1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của ứng dụng đoạn phim ngắn trong phương pháp giảng dạy kỹ năng điều dưỡng

11 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 438,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiệu quả của ứng dụng đoạn phim ngắn trong giảng dạy kỹ năng điều dưỡng lên kết quả thi thực hành của sinh viên; tìm hiểu quan điểm của sinh viên về tính khả thi và khả năng chấp nhận của phương pháp giảng dạy được ứng dụng.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA ỨNG DỤNG ĐOẠN PHIM NGẮN TRONG PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY KỸ NĂNG ĐIỀU DƯỠNG

Đoàn Thị Anh Lê*, Phạm Thị Ánh Hương*, Trần Thị Hồng Thắm*, Trần Mỹ Bình*,

Đặng Thị Minh Phượng*, Nguyễn Thị Kim Oanh*, Trần Thị Thùy Dung*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của ứng dụng đoạn phim ngắn trong giảng dạy kỹ năng điều dưỡng lên kết

quả thi thực hành của sinh viên; tìm hiểu quan điểm của sinh viên về tính khả thi và khả năng chấp nhận của phương pháp giảng dạy được ứng dụng

Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu bán can thiệp có nhóm chứng và định tính: 102 sinh viên cử nhân

hộ sinh khóa 2014 – 2018 (nhóm chứng) và 80 sinh viên cử nhân hộ sinh khóa 2015 – 2019 (nhóm can thiệp) Kết quả thi thực hành của hai nhóm được so sánh để đánh giá hiệu quả của can thiệp Phỏng vấn bán cấu trúc để tìm hiểu quan điểm của đối tượng nghiên cứu trong nhóm can thiệp về phương pháp giảng dạy mới được áp dụng

Kết quả: Ứng dụng đoạn phim ngắn đã có tác động tích cực lên kết quả học thực hành môn của sinh viên (p

= 0,001) Nhận thức của sinh viên về phương pháp này nhìn chung mang tính tích cực, có tính khả thi và có khả năng chấp nhận được Nghiên cứu này đã cho ta thấy các ưu điểm cũng như một số hạn chế của phương pháp giảng dạy được can thiệp

Kết luận: Ứng dụng đoạn phim ngắn trong giảng dạy các kỹ năng điều dưỡng cơ sở có hiệu quả đáng kể lên

kết quả học thực hành của sinh viên Các nội dung bàn luận đưa ra liên quan đến việc tăng tính khả thi và tính ứng dụng của phương pháp giảng dạy được áp dụng

Từ khóa: Kỹ năng điều dưỡng, phim, tính khả thi, tính chấp nhận

ABSTRACT

EFFECTS OF APPLYING SHORT VIDEOS ON TEACHING FUNDAMENTAL OF NURSING SKILLS

Doan Thi Anh Le, Pham Thi Anh Huong, Tran Thi Hong Tham, Tran My Binh, Dang Thi Minh

Phuong, Nguyen Thi Kim Oanh, Tran Thi Thuy Dung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 5- 2018: 265 – 275

Objectives: Evaluate the effects of applying short videos in teaching nursing skills on students’ results of

practice exam; and explore students’ views about the feasibility and acceptability of the teaching method applied

Participants – Methods: Quasi experiment and qualitative design: 102 midwifery students course 2014 –

2018 (control group) and 80 midwifery students course 2015 – 2019 (experimental group: short videos application in teaching skills) The results of the practice exam were compared to assess the effects of the intervention Semi structured interviews were conducted to investigate the views of participants in the

experimental group on the new teaching method

Results: Results indicate that the application of short videos has a positive impact on students’ results of

practice exam (p = 0.001) Students’ perceptions of this approach are generally positive, feasible, and acceptable This study shows the advantages as well as the limitations of the teaching methods are used

Conclusions: Applying short videos in teaching fundamental of nursing skills has a significant effect on

student learning outcomes The issues are discussed related to increasing the feasibility and acceptability of

**Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Đoàn Thị Anh Lê, ĐT: 098.903.5428, Email: doanthianhle@ump.edu.vn

Trang 2

teaching method applied

Keywords: Nursing skills, videos, feasibility, acceptability

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong giảng dạy điều dưỡng, giảng dạy kỹ

năng tại phòng thực hành đóng vai trò rất quan

trọng: giúp sinh viên ứng dụng kiến thức đã học,

làm tăng sự tự tin, tăng động lực học tập, đem

lại sự an toàn cho sinh viên và cả người bệnh tại

lâm sàng(5); mang lại một môi trường học tập

được bảo vệ cho phép xảy ra những sai phạm(9)

Trước đây, tại khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật

Y học, Đại học Y dược Tp.Hồ Chí Minh, để

chuẩn bị cho mỗi buổi học kỹ năng môn Điều

dưỡng cơ bản trên lớp, sinh viên được yêu cầu

đọc bảng kiểm về kỹ năng sẽ học trước khi đến

lớp Phương pháp giảng dạy đã được xây

dựng dựa trên phương pháp giảng dạy 4 bước

của Peyton(2) Theo cách dạy trên, sinh viên có

cơ hội đọc hướng dẫn thực hiện kỹ năng dựa

vào bảng kiểm và việc thể hiện kỹ năng đó

như thế nào thì sinh viên chỉ có một cơ hội duy

nhất khi đến lớp và được quan sát giáo viên

trình diễn kỹ năng Qua quan sát và kinh

nghiệm giảng dạy cho thấy một số sinh viên

đã không tích cực trong việc chuẩn bị bài trước

khi đến lớp Điều này đã hạn chế tính chủ

động của sinh viên khi học thực hành

Các nghiên cứu trước đây đã khẳng định

ảnh hưởng tích cực của việc xem phim lên việc

học của sinh viên: xem phim khi học thực hành

là phương pháp hiệu quả để nâng cao kỹ năng

ngoại khoa của sinh viên y khoa(8) Khi dạy các

kỹ năng thực hành lâm sàng, giảng dạy trực

tuyến dựa trên phim hiệu quả hơn dựa trên

giảng dạy bằng ngôn ngữ(1); sử dụng đoạn phim

ngắn trong giảng dạy các kỹ năng lâm sàng có

hiệu quả hơn so với phương pháp giảng dạy

truyền thống mặt đối mặt(3) Sử dụng phim ảnh

trong giảng dạy kỹ năng giúp cải thiện điểm số

của sinh viên về kỹ năng đó(4) Phương pháp sử

dụng các đoạn phim hướng dẫn kỹ năng được

đưa lên trang web trong giảng dạy môn thăm

khám thể chất bằng đã cải thiện kỹ năng thăm khám của sinh viên y khoa năm nhất(5)

