có thể liên quan đến tăng áp lực nội sọ hoặc tăng huyết áp(13) nhưng nhiều bệnh nhân không có tăng áp lực nội sọ hoặc tăng huyết áp cũng ghi nhận có buồn nôn hoặc nôn Sự liên kết giữa dây thần kinh số V và bó đơn độc (tractus solitarius) có thể giải thích được mối liên quan giữa đau đầu và buồn nôn hoặc nôn(10) Tiêu chí chọn mẫu làm cho điểm GCS trong nghiên cứu của chúng tôi >12 điểm; GCS là một yếu tố tiên đoán đau đầu và cũng được ghi nhận tương tự trong nghiên cứu của Abadie(1) và nghiên cứu của Melo(10) Dấu màng não là một yếu tố tiên đoán đau đầu quan trọng nhất trong phân tích đơn biến và phân tích đa biến trong nghiên cứu của Melo Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận dấu màng não là một yếu tố tiên đoán đau đầu trong phân tích đơn biến nhưng
nó không phải là yếu tố tiên đoán độc lập trong phân tích đa biến khi điều chỉnh với các yếu tố khác
Chúng tôi ghi nhận một số đặc điểm CT scan não có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm bệnh nhân đau đầu và nhóm bệnh nhân không đau đầu Các yếu tố đó bao gồm: xuất huyết não dưới lều,
Trang 6xuất huyết tiểu não, xuất huyết não bên phải, thể
tích khối máu tụ, di lệch đường giữa, và tràn
máu não thất
Xuất huyết dưới lều là một yếu tố tiên
đoán đau đầu với giá trị p=0,002 trong phân
tích đơn biến và p= 0,001 trong phân tích đa
biến sau khi điều chỉnh với các yếu tố khác
Nghiên cứu của Abadie(1) ghi nhận đau đầu
thường gặp ở bệnh nhân xuất huyết dưới lều
(68,2%) và xuất huyết thùy não (51,2%) hơn
xuất huyết não sâu (34,7%) Điều này phù hợp
với sự phân bố thần kinh nhạy cảm đau phong
phú ở vùng dưới lều Nghiên cứu của
Tentschert kết luận rằng bệnh nhân nhồi máu
não bên bán cầu phải có tỷ lệ đau đầu cao hơn
tổn thương bán cầu trái (p=0,043) và không
biết lý do tại sao như vậy Bên phải là vị trí
xuất huyết não thường gây đau đầu trong
nghiên cứu của chúng tôi (p=0,033) và vị trí
đau đầu thường gặp cùng bên với vị trí khối
máu tụ hơn là đối bên (nghiên cứu của Melo
p=0,001; nghiên cứu của chúng tôi p=0,002)
Thể tích khối máu tụ >10 mL là một yếu tố tiên
đoán đau đầu với p=0,027 Khối máu tụ có thể
gây ra hiệu ứng choán chỗ và được cho là liên
quan đến đau đầu do xuất huyết não Như vậy
thể tích khối máu tụ là một yếu tố tiên đoán
đau đầu và không cần phải rất lớn thì cũng đã
có thể làm cho bệnh nhân đau đầu Mức độ
đau đầu không liên quan đến thể tích khối
máu tụ vì mức độ đau đầu là một yếu tố chủ
quan và mức độ đau nhạy cảm tùy từng
người, giới tính và tuổi Mức độ di lệch đường
giữa là một biến số phản ánh độ lớn của sang
thương và phản ứng phù não do sang thương
gây ra Di lệch đường giữa >10 mm là một yếu
tố tiên đoán đau đầu trong phân tích đơn biến
nhưng nó không phải là yếu tố tiên đoán độc
lập khi điều chỉnh với các yếu tố khác trong
phân tích đa biến Tràn máu não thất là một
yếu tố tiên đoán đau đầu Không có nguyên
ghi nhận túi phình động mạch/AVM (p=0,004)
và tăng huyết áp (p=0,004) là yếu tố tiên đoán đau đầu Tỷ lệ tử vong sớm 30 ngày sau khởi phát xuất huyết não trong nghiên cứu của chúng tôi là 2,5% thấp hơn so với các nghiên cứu khác(5,12 16,17,); có liên quan đến cách chọn mẫu trong đó nhiều bệnh nhân nặng phải loại khỏi nghiên cứu của chúng tôi Trong bảng 4 cho thấy đau đầu liên quan đến tử vong và nó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như điểm GCS, thể tích khối máu tụ ≥30 mL
KẾT LUẬN
Đau đầu là một triệu chứng thường gặp trong xuất huyết não và có giá trị tiên lượng tử vong sớm 30 ngày sau khởi phát xuất huyết não
TÀI LIỆU THAM KHẢO
and prognostic value of headache on early mortality in
acute stroke: The Dijon Stroke Registry", Cephalalgia 34
(11), pp 887 – 894
"Hemorrhagic lacunar stroke", Cerebrovascular diseases 10
(3), pp 229-234
in acute cerebrovascular disease: a prospective clinical
study in 240 patients", Cephalalgia 14 (1), pp 37-40
stroke, TIA, intracerebral haemorrhage, or vascular
malformation", Handbook of clinical neurology 97, pp
517-528.
hospital expenditure, and, 30 day and 1 year mortality rates of spontaneous intracerebral hemorrhage in
Taiwan", J Clin Neurosci 21 (1), pp 91-94
disease", Handbook of clinical neurology, pp 124-156
"International epidemiology of intracerebral hemorrhage", Current atherosclerosis reports 14 (4), pp 300-306
intracerebral hematomas Clinical and CT analysis of 22
cases", Neurology 32 (10), pp 1146-1146
"Headache at stroke onset: the Lausanne Stroke Registry", Journal of Neurology, Neurosurgery & Psychiatry 58 (4), pp
490-492
intracerebral hematomas", Neurology 47 (2), pp 494-500
Trang 7hemorrhage: a prospective study of a defined
population", J Neurosurg 97 (3), pp 531-536
criteria for headache disorders, cranial neuralgias and
facial pain", Cephalalgia 8, pp 46-50
"Epidemiology of headache in a general population—a
prevalence study", Journal of clinical epidemiology 44 (11),
hemorrhages: acute clinical syndromes in 26 cases",
Annals of neurology 8 (2), pp 141-147
"Headache at the onset of stroke: Frequencies, background
characteristics and correlation with mortality", Health 5,
pp 89-95
intracerebral hemorrhages in the Besancon stroke
registry", European neurology 43 (4), pp 209-214
"Headache at stroke onset in 2196 patients with ischemic
stroke or transient ischemic attack", Stroke 36 (2), pp
e1-e3
Hùng (2004), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh
chụp cắt lớp vi tính ở bệnh nhân chảy máu não", Y học Việt Nam, Tổng hội Y Dược học Việt nam Tập 301 (8), tr 148
- 152
acute stroke A prospective study in the first 8 days", Cephalalgia 28 (4), pp 346-354
"Headache in stroke", Stroke 24 (11), pp 1621-1624