1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm trong đánh giá đáp ứng với bù dịch trong sốc nhiễm khuẩn

7 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 323,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo dõi huyết động là một vấn đề quan trọng trong điều trị bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn. Ngày nay, các phương pháp theo dõi huyết động ít xâm lấn ngày càng được khuyến cáo sử dụng nhiều hơn, trong đó, có thể sử dụng độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm (ScvO2) để theo dõi cung lượng tim, gián tiếp đánh giá đáp ứng với bù dịch.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA ĐỘ BÃO HÒA OXY MÁU TĨNH MẠCH TRUNG TÂM TRONG ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG VỚI BÙ DỊCH TRONG SỐC NHIỄM KHUẨN

Lê Hữu Thiện Biên*, Huỳnh Quang Đại*, Mai Anh Tuấn * , Nguyễn Vinh Anh * , Lê Minh Khôi * , Đỗ Hồng Anh * , Nguyễn Thị Diễm Hà * , Lê Thanh Chiến * , Vũ Đình Thắng * , Đỗ Quốc Huy * , Trương Ngọc Hải * , Phan Thị Xuân*,

Phạm Thị Ngọc Thảo*, Phan Vũ Anh Minh**, Nguyễn Mạnh Tuấn***, Đặng Vạn Phước****

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Theo dõi huyết động là một vấn đề quan trọng trong điều trị bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn Ngày nay, các phương pháp theo dõi huyết động ít xâm lấn ngày càng được khuyến cáo sử dụng nhiều hơn, trong đó, có thể sử dụng độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm (ScvO 2 ) để theo dõi cung lượng tim, gián tiếp đánh giá đáp ứng với bù dịch

Phương pháp: Tiến cứu quan sát, tại khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Đại học Y Dược và khoa Săn sóc đặc biệt bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 02/2015 đến tháng 09/2015 Nghiệm pháp bù dịch nhanh thực hiện theo phác đồ điều trị nhiễm khuẩn huyết 2012 Bệnh nhân được xem như có đáp ứng với bù dịch nếu thể tích nhát bóp tăng > 15% sau bù dịch Đo độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm trước và sau khi làm nghiệm pháp bù dịch nhanh Kết quả: trong thời gian từ 02/2015 đến 09/2015 có 35 bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn được nghiên cứu với tuổi trung bình 64,37 ± 14,24, điểm APACHE II 18,79 ± 7,28, điểm SOFA 6,37 ± 3,55 Có 10 bệnh nhân đáp ứng với bù dịch (28,57%) Giá trị ScvO 2 trước nghiệm pháp bù dịch ở các bệnh nhân

có đáp ứng và không có đáp ứng lần lượt là 75,67 ± 8,76% và 74,95 ± 7,95% (p=0,82) Trong số 8 bệnh nhân có ScvO 2 trước bù dịch < 70% (22,86%), nhóm có đáp ứng bù dịch có ScvO 2 tăng gần 5%, trong khi nhóm không có đáp ứng chỉ tăng <1% (p=0.13), và sự gia tăng ScvO 2 trên 2,5% có giá trị tiên đoán đáp ứng với bù dịch (độ nhạy 100%, 95%CI 30,5-100; độ đặc hiệu 80%, 95%CI 28,8-96,7)

Kết luận: Sự thay đổi ScvO 2 ở nhóm các bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn có ScvO 2

trước bù dịch thấp có thể giúp tiên đoán đáp ứng với bù dịch

Từ khóa: sốc nhiễm khuẩn, đáp ứng với bù dịch, độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm

ABSTRACT

ROLE OF CENTRAL VENOUS OXYGEN SATURATION IN PREDICTION FLUID RESPONSIVENESS

IN SEPTIC SHOCK

Le Huu Thien Bien, Huynh Quang Dai, Phan Vu Anh Minh, Mai Anh Tuan, Nguyen Vinh Anh, Nguyen Manh Tuan, Le Minh Khoi, Do Hong Anh, Nguyen Thi Diem Ha, Le Thanh Chien, Vu Dinh Thang, Do Quoc Huy, Truong Ngoc Hai, Phan Thi Xuan, Pham Thi Ngoc Thao, Dang Van Phuoc