Để nâng cao hiệu quả cho việc học kỹ năng của sinh viên điều dưỡng trong phòng thực hành, nhiều chiến lược đã được chúng tôi ứng dụng như cải tiến phương pháp giảng dạy, đầu

tư trang thiết bị, mô hình hiện đại tại phòng thực hành và cải tiến phương pháp lượng giá Và một trong những cải tiến phương pháp giảng dạy là ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Đây được cho là một phương pháp học tích cực với môi trường học

mở, tiếp cận công nghệ thông tin mang đến cho người học nhiều cơ hội học tập để mang lại sự thành công Việc học trực tuyến như xem phim ảnh giúp người học chủ động hơn, rèn luyện khả năng tự học và giúp chuyển tải được một lượng thông tin lớn hơn Do vậy, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin đã hỗ trợ cho chúng tôi tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp giảng dạy các kỹ năng của điều dưỡng bằng cách sử dụng các đoạn phim huấn luyện kỹ năng từ các trang uy tín trên Internet

Để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của việc ứng dụng công nghệ này trong giảng dạy kỹ năng trong môn Điều dưỡng cơ sở 1 (ĐDCS 1) lên kết quả thi cuối môn của sinh viên, đồng thời tìm hiểu nhận thức của sinh viên về tính khả thi và khả năng chấp nhận của việc áp dụng phương pháp giảng dạy này, nhóm nghiên cứu tìm trên các trang mạng internet có uy tín

để chọn lọc các đoạn phim mô tả các kỹ năng thực hành điều dưỡng một cách chính xác an toàn và đúng nguyên tắc liên quan đến các kỹ năng thuộc môn ĐDCS 1 giảng dạy để sử dụng trong việc cung cấp tài liệu học tập cho sinh viên trước khi đến lớp

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả của ứng dụng đoạn phim ngắn trong giảng dạy kỹ năng điều dưỡng lên kết quả thi phần thực hành môn

Trang 3

ĐDCS 1 của sinh viên

Tìm hiểu quan điểm của sinh viên về tính

khả thi và khả năng chấp nhận của việc ứng

dụng đoạn phim ngắn về kỹ thuật điều dưỡng

trong giảng dạy thực hành môn ĐDCS 1

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu bán can thiệp có nhóm chứng và

nghiên cứu định tính

Đối tượng nghiên cứu

102 sinh viên cử nhân chính quy (CNCQ) hộ

sinh khóa 2014 – 2018 (nhóm chứng); 80 sinh

viên CNCQ hộ sinh khóa 2015 – 2019 (nhóm can

thiệp): ứng dụng đoạn phim ngắn trong giảng

dạy phần thực hành môn ĐDCS1 với quy trình

giảng dạy được thay đổi như sau:

Chuẩn bị

Sinh viên được yêu cầu đọc bảng kiểm và

xem phim về kỹ năng trước khi đến lớp; ghi chú

lại sự khác biệt giữa kỹ thuật trên phim và theo

bảng kiểm

Bước 1: Sinh viên xem đoạn phim về kỹ năng

tại lớp và ghi chú lại sự khác biệt giữa kỹ thuật

trên phim và kỹ thuật theo bảng kiểm;

Bước 2: Giáo viên trình diễn kỹ thuật dựa

trên quy trình chuẩn với sự giải thích cụ thể

từng bước;

Bước 3: Giáo viên giải đáp các thắc mắc của

sinh viên về quy trình kỹ thuật đã quan sát cũng

như những thắc mắc về sự khác biệt giữa quy

trình kỹ thuật trên phim và quy trình kỹ thuật

giáo viên đã trình diễn;

Bước 4: Sinh viên thực hành kỹ thuật dưới sự

giám sát của giáo viên và các sinh viên khác;

Bước 5: Giáo viên giải đáp thắc mắc và lượng

giá một vài sinh viên, cho phản hồi, hướng dẫn

cách xử lý một vài tình huống có thể xảy ra khi

thực hiện kỹ năng

Tiêu chí chọn đoạn phim kỹ năng

Các nguồn có độ tin cậy cao trên Internet

như: Medical videos; khác biệt với quy trình

chuẩn đang giảng dạy về trang thiết bị dụng cụ

và cách thức thực hiện với độ khác biệt không quá 20%; đảm bảo nguyên tắc cơ bản: vô khuẩn, nguyên tắc chung khi thực hiện kỹ năng

Kỹ thuật chọn mẫu

Lấy mẫu thuận tiện (tất cả sinh viên lớp CNCQ hộ sinh 2014 và 2015)

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Sinh viên CNCQ hộ sinh năm 2, chưa học môn ĐDCS 1 trước đây; tham gia lớp học đầy đủ; đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Không đủ điều kiện dự thi thực hành ĐDCS1; vắng thi thực hành ĐDCS1

Kiểm soát sai lệch chọn lựa

Áp dụng đúng những tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại trừ Ngoài ra, đặc tính dân số và xã hội học của sinh viên ở cả hai nhóm đều được đánh giá để đảm bảo không có sự khác biệt đáng

kể giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp

Giảng dạy: giảng viên tham gia giảng dạy

cho cả hai nhóm đều là những giảng viên trong Đơn vị Huấn luyện kỹ năng (ĐV HLKN) để đảm bảo nội dung giảng dạy tương tự nhau, chỉ thay đổi về quy trình giảng dạy như mô tả ở trên cho nhóm can thiệp