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 1 - 2016: 348 - 353

Background: Assessing fluid responsiveness played a crucial role in hemodynamic support for patients with severe sepsis and septic shock Although dynamic parameters have been proven to be superior to static predictors but required invasive and expensive monitoring techniques Central venous oxygen saturation reflected the balance between delivery and oxygen consumption therefore can be used to indirectly assessed cardiac output

*Bộ môn HS-CC-CĐ ĐH Y Dược TPHCM **Bệnh viện Đại Học Y Dược TPHCM

Trang 2

Method: prospective observational study at intensive care unit at University medical center and Chợ rẫy hospital Fluid challenge was performed according to surviving sepsis campaign 2012 Patients with an stroke volume increased at least 15% after fluid challenge was considered as responders Central venous oxygen saturation was measured before and after fluid challenge

Results: from 02/2015 to 09/2015 there were 35 severe sepsis/septic shock were enrolled to study with age 64.37 ± 14.24, APACHE II score 18.79 ± 7.28, SOFA score 6.37 ± 3.55 10 patients were considered as fluid responder and 25 patients did not respond to fluid administration ScvO 2 was similar between two group before fluid challenge (75.67 ± 8.76% versus 74.95 ± 795%,p=0.82) Among patients whose ScvO 2 before fluid challenge was lower than 70%, there were a significant increased of ScvO 2 in responders (5% versus 1%) An raise of ScvO 2

above 2.5% can predict fluid responsiveness with sensitivity 100%, (95%CI 30.5-100); specificity 80% (95%CI 28.8-96.7)

Conclusion: change of ScvO 2 in patients with low ScvO 2 before fluid challenge can predict fluid responsiveness in patients with severe sepsis/septic shock

Key words: septic shock, fluid responsiveness, central venous oxygen saturation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo dõi huyết động nhằm đánh giá chức

năng của hệ tim mạch và cung cấp oxy mô là

một phần quan trọng trong điều trị bệnh nhân

sốc Những thông số huyết động cơ bản như

nhịp tim, huyết áp, lượng nước tiểu mặc dù dễ

đánh giá nhưng không đánh giá chính xác cung

cấp oxy mô(5) Đo cung lượng tim qua catheter

động mạch phổi trước nay được xem như tiêu

chuẩn vàng nhưng ngày càng ít được sử dụng vì

tốn kém và nhiều tai biến (14) Do đó các phương

pháp ít xâm lấn ngày càng được khuyến cáo sử

dụng nhiều hơn

Độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch phụ thuộc:

cung lượng tim, lượng oxy máu động mạch và

tiêu thụ oxy mô do đó có thể sử dụng để theo dõi

cung lượng tim(9) Trong khi việc theo dõi độ bão

hòa oxy máu tĩnh mạch trộn (SvO2) đòi hỏi phải

đặt catheter động mạch phổi thì việc theo dõi độ

bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm (ScvO2) lại

đơn giản hơn vì hầu hết bệnh nhân sốc đều có

catheter tĩnh mạch trung tâm Mặc dù độ bão

hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm không phải

luôn luôn phản ánh chính xác độ bão hòa oxy

máu tĩnh mạch trộn tuy nhiên một số nghiên

cứu cho thấy có sự thay đổi song song giữa

SvO2và ScvO2(4,11)

Trong ổn định huyết động cho bệnh nhân sốc thì việc đánh giá bệnh nhân có đáp ứng với

bù dịch, tăng cung lượng tim sau bù dịch, có ý nghĩa rất quan trọng Mặc dù độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trước bù dịch tiên đoán đáp ứng

bù dịch kém chính xác, tuy nhiên sự thay đổi độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch sau bù dịch có thể tiên đoán đáp ứng bù dịch chính xác hơn Trên bệnh nhân sau phẫu thuật tim, Kuiper ghi nhận

sự gia tăng SvO2 2% có giá trị tiên đoán đáp ứng với bù dịch(7) Tương tự, trên bệnh nhân sốc tim, Giraud ghi nhận sự gia tăng ScvO2 4% có giá trị tiên đoán đáp ứng với bù dịch(4)

Bên cạnh những rối loạn huyết động đại thể, sốc nhiễm khuẩn còn đặc trưng bởi các rối loạn tuần hoàn vi thể, nối tắt tại mô, giảm sử dụng oxy(3,12) Những rối loạn tuần hoàn vi thể này có thể ảnh hưởng đến giá trị của độ bão hòa oxy trong việc phản ánh cung lượng tim

Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá vai trò của độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm trong tiên đoán đáp ứng với bù dịch trên bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn

Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm điểm cắt của ScvO2 trước bù dịch và của độ biến thiên ScvO2 sau bù dịch có giá trị tiên đoán đáp ứng với bù dịch tốt nhất

Trang 3

- So sánh giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch

của ScvO2 trên các bệnh nhân có ScvO2 thấp

trước bù dịch

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh: tất cả bệnh nhân có

các tiêu chuẩn nhiễm khuẩn huyết nặng hoặc sốc

nhiễm khuẩn

Tiêu chuẩn loại trừ:

(1) Có kèm theo sốc không phải do nhiễm

khuẩn,

(2) Không thể đặt được catheter tĩnh mạch

trung tâm và catheter động mạch,

(3) Có dấu hiệu quá tải tuần hoàn trên lâm

sàng,

(4) < 18 tuổi hay > 80 tuổi

(5) Có hội chứng nguy kịch hô hấp cấp

(ARDS),

(6) Có thay đổi liều thuốc vận mạch trong

thời gian làm nghiệm pháp bù dịch nhanh

(7) Có tình trạng tăng Kali máu > 5.0 mEq/L

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu quan sát

Thực hiện tại khoa Hồi Sức, bệnh viện Chợ

rẫy và bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, từ

tháng 02/2015 đến tháng 09/2015

Phương pháp thực hiện nghiên cứu: tất cả

bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu đều được

thực hiện các thủ thuật và thu thập số liệu theo

các bước:

Đặt catheter tĩnh mạch chủ trên hoặc tĩnh

mạch dưới đòn và catheter động mạch quay;

chụp Xquang ngực thẳng, xác định vị trí đầu tận

catheter tĩnh mạch trung tâm nằm tại tĩnh mạch

chủ trên;

Đo các thông số: nhịp tim, huyết áp tâm thu,

huyết áp trung bình áp suất tĩnh mạch trung

tâm, ScvO2, độ bão hòa oxy máu động mạch

(SaO2), cung lượng tim (CLT), thể tích nhát bóp

(TTNB), hemoglobine;

Thực hiện nghiệm pháp truyền dịch nhanh bằng Ringer Lactate với số lượng 500mL trong vòng 30 phút;

Ngay sau khi kết thúc nghiệm pháp truyền dịch nhanh hoặc ngay khi nghiệm pháp này bị ngưng lại, đo các thông số (lần 2): nhịp tim, huyết áp trung bình, huyết áp tâm thu, áp suất tĩnh mạch trung tâm, ScvO2, SaO2, CLT, TTNB, Hb;

Nghiệm pháp truyền dịch nhanh sẽ bị ngưng lại nếu có bất kỳ triệu chứng nào gợi ý bị quá tải tuần hoàn (ví dụ: khó thở, có bọt hồng, ran phổi tăng, độ bão hòa oxy giảm)