Đánh giá: hình thức thi, cách tổ chức thi và

nội dung đề thi cũng thống nhất cho cả hai nhóm, bao gồm 3 phần thi: kỹ năng thăm khám thể chất, kỹ năng điều dưỡng cơ bản khác trong môn ĐDCS1, và xử lý một tình huống; cả hai nhóm đều được đánh giá bởi cùng một nhóm giảng viên của ĐV HLKN đều được huấn luyện

và thống nhất cách chấm trước khi chấm điểm

để đảm bảo không có sự khác biệt về cách chấm thi; chấm theo thang điểm 10 và dựa trên cùng các bảng kiểm chấm thi kỹ năng được sử dụng tại Đơn vị

Phương pháp thực hiện và công cụ

Giai đoạn 1

Sinh viên trong nhóm chứng được học môn ĐDCS 1 vào năm học 2015 - 2016 theo phương pháp cũ và trong nhóm can thiệp được học vào

Trang 4

năm học 2016 - 2017 theo phương pháp mới

(ứng dụng đoạn phim ngắn) được đánh giá kết

quả thi thực hành khi kết thúc môn học Trước

khi đánh giá, giảng viên chấm thi được huấn

luyện và thống nhất cách chấm thi

Giai đoạn 2

Sau khi thi kết thúc môn hai tuần (sau khi

điểm thi đã được công bố), 77 sinh viên trong

nhóm can thiệp được chia làm 4 nhóm (tương

đương với bốn nhóm nhỏ khi học thực hành)

tham gia phỏng vấn nhóm tập trung với một

thành viên trong nhóm làm nghiên cứu Hình

thức phỏng vấn được áp dụng là phỏng vấn bán

cấu trúc được thực hiện bởi một tác giả trong

nhóm nghiên cứu, người không trực tiếp giảng

dạy kỹ năng cho hai nhóm đối tượng Nội dung

các chủ đề phỏng vấn xoay quanh các câu hỏi

mở như: ưu điểm; hạn chế; tính khả thi và khả

năng chấp nhận của phương pháp giảng dạy

được áp dụng Cuộc phỏng vấn được diễn ra

trong một phòng học của ĐV HLKN trong thời

gian khoảng 30 phút cho mỗi nhóm

Thu thập và xử lý số liệu

Phần mềm SPSS 20.0 được sử dụng để nhập

và phân tích số liệu Đặc điểm dân số của mẫu

nghiên cứu được mô tả bằng trung bình (độ lệch

chuẩn) đối với biến định lượng hoặc n (%) đối

với các biến danh định Sự khác biệt về đặc điểm

dân số học của hai nhóm lần lượt được đánh giá

bằng phép kiểm chi bình phương hoặc Fisher’s

Exact test (đối với biến danh định) và T-test đối

với biến giá trị định lượng Sự khác biệt trong

kết quả thu được về biến kết cuộc giữa nhóm đối

chứng và nhóm thực nghiệm được đánh giá

bằng phép kiểm định t-test nhằm kiểm định giả

thuyết khoa học của nghiên cứu

Nội dung phỏng vấn đã được thu âm và gỡ băng chi tiết bằng cách đánh máy để chuyển đổi

dữ liệu thành văn bản viết theo đúng trình tự phỏng vấn đã diễn ra bởi thành viên của nhóm nghiên cứu đã trực tiếp thực hiện phỏng vấn Tiếp đó, dữ liệu được phân tích theo từng chủ đề

để xác định các khái niệm chính xuất hiện từ dữ liệu cũng được thực hiện bởi thành viên ở trên Sau đó, các dữ liệu đã được mã hóa được xem xét lại bởi các thành viên còn lại trong nhóm nghiên cứu để viết kết quả nghiên cứu

KẾT QUẢ

Từ danh sách vào đầu năm hai của hai lớp CNCQ hộ sinh 2014 và 2015, sinh viên được chọn dựa theo các tiêu chí chọn mẫu và loại trừ

và đã chọn được 100 sinh viên ở nhóm chứng

do có 02 sinh viên không tham gia lớp học (tỷ

lệ phản hồi: 98%) và 77 sinh viên ở nhóm can thiệp, có 01 sinh viên không tham gia lớp học

và 02 sinh viên vắng thi thực hành (tỷ lệ phản hồi: 96%), kết quả như sau:

Đặc tính dân số học của mẫu nghiên cứu

Bảng 1 cho thấy ở cả hai nhóm, giới tính

100% là nữ; độ tuổi trung bình là 20,35 (± 0,76) trong nhóm chứng và 20,25 (± 0,59) trong nhóm can thiệp; đa số đều có hộ khẩu thường trú tại các tỉnh 98% (nhóm chứng) và 98,7% (nhóm can thiệp); trên 80% sống ở phòng trọ (81%: nhóm chứng và 81,8%: nhóm can thiệp); phần lớn sinh viên sống trong phòng có 2 người trở lên với 81% ở nhóm chứng, và nhóm can thiệp là 88,3%; trên 90% sinh viên chưa có chứng chỉ Anh văn tại thời điểm nghiên cứu; điểm trung bình học tập năm 1 và năm 2 là 6,38 (± 0,39) ở nhóm

chứng và 6,39 (± 0,44) ở nhóm can thiệp

Bảng 1 Đặc tính dân số xã hội và sự khác biệt giữa 2 nhóm đối tượng

(n=100)

Nhóm can thiệp (n=77) Phép kiểm định Giá trị p

Chỗ ở tại

TP.HCM

Trang 5

Đặc tính Nhóm chứng

(n=100)

Nhóm can thiệp (n=77) Phép kiểm định Giá trị p

Trình độ Anh

văn

Có chứng chỉ anh văn

Điểm trung bình

6,38

T-test

Bảng 1 còn cho thấy cả 2 nhóm đều có các

đặc tính nền tương tự nhau, các phép kiểm định

t-test (biến tuổi, điểm trung bình năm 1 và năm

2), Chi bình phương (biến điều kiện sống),

Fisher’s exact test (biến thường trú, Chỗ ở, trình

độ Anh văn) đều cho kết quả p>0,05 Điều này

cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về đặc

tính dân số học của cả 2 nhóm

Bảng 2 Đặc điểm về cách thức xem phim kỹ năng

của nhóm can thiệp

Đặc điểm Tần số Phần

trăm (%)

Địa điểm xem phim

Phương tiện để xem

phim

Thời gian xem phim

trước khi đến lớp

Trước khi học 1

Bảng 2 cho thấy ở nhóm can thiệp đa số xem

phim tại nhà (74%), xem bằng điện thoại (52%),

xem 1 mình (93,5%) và thời gian xem phim là

một ngày trước khi đến lớp học (96,1%) Kết quả

trên cho thấy sinh viên không sử dụng máy tính

trong thư viện để xem phim mà xem phim tại

nhà và chủ yếu là xem trên điện thoại di động

Điều này thể hiện đặc điểm của giới trẻ, thích

tiếp cận các phương tiện hiện đại (smartphone)

hơn là sử dụng phương tiện truyền thống (xem

phim bằng máy tính bàn) hoặc việc tiếp cận xem

phim tại thư viện không thuận tiện Thời điểm

mà sinh viên chọn xem phim là 1 ngày trước khi

học mặc dù đĩa phim đã được chuyển đến sinh

viên vào đầu khóa học Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi lịch học của dày đặc nên không có thời gian chuẩn bị trước (hầu như đều học tất cả các buổi sáng chiều trong tuần đối với sinh viên năm 2) Đồng thời, với kết quả trên cũng cho thấy rằng trên 95% sinh viên đã chấp hành rất tốt yêu cầu của môn học là phải xem phim trước khi đến lớp học

Hiệu quả của ứng dụng các phim ngắn về kỹ thuật điều dưỡng trong giảng dạy thực hành môn ĐDCS 1 lên kết quả thi phần thực hành của sinh viên

Bảng 3 Kết quả và sự khác biệt trong kết quả thi

phần thực hành môn ĐDCS 1 ở hai nhóm

Biến số

Trung bình (±Độ lệch

Nhóm đối chứng n=100

Nhóm can thiệp n=77

t; df p

Điểm thi phần thực hành môn ĐDCS1

6,41±1,01 6,92±0,97 t (175) = -3,41 0,001**

Bảng 3 cho thấy điểm thi ở nhóm chứng là

6,41 (± 1,01) và ở nhóm can thiệp là 6,92 (± 0,97); và có một sự khác biệt đáng kể về điểm thi thực hành của cả 2 nhóm (p < 0,05) Việc ứng dụng đoạn phim ngắn đã có tác động tích cực lên kết quả học thực hành của sinh viên trong nhóm can thiệp

Nhận thức của sinh viên về tính khả thi và khả năng chấp nhận của việc ứng dụng đoạn phim ngắn trong giảng dạy thực hành môn ĐDCS 1

Kết quả được trình bày thành 2 phần: phần đầu đánh giá nhận thức của sinh viên về ưu điểm hoặc hạn chế của phương pháp học mới; phần thứ hai tập trung vào tính khả khi và năng

Trang 6

chấp nhận khi ứng dụng đoạn phim ngắn trong

giảng dạy thực hành

Phương pháp mới tạo ra một môi trường dạy

và học hiệu quả

Tất cả 77 sinh viên trong nhóm phỏng vấn

đều chỉ ra rằng phương pháp cho sinh viên xem

phim trước khi đến lớp học này là một phương

pháp có tác động tích cực tới việc học thực hành

môn ĐDCS Việc áp dụng cho sinh viên xem

đoạn phim kỹ năng trước khi học thực hành đã

tạo ra một môi trường dạy và học hiệu quả với

các đặc điểm sau:

Thúc đẩy sinh viên tham gia các hoạt động

học tập trong lớp học

Việc xem phim trước khi học đã giúp sinh

viên chủ động tham gia phát biểu và tăng sự

tương tác nhiều hơn với giảng viên trong giờ

học (tăng chủ động tương tác): “thắc mắc giơ tay

phát biểu nhiều hơn”

Tiếp thu nội dung học tập nhanh hơn và nhớ

lâu hơn

Việc xem phim trước khi học giúp sinh viên

có một cái nhìn tổng quan về các bước của qui

trình kỹ thuật và khi đến lớp sẽ có nhiều tư duy

về qui trình kỹ thuật để có thể có những thắc

mắc và tò mò muốn làm sang tỏ vấn đề, làm

tăng sự chú ý hơn cho sinh viên khi tham gia lớp

học, ngoài ra còn tạo điều kiện cho sinh viên trao

đổi một cách tích cực với các bạn cùng lớp và

giảng viên giúp sinh viên hiểu rõ và sâu hơn các

bước của qui trình, tiếp thu bài nhanh hơn và

nhớ lâu hơn do được hiểu sâu và được lặp đi lặp

lại nhiều lần: “nhớ bài lâu hơn;”Giúp mình nhớ lâu

hơn”;“Tiếp thu nhanh hơn, nhớ lâu hơn, thay vì ở

nhà đọc bảng kiểm, coi phim rồi thì lên đây coi phim

nữa, rồi coi cô làm nữa, lát thực hành nữa thì sẽ nhớ

lâu hơn Nói chung là mình được trải qua nhiều lần,

xem được nhiều vấn đề thực tế hơn” Đồng thời,

trong buổi học có bước giáo viên trao đổi với

sinh viên về một số điểm khác biệt giữa phim và

nội dung trong bảng kiểm, và giải đáp thắc mắc

cho sinh viên Sinh viên có ý kiến rằng việc giáo

viên giải thích sẽ giúp sinh viên hiểu rõ bài và sẽ

nhớ bài lâu hơn: “với lại khi đi học cô đã giải thích

tại sao sai, tụi em sẽ nhớ Trong cái clip đó nó làm sai chổ nào, cô giải thích sai như thế nào”; “có khi mình hiểu sai mình hỏi cô, cô sẽ giải đáp cho mình nhớ lâu hơn”; “xem có thắc mắc thì giáo viên giải thích luôn” Một số sinh viên cũng phát biểu rằng, học

từ phim ảnh sẽ tiếp thu nhanh và hiệu quả hơn

so với việc chỉ đọc bảng kiểm như trước đây:

“tiếp thu từ phim ảnh sẽ nhanh hơn, hiệu quả hơn

so với việc đọc”

Thời gian khởi động tạo không khí học tập thoải mái

Việc xem phim trước khi học làm cho sinh viên không còn thấy bỡ ngỡ khi bắt đầu buổi học

vì đã có sự chuẩn bị trước các nội dung sẽ học và những thắc mắc chưa thể giải thích được để tham gia thảo luận trong lớp với các bạn và giảng viên, làm cho không khí học tập của buổi học tích cực, sinh động hơn và có một số bạn khi được giảng viên hay các bạn trong lớp cho thấy mình đã hiểu đúng thì cảm thấy tự hào và tăng phần thích thú đối với lớp học hơn; tạo ra sự khởi đầu hứng khởi hơn trước khi bắt đầu học

giúp sinh viên có tinh thần học tập tốt hơn: “Sinh

động hơn”; “Vô lớp ổn định rồi coi video có tinh thần hơn”; “giống như cái khởi đầu gây hứng khởi hơn”;

“mới ngủ dậy, đang buồn ngủ”

Nâng cao kỹ năng tư duy tích cực

Xem phim trước sẽ giúp sinh viên có một cái nhìn tổng quan về qui trình kỹ thuật và tăng sự

tư duy trước khi đến lớp, sự tò mò, thắc mắc giúp cho các em có một sự thôi thúc tìm tòi ra câu trả lời với nhiều hình thức như hỏi bạn, hỏi anh chị lớp trên hay tìm trên sách vở, internet …

để rồi khi đến lớp sự chia sẻ các thông tin mà đã tìm thấy được giúp các em hoàn thiện hơn về suy nghĩ của mình và nhận ra các lý do chính đáng khi phải thực hiện các kỹ thuật một cách an

toàn và hiệu quả: “Ở nhà coi trước sẽ hình dung sẽ

lên học những gì” Xem phim trước giúp sinh viên

chuẩn bị được tinh thần, yên tâm hơn trước khi

bắt đầu học: “chuẩn bị được tinh thần”; “chứ vô

ngồi chờ không biết mình học cái gì”

Trang 7

Ngoài ra, việc vừa xem phim vừa xem bảng

kiểm sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về nội dung

trong bảng kiểm vì có một số bước nếu không

xem phim, sinh viên sẽ khó có thể tưởng tượng

ra được: “vừa coi phim vừa xem bảng kiểm sẽ hiểu

bảng kiểm nói gì, chứ xem bảng kiểm ko hiểu gì hết”;

“nhất là mấy cái băng bó” Việc xem các đoạn

phim kỹ thuật còn giúp sinh viên biết được cũng

với kỹ năng này, các nước khác đã thực hiện như

thế nào: “với lại mình biết thế giới nó có khác

không?”

Cung cấp nguồn tài liệu học thực hành hiệu

quả

Việc giáo viên cung cấp cho sinh viên đĩa

phim các kỹ thuật để xem còn giúp cho sinh viên

có nguồn tài liệu để nhắc nhỡ các em mỗi khi

quên một bước nào đó trong qui trình kỹ thuật,

hoặc ôn lại kỹ thuật để tham gia lượng giá giữa

kỳ hay cuối kỳ và thậm chí khi đi thực hành

bệnh viện nguồn tài liệu này đều giúp nhắc nhỡ

các em một cách dễ dàng vì qua phim ảnh việc

ôn lại các qui trình kỹ thuật vẫn dễ dàng hơn là

xem trên bảng kiểm: “có đĩa để ôn tập”, “tốt hơn”

Cải thiện các thuật ngữ Tiếng Anh chuyên

ngành

Các đoạn phim đều được thuyết minh hoặc

phụ đề bằng Tiếng Anh giúp cho sinh viên làm

quen cải thiện dần thói quen đọc và nghe Tiếng

Anh của mình nhất là các từ anh văn chuyên

ngành và tăng thêm sự tự hào và tự tin về bản

thân khi dần hiểu hơn các đoạn phim bằng tiếng

Anh: “biết thêm mấy từ chuyên ngành”

Tạo lòng yêu nghề

Khi xem các phim do được thực hiện từ các

điều dưỡng ở các nước tiên tiến làm kích thích

lòng yêu nghề và cảm thấy mắc dù là ở các nước

tiên tiến nhưng người nhân viên y tế đều cũng

phải làm các kỹ thuật chăm sóc người bệnh và sẽ

cảm thấy yêu nghề hơn mặc dù trang thiết bị

dụng cụ có khác biệt nhưng các em cũng cảm

thấy tự tin khi thấy việc thực hiện kỹ thuật ở

Việt Nam cũng như ở các nước tiên tiến khác:

“trang thiết bị hiện đại làm mình yêu nghề hơn”

Nhận thức của sinh viên về phương pháp này nhìn chung là mang tính tích cực, tất cả các sinh viên trong nhóm can thiệp đều rất nhiệt tình chấp nhận phương pháp này Nghiên cứu này