Phương tiện thực hiện nghiên cứu

Monitor EV-1000: đo áp suất tĩnh mạch trung tâm, CLT, TTNB

Monitor Nihon Kohden BSM-5362: đo nhịp tim, huyết áp động mạch trung bình

Máy Stat Profile pHOx Plus M: đo ScvO2, SaO2

Thông tin được ghi nhận

Tuổi, giới tính

Nguyên nhân gây sốc nhiễm khuẩn, chia thành các nhóm chính: hô hấp, tiết niệu, ổ bụng, máu, ngoài da, không rõ

Điểm APACHE II ngày đầu vào khoa Hồi sức

Điểm SOFA trước khi thực hiện nghiệm pháp truyền dịch nhanh

Thuốc vận mạch đang sử dụng: dopamine, dobutamine, norepinephrine, epinephrine, terlipressin

Tình trạng hô hấp (thở tự nhiên/thở máy) Ngay trước và sau khi thực hiện nghiệm pháp truyền dịch nhanh: nhịp tim, huyết áp trung bình, áp suất tĩnh mạch trung tâm, TTNB, CLT, ScvO2, SaO2

Bệnh nhân/thân nhân đồng ý đặt catheter động mạch và catheter tĩnh mạch trung tâm ngoài ra không cần giấy đồng ý tham gia nghiên

Trang 4

cứu vì mọi số liệu ghi nhận và mọi thủ thuật can

thiệp đều là chỉ định lâm sàng thường quy

Định nghĩa các thông số

Nhiễm khuẩn huyết nặng: nhiễm khuẩn

huyết có kèm theo suy cơ quan hoặc giảm tưới

máu mô do nhiễm khuẩn huyết (tụt huyết áp <

90/60 mmHg, tăng lactate máu > 2 mmol/L, hoặc

thiểu niệu < 0.5 mL/kg/giờ)

Sốc nhiễm khuẩn: tình trạng tụt huyết áp

do nhiễm khuẩn huyết còn tiếp diễn sau khi đã

bù dịch đủ

Khi đo áp suất tĩnh mạch trung tâm, điểm

zero là đường nách giữa ở tư thế nằm thẳng

Bệnh nhân được xem như có đáp ứng với

nghiệm pháp truyền dịch nhanh nếu TTNB tăng

≥ 15% sau khi làm nghiệm pháp

Bệnh nhân được xem như không đáp ứng

với nghiệm pháp truyền dịch nhanh nếu TTNB

tăng < 15% sau khi làm nghiệm pháp hoặc có

triệu chứng gợi ý quá tải tuần hoàn khi đang làm

nghiệm pháp

Phân tích thống kê:

Các số liệu thu thập được nhập liệu và phân

tích bằng chương trình STATA 10.0 Số liệu trình

bày dưới dạng trung bình  độ lệch chuẩn Sai

biệt p < 0,05 được xem như có ý nghĩa thông kê

KẾT QUẢ

Trong thời gian 02/2015 đến 09/2015 có 35 bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn được thực hiện nghiệm pháp bù dịch nhanh tại bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Đại học Y Dược Đa số bệnh nhân ở trong tình trạng sốc nhiễm khuẩn (68,6%) và đường vào thường gặp nhất là đường tiêu hóa (42,9%) Bệnh nhân được bù dịch trong giai đoạn khá sớm của nhiễm khuẩn huyết tuy nhiên chỉ có 10 bệnh nhân đáp ứng với bù dịch (28,6%) Đặc điểm của bệnh nhân được trình bày trong bảng 1

Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu

Tuổi (năm) (trung bình ± độ lệch chuẩn) 64,1 ± 12,4 Giới (nam) số trường hợp (tỷ lệ) 24 (68,6%)

Độ nặng của nhiễm khuẩn huyết Nhiễm khuẩn huyết nặng (số trường hợp/tỷ lệ) Sốc nhiễm khuẩn (số trường hợp/tỷ lệ)

11 (31,4%)

24 (68,6%) Đường vào nhiễm khuẩn huyết

Hô hấp (số trường hợp /tỷ lệ) Tiêu hóa (số trường hợp /tỷ lệ) Tiết niệu (số trường hợp /tỷ lệ) Ngoài da (số trường hợp /tỷ lệ) Đường vào khác (số trường hợp /tỷ lệ)

9 (25,7%)

15 (42,9%)

5 (14,3%)

5 (14,3%)

1 (2,8%)

Số ngày sốc nhiễm khuẩn trước khi bù dịch (trung bình ± độ lệch chuẩn)

1,5 ± 0,8 Mức độ nặng của bệnh

APACHE II (trung bình ± độ lệch chuẩn) SOFA (trung bình ± độ lệch chuẩn)

18,8 ± 7,3 6,4 ± 3,5

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân có và không có đáp ứng với bù dịch

Đặc điểm Đáp ứng bù dịch (n=10) Không đáp ứng bù dịch (n=25) P Giới tính (nam/nữ) 9/1 (90,00%/10,00%) 15/10 (60,00%/40,00%) 0,08

Độ nặng nhiễm khuẩn huyết

- Nhiễm trùng nặng 2 (20,00%) 9 (36,00%)

Số ngày nhiễm khuẩn huyết trước bù dịch (ngày) 1,60 ± 0,97 1,50 ± 0,72 0,74

ScvO 2 trước bù dịch (%) 75,67 ± 8,76 74,95 ± 7,95 0,82 Thời gian nằm ICU (ngày) 8,40 ± 6,47 10,67 ± 8,40 0,59 Thời gian nằm viện (ngày) 20,80 ± 14,70 18,00 ± 11,21 0,66

Số liệu được trình bày ở dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc số ca (tỷ lệ %)

Trang 5

Nói chung các bệnh nhân được bù dịch trong

giai đoạn khá sớm của sốc nhiễm khuẩn Nhóm

bệnh nhân có đáp ứng với bù dịch có tỷ lệ sốc

nhiễm khuẩn cao hơn so với nhóm bệnh nhân

không đáp ứng với bù dịch, tuy nhiên sự khác

biệt này không có ý nghĩa thống kê (bảng 2)

Bù dịch làm tăng đáng kể thể tích nhát bóp

và cung lượng tim ở nhóm có đáp ứng với bù dịch, tuy nhiên không làm thay đổi đáng kể độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm Sự thay đổi nồng độ hemoglobine và độ bão hòa oxy máu động mạch cũng không thay đổi đáng kể trước và sau bù dịch (bảng 3)

Bảng 3: Các thông số huyết động trước và sau bù dịch ở bệnh nhân có và không đáp ứng với bù dịch

Các thông số huyết động

Đáp ứng (n=10) Không đáp ứng (n=25) Trước bù dịch Sau bù dịch P Trước bù dịch Sau bù dịch P Huyết áp tâm thu (mmHg) 111,3 ± 12,1 140,9 ± 14,2 0,0001 110,3 ± 20,1 118,9 ± 18,6 0,002 Huyết áp trung bình (mmHg) 79,4 ± 13,2 94,4 ± 13,6 0,0004 72,8 ± 11,5 78,7 ± 11,5 0,001 Thể tích nhát bóp (mL) 54,6 ± 13,2 69,5 ± 14,4 < 0,0001 50,3 ± 24,3 49,8 ± 21,5 0,78 Cung lượng tim (L/phút) 6,2 ± 1,9 7,6 ± 2,0 < 0,0001 5,3 ± 2,6 5,3 ± 2,1 0,87 ScvO 2 (%) 75,7 ± 8,8 76,3 ± 7,6 0,76 74,7 ± 8,0 74,5 ± 7,9 0,86 Hemoglobine (g/dL) 10,0 ± 2,5 10,3 ± 2,3 0,69 9,8 ± 1,9 9,5 ± 1,6 0,40 Hematocrit (%) 29,9 ± 7,5 30,9 ± 6,6 0,61 29,1± 5,6 28,2 ± 4,4 0,34 SaO 2 (%) 99,3 ± 0,5 99,2 ± 0,7 0,54 98,5 ± 1,4 98,5 ± 1,3 0,95