đã cho thấy sinh viên cảm nhận nhận thức được đây là một phương pháp có hiệu quả vì đã tạo ra được một môi trường học tập tốt với các tính chất: thúc đẩy sinh viên học tập; giúp sinh viên

dễ tiếp thu bài hơn và nhớ lâu hơn; tạo không khí vui tươi, sôi nổi khi học, nâng cao kỹ năng tư duy tích cực; cung cấp nguồn tài liệu học thực hành hiệu quả; tạo lòng yêu nghề cũng như nâng cao khả năng Tiếng Anh của sinh viên Pimparyon và cộng sự đã chỉ ra mối quan hệ giữa môi trường học tập và phương pháp giảng dạy, cụ thể môi trường học tập sẽ dự đoán hiệu quả một chiến lược giảng dạy như mong đợi(7)

Tính khả thi và khả năng chấp nhận

Thời điểm xem phim

Đa số sinh viên xem phim trước khi đến lớp

1 ngày, ngoài ra còn xem lại trong giai đoạn ôn

thi: “Tối hôm trước học, ôn thi cũng xem”; “rồi lên

trường xem” Tuy nhiên, cũng có một số ít sinh

viên cho biết là cũng có một vài buổi học đã không chuẩn bị bài bao gồm cả xem phim và đọc

bảng kiểm: “không phải hầu hết các buổi như vậy

nhưng sẽ có một số buổi như vậy” Đa số sinh viên

đều cho rằng việc xem phim trước khi đi học không làm mất thời gian và không ảnh hưởng

xấu đến việc học thực hành: “không làm mất thời

gian thực hành” Sinh viên cũng cho biết thêm

rằng nếu không xem phim trước khi đến lớp sẽ không thể hiểu bài, không tham gia phát biểu mặc dù vẫn được xem thêm 1 lần tại lớp trước

khi bắt đầu học: “Còn nếu mình không xem ở nhà

thì mình coi cũng không hiểu gì luôn”; “Không xem phim trước ở nhà vô lớp cô cho xem 1 lần vẫn bối rối” Sinh viên cảm thấy việc kết hợp xem phim

tại nhà và trên lớp sẽ hiệu quả hơn nếu như chỉ

xem một lần trên lớp: “Cảm thấy là nếu mình ở

Trang 8

nhà chuẩn bị tốt thì hiệu quả hơn nếu như xem có

một lần” Một vài sinh viên cho rằng nên xem ở

nhà trước 2 lần thì mới nhớ được kỹ thuật: “Ở

nhà trung bình các bạn xem phim mà để mà nhớ phải

xem hai lần trước khi đến lớp”

Nơi xem phim và người xem phim cùng

Đa số sinh viên xem phim trước tại nhà và

xem một mình Một số ít đã xem chung cả nhóm

bằng hình thức livestream trên điện thoại rồi

cùng thảo luận: “Có bữa laptop bị hư nguyên cả tổ

livestream coi …một đứa nó có laptop quay, rồi phát

cho cả nhóm xem”; “có trao đổi với nhau, chỗ nào

không hiểu thì hỏi”; “thấy ý kiến nào trùng nhau mà

không biết giải quyết thì … đem ra hỏi cô, còn giải

quyết được thì giải quyết với nhau”

Độ dài của phim

Đa số sinh viên đánh giá độ dài của các phim

được chọn khi học là phù hợp, trung bình từ 5 -

10 phút cho mỗi kỹ thuật: “Nói về các bước vậy là

hợp lý rồi đó cô”

Chất lượng đĩa phim

Với phương pháp này, mỗi sinh viên sẽ được

phát 1 đĩa phim bao gồm các kỹ thuật sẽ được

học trong môn ĐDCS1 Đa số sinh viên phát

biểu rằng đĩa phim sẽ dễ bị hỏng, do đó không

xem được lâu: “đĩa bị xướt, bị hư, không giữ được

phim lâu, không coi được” Một số sinh viên cho

biết việc chép phim vào đĩa có thể làm cho sinh

viên không xem phim do ngại mởi máy tính

hoặc không có laptop để xem mà lại không thể

mở đĩa bằng điện thoại: “Đôi khi lười với lại một số

bạn không có laptop để coi”; “Mấy bạn không có máy

để xem vừa không có laptop mà điện thoại cũng không

coi được” Tuy nhiên, các sinh viên không sử

dụng máy tính ở thư viện để xem mà một số

sinh viên sao chép thành tập tin và xem trên điện

thoại: “không copy được nên phải nhờ các bạn bên

công nghệ thông tin” Đa số sinh viên đã đề nghị

giáo viên gửi liên kết của phim qua mail để sinh

viên có thể tự xem: “gửi link qua mail”; “gửi link

cho lớp rồi lớp tự mở, đỡ rắc rối” Một số khác có ý

kiến là giáo viên gửi qua hình thức nào cũng

được miễn sao sinh viên có thể xem trên điện

thoại: “miễn sao là các em có thể xem được bằng điện

thoại”; “mạng wifi đầy, down xuống mà cô, vô Parkson, down xuống là xong, giả sử không có wifi

…thì phải đi ké, xong rồi tải về”

Ngôn ngữ Tiếng Anh trong các đoạn phim

Sinh viên cảm nhận được các phim kỹ thuật bằng Tiếng Anh được giáo viên cung cấp chuyên nghiệp hơn các phim bằng Tiếng Việt

mà sinh viên tự tìm được trên Youtube: “Em có

cảm giác Tiếng Anh có vẻ chuyên nghiệp hơn Mấy bữa thi, em có lên Youtube gõ mấy cái của Youtube của Việt Nam làm, có cảm giác nó không đảm bảo, chất lượng hình ảnh kiểu như là đối đáp với bệnh nhân, mọi thứ nước ngoài nó có vẻ chuyên nghiệp hơn Việt Nam; với lại như là người ta làm sao bắt chước người ta làm theo như vậy” Một vài sinh

viên cho rằng vì ngôn ngữ là Tiếng Anh nên

nghe không hiểu, chỉ nhìn động tác thôi: “nghe

không hiểu gì biết gì”; “tự coi dịch đại, nếu mà có thắc mắc quá thì tra từ điển thôi” Sinh viên đề nghị

các đoạn phim nên có phụ đề bằng Tiếng Việt, nhưng chỉ cần dịch các bước và các nguyên tắc

vô khuẩn cơ bản: “Nếu mà có Việt Sub thì tốt”; “chỉ

cần các nguyên tắc chính, giống như chỉ cần chú trọng sub phần vô khuẩn thôi” Một số khác lại yêu

cầu phim nên có ngôn ngữ là Tiếng Việt để dễ

tiếp thu: “nên là ngôn ngữ tiếng Việt”