Số liệu được trình bày ở dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn

Giá trị ScvO2 trước bù dịch ở nhóm đáp

ứng và không đáp ứng bù dịch lần lượt là 75,7

± 8,8 và 75,0 ± 8,0 (p = 0,82) Giá trị ScvO2 trước

bù dịch và sự thay đổi ScvO2 sau bù dịch

(ΔScvO2) không có giá trị tiên đoán đáp ứng

bù dịch (bảng 4)

Ở nhóm có ScvO2 trước bù dịch < 70%, nhóm

có đáp ứng bù dịch có ScvO2 tăng trung bình gần

5%, trong khi nhóm không đáp ứng bù dịch tăng trung bình <1% Giá trị ScvO2 trước bù dịch không có giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch, nhưng ScvO2 tăng trên 2,5% sau bù dịch có giá trị tiên đoán đáp ứng với bù dịch với độ nhạy 100% (95% CI 30,5-100,0) và độ đặc hiệu 80% (95% CI 28,8-96,7) (diện tích dưới đường cong ROC 0,87) (bảng 4)

Bảng 4: Độ nhạy, độ đặc hiệu và các giá trị tiên đoán của ScvO2 và ScvO 2 trong đánh giá đáp ứng bù dịch

Giá trị ngưỡng Độ nhạy Độ đặc hiệu

Giá trị tiên đoán dương

Giá trị tiên đoán âm

Diện tích dưới đường cong ROC Dân số chung

ScvO 2 trước bù dịch (%) 82,8 30,0% 96,0% 75,0% 77,4% 0,55

Nhóm bệnh nhân có ScvO 2

trước bù dịch thấp (<70%)

ScvO 2 (%) 2,5 100,0% 80,0% 75,0% 100,0% 0,87

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên bệnh

nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm

khuẩn, độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung

tâm trước bù dịch và sự thay đổi độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm sau bù dịch không tiên đoán được đáp ứng với bù dịch Tuy nhiên trên các bệnh nhân có độ bão hòa

Trang 6

thấp (ScvO2 < 70%), sự thay đổi độ bão hòa oxy

máu tĩnh mạch trung tâm sau bù dịch có thể

tiên đoán đáp ứng với bù dịch

Bù dịch đóng vai trò rất quan trọng trong ổn

định huyết động cho bệnh nhân nhiễm khuẩn

huyết/sốc nhiễm khuẩn Tuy nhiên bù dịch cũng

có thể gây ra những hậu quả bất lợi như phù

phổi và làm tăng tỷ lệ tử vong(1,6) Vì vậy việc

đánh giá một bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn rất

quan trọng trên lâm sàng Cách đánh giá đáp

ứng với bù dịch chính xác nhất là làm nghiệm

pháp bù dịch nhanh đồng thời với theo dõi thể

tích nhát bóp/cung lượng tim trước và sau bù

dịch(2) Tuy nhiên việc theo dõi cung lượng tim

liên tục như vậy đòi hỏi các phương tiện theo dõi

phức tạp Vì vậy một thông số tiên đoán đáp ứng

với bù dịch tốt sẽ thay thế được cho việc đo cung

lượng tim liên tục

Mặc dù Nemeth nhận thấy có sự tương quan

khá rõ giữa độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung

tâm và cung lượng tim(10) Tuy nhiên cung lượng

tim của bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn dao động

trong một khoảng khá rộng, do đó mức cung

lượng tim ban đầu không cho phép tiên đoán

đáp ứng với bù dịch Thật vậy, nghiên cứu của

Velissaris cho thấy không có sự khác biệt về chỉ

số tim và giá trị ScvO2 ban đầu giữa nhóm có

đáp ứng và không có đáp ứng với bù dịch

Trong nghiên cứu này chúng tôi cũng nhận thấy

giá trị ScvO2 ban đầu không có khả năng tiên

đoán đáp ứng với bù dịch(13)