Sự khác biệt giữa đĩa phim và các bước trong bảng kiểm

Một số sinh viên cho rằng đĩa phim nên khác với bảng kiểm khoảng 20 - 30% để giúp cho sinh viên nhận ra được những sự khác biệt

đó co thể là do khác trang thiết bị dụng cụ và

để phù hợp với Việt Nam thì sẽ không mắc phải khi thực hiện kỹ thuật với các dụng cụ ở

đây: “xem đĩa sẽ giúp ích, ví dụ như mình nhận ra

cái đó họ làm sai, mình đi thi mình sẽ nhớ đoạn đó

họ làm sai”; “Em nghĩ cái sai đó trong đĩa khoàng

20 đến 30 phần trăm là cùng Khi đi học, cô đã giải thích tại sao sai, tụi em sẽ nhớ”; “Trong cái clip đó

nó làm sai chổ nào, cô giải thích sai như thế nào”

Sinh viên đề xuất các đoạn phim chỉ nên khác phương pháp thực hiện chứ vẫn nên đảm bảo

Trang 9

nguyên tắc vô khuẩn: “cách khác nhưng vẫn

đúng nguyên tắc chứ không sai, hơi khác với mình

thôi, vẫn đúng nguyên tắc vô khuẩn”; “có xem

thêm 1 số quy trình khác, không giống nhưng cũng

gần giống, ở Việt Nam” Các sinh viên khác đề

nghị các đoạn phim nên giống như bảng kiểm

để sinh viên có thể học theo cái chuẩn vì khi

tiếp thu cái sai sẽ rất khó sửa: “Em nghĩ là càng

chuẩn càng tốt”; “sẽ học theo cái chuẩn tốt hơn là

mình học theo cái sàng chút sàng chút Nhiều bạn

không phát hiện ra cái sai đó, sẽ làm theo luôn bởi

vì cái gì ban đầu mà mình tiếp thu vô thì phải

chuẩn Tiếp thu sai sẽ sửa, sửa là một vấn đề rất

mất thời gian”; “Em nghĩ là đĩa nên trọn vẹn”;

“muốn xem quy trình chuẩn vì khác nó lộn xộn”

Một lí do khác nữa là phim cần phải chuẩn để

giúp sinh viên nhớ lại khi ôn bài: “Nếu mà cái

đĩa giống như cái quy trình mà cô đưa, khi tụi em

muốn ôn bài, không nhớ thao tác của cô, có thể mở

ra xem Nó cũng có một tác dụng xem lại để ôn bài

Tụi em ôn bài có thể nhìn đĩa nhìn bảng kiểm để ôn

bài ở nhà Cái đĩa nên giống như bảng kiểm mà cô

sẽ chấm thi”

BÀN LUẬN

Đặc tính dân số học của mẫu nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu tìm được phù hợp vì

tất cả sinh viên ở cả 2 nhóm học chuyên ngành

hộ sinh nên tất cả đều là nữ; đối tượng là

CNCQ nên độ tuổi trung bình khoảng 20 tuổi

Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ sinh viên có hộ

khẩu thường trú ở tỉnh từ 98% trở lên do đó

kéo theo có trên 80% phải sống ở ký túc xá và

các phòng trọ, dẫn đến phải ở trọ chung ít nhất

từ 2 người một phòng trở lên

Kết quả trên cho thấy sinh viên không sử

dụng máy tính trong thư viện để xem phim

mà xem phim tại nhà và chủ yếu là xem trên

điện thoại di động Điều này thể hiện đặc điểm

của giới trẻ, thích tiếp cận các phương tiện

hiện đại (smartphone) hơn là sử dụng phương

tiện truyền thống (xem phim bằng máy tính

bàn) hoặc việc tiếp cận xem phim tại thư viện

không thuận tiện Thời điểm mà sinh viên

chọn xem phim là 1 ngày trước khi học mặc dù

đĩa phim đã được chuyển đến sinh viên vào đầu khóa học Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi lịch học của dày đặc nên không có thời gian chuẩn bị trước (hầu như đều học tất cả các buổi sáng chiều trong tuần đối với sinh viên năm 2)

Hiệu quả của ứng dụng các phim ngắn về kỹ thuật điều dưỡng trong giảng dạy thực hành môn ĐDCS 1 lên kết quả thi phần thực hành của sinh viên

Việc ứng dụng đoạn phim ngắn đã có tác động tích cực lên kết quả học thực hành của sinh viên trong nhóm can thiệp

Phát hiện này cũng phù hợp với kết luận của các tác giả đã nghiên cứu về lĩnh vực này(3,5,8)

Có một điểm khác biệt với các nghiên cứu đã thực hiện là các đoạn phim được sử dụng trong nhóm can thiệp không được nhóm nghiên cứu

tự tạo ra mà sử dụng từ các đoạn phim tải về từ Internet, có sự khác biệt khoảng 10 - 20% về trình

tự và cách thực hiện quy trình kỹ thuật so với quy trình đang giảng dạy tại trường Mục đích của sử dụng các phim này là nhằm giới thiệu cho sinh viên cách thức mà các nước thực hiện

kỹ thuật đó như thế nào, với các phương tiện hiện đại hơn Mặt khác, với điều kiện hiện tại thì nhóm nghiên cứu và giảng viên giảng dạy chưa thể tự quay phim của tất cả các kỹ thuật phục vụ cho giảng dạy môn ĐDCS1 Một điểm khác biệt nữa là trong nghiên cứu này đối tượng nghiên cứu trong hai nhóm đối chứng và can thiệp nhập học cách nhau 1 năm mục đích là để sinh viên trong nhóm can thiệp không chia sẽ đoạn phim cho nhóm can thiệp, nhằm kiểm soát được sai lệch do chia sẽ thông tin; đồng thời, để kiểm soát

sự khác biệt giữa hai nhóm, nhóm nghiên cứu đã kiểm tra các đặc tính dân số của cả hai nhóm và kết quả là không có sự khác biệt đáng kể (p > 0,05)

Nhận thức của sinh viên về tính khả thi và khả năng chấp nhận của việc ứng dụng đoạn phim ngắn trong giảng dạy thực hành môn ĐDCS 1

Nhận thức của sinh viên về phương pháp này nhìn chung là mang tính tích cực, tất cả các sinh viên trong nhóm can thiệp đều rất nhiệt

Trang 10

tình chấp nhận phương pháp này Nghiên cứu

này đã cho thấy sinh viên cảm nhận nhận thức

được đây là một phương pháp có hiệu quả vì đã

tạo ra được một môi trường học tập tốt với các

tính chất: thúc đẩy sinh viên học tập; giúp sinh

viên dễ tiếp thu bài hơn và nhớ lâu hơn; tạo

không khí vui tươi, sôi nổi khi học, nâng cao kỹ

năng tư duy tích cực; cung cấp nguồn tài liệu

học thực hành hiệu quả; tạo lòng yêu nghề cũng

như nâng cao khả năng Tiếng Anh của sinh viên

Pimparyon và cộng sự đã chỉ ra mối quan hệ

giữa môi trường học tập và phương pháp giảng

dạy, cụ thể môi trường học tập sẽ dự đoán hiệu

quả một chiến lược giảng dạy như mong đợi(7)

KẾT LUẬN

Nghiên cứu này đã chứng minh hiệu quả của

phương pháp ứng dụng đoạn phim ngắn trong

giảng dạy các kỹ năng ĐDCS 1 lên điểm thi thực

hành của sinh viên (p < 0,005); đồng thời, đã cho

thấy ưu điểm cũng như một số hạn chế của

phương pháp ứng dụng đoạn phim ngắn trong

giảng dạy kỹ năng điều dưỡng Về ưu điểm như

tạo ra được môi trường học tập hiệu quả với các

tính chất: thúc đẩy sinh viên học tập; giúp sinh

viên dễ tiếp thu bài hơn và nhớ lâu hơn; tạo

không khí vui tươi, sôi nỗi khi học, tăng mức độ

tương tác đối với giảng viên trong buổi học, tăng

tính chủ động, nâng cao kỹ năng tư duy tích cực;

cung cấp nguồn tài liệu học thực hành hiệu quả;

tạo lòng yêu nghề cũng như khuyến khích và

nâng cao khả năng Tiếng Anh của sinh viên

Phương pháp định tính đã chỉ ra tính khả thi và

khả năng chấp nhận của phương pháp này trong

giảng dạy thực hành dựa trên cách nhận thức

của sinh viên về các khía cạnh như thời điểm và

địa điểm xem phim, độ dài của phim, chất lượng

đĩa phim, ngôn ngữ sử dụng trong phim và sự

khác biệt giữa quy trình trong phim và trong

bảng kiểm Ngoài ra với hiệu quả của đoạn phim

ngắn tải trên internet trong việc giảng dạy kỹ

năng giúp cho chúng ta có thể sử dụng nguồn

học liệu sẵn có mà không phải tốn kém để xây

dựng các phim kỹ năng và các nguồn phim này

cũng sẽ không trường tồn mãi mãi và sẽ thay đổi

khi khoa học tiến bộ, trang thiết bị dụng cụ thay đổi và sẽ khó chuẩn mực nếu không cập nhật

KIẾN NGHỊ

Áp dụng phương pháp giảng dạy này rộng rãi hơn đối với các đối tượng sinh viên y tế khác

mà có chương trình huấn luyện kỹ năng Chọn lọc nguồn tài liệu sẵn có của thế giới là các đoạn phim về kỹ năng phù hợp với nguyên tắc an toàn trên các trang mạng uy tín sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên Không cần thiết tốn kém kinh phí trong việc xây dựng kịch bản

và quay phim kỹ năng để cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên vì chi phí tốn kém

và các qui trình thực hành các kỹ năng cũng có thể bị thay đổi theo sự tiến bộ của khoa học và

xã hội

HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đã sử dụng các đoạn phim tải về

từ Internet, đa phần là ở các nước phát triển do vậy về hình thức, mô hình, trang thiết bị dụng

cụ, thậm chí có một số bước trong qui trình có sự khác biệt mà không thể ứng dụng ở trong nước của chúng ta Trong phim đang sử dụng là ngôn ngữ tiếng Anh, mặc dù có thể có phụ đề nhưng cũng là tiếng Anh nên cũng gặp khó khăn trong việc chuyển tải các ý nghĩa của kỹ năng đến cho sinh viên Ngoài ra nghiên cứu thực hiện trên hai nhóm sinh viên khác nhau về năm học nên không thể tránh khỏi một số yếu tố gây nhiễu trong can thiệp mặc dù trong phần khảo sát thông tin nền thì sự khác biệt giữa hai nhóm không đáng kể với kết quả p > 0,05

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Buch SV, Treschow FP, Svendsen JB, Worm BS (2014)

Video-or text-based e-learning when teaching clinical procedures? A

randomized controlled trial Advances in medical education and

practice, 5, 257

2 Lake FR, Hamdorf JM (2004) Teaching on the run tips 5:

teaching a skill Medical journal of Australia, 181(6), 327

3 Lee JC, Boyd R, Stuart P (2007) Randomized controlled trial of

an instructional DVD for clinical skills teaching Emergency

Medicine Australasia, 19(3), 241-245

4 Mehrpour SR, Aghamirsalim M, Motamedi SMK, Larijani FA, Sorbi R (2013) A supplemental video teaching tool enhances

Ngày đăng: 15/01/2020, 00:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w