Khác với độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch

trước bù dịch không có giá trị tiên đoán đáp ứng

với bù dịch, sự thay đổi độ bão hòa oxy máu tĩnh

mạch sau bù dịch cho thấy có thể tiên đoán đáp

ứng với bù dịch Trên bệnh nhân phẫu thuật tim,

Kuiper ghi nhận có sự tương quan giữa thay đổi

SvO2 và thay đổi chỉ số tim với giá trị SvO2 > 2%

cho phép tiên đoán đáp ứng bù dịch với AUC

0,68% Trên những bệnh nhân sốc tim với cung

lượng tim thấp hơn, Giroud ghi nhận ScvO2 >

4% cho phép tiên đoán đáp ứng bù dịch với độ

chính xác cao hơn AUC 0,90 Trong nghiên cứu

này, chúng tôi không có sự tương quan giữa

ScvO2 và sự thay đổi thể tích nhát bóp, hay nói cách khác là ScvO2 không tiên đoán được đáp ứng với bù dịch Điều này có thể được giải thích bằng các nguyên nhân sau: (1) cung lượng tim trong nghiên cứu của chúng tôi khá cao so với các nghiên cứu của Giraud và Kuiper, (2) trong sốc nhiễm khuẩn bù dịch có thể làm tăng tỷ lệ trích oxy do đó triệt tiêu tác dụng tăng ScvO2 sau

bù dịch(8), (3) số bệnh nhân trong nghiên cứu này quá ít chưa cho phép phát hiện tương quan giữa thay đổi độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch và thay đổi cung lượng tim

Tuy nhiên trên những bệnh nhân có ScvO2 < 70% chúng tôi nhận thấy có sự tương quan giữa

sự thay đổi ScvO2 và thay đổi cung lượng tim sau

bù dịch với ScvO2 > 2,5% cho phép tiên đoán đáp ứng với bù dịch với độ nhạy 100% và đặc hiệu 80% Như vậy trên bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn

có độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch thấp (và cung lượng tim thấp), khi lượng oxy cung cấp cho mô

đã vượt quá điểm tới hạn và không còn bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ trích oxy thì vẫn có sự tương quan giữa độ bão thay đổi độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch và thay đổi cung lượng tim

KẾT LUẬN

Trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn có độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm ban đầu < 70%, nếu sau khi

bù dịch mà độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm không tăng hơn được 2,4% thì có rất ít khả năng bệnh nhân đáp ứng với bù dịch do đó cần cân nhắc sử dụng các biện pháp điều trị khác để

ổn định huyết động

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Boyd JH RJ, Nakada TA et al (2011), "Fluid resuscitation in septic shock: a positive balance and elevated central venous

pressure are associated with increased mortality" Critical care medicine 39, 259

2 Cecconi M P A, Rhodes A (2011), "What is fluid challenge"

Current opinion in critical care 17, 290

3 De Backer DCO, Donadello K (2015), "Pathophysiology of microcirculatory dysfunction and the pathogenesis of septic

shock" Virulence, 5, 73

4 Giraud RSN, Gayet-Ageron A (2011), "ScvO2 as a marker to

define fluid responsiveness" Journal of Trauma 70, 802

Trang 7

5 Grisson CKMA, Lanken PN (2009), "Association of physical

examination with pulmonary artery catheter parameters in

acute lung injury" Critical care medicine, 37, 3720

6 Kelm DJPJ, Cartin-Ceba R et al (2015), "Fluid overload in

patiens with severe sepsis and septic shock treated with

early-goal-directed therapy is associated with increased

acute need for fluid-related medical interventions and

hospital death" Shock, 43, 68

7 Kuiper ANTR, Groeneveld ABJ (2013), "Mixed venous O

saturation and fluid responsiveness after cardiac and major

vascular surgery" Journal of Cardiothoracic Surgery 8, 189

8 Lagoa CEFL, Cruz RJ (2004), "Effects of volume resuscitation

on splanchnic perfusion in canine model of severe sepsis

induced by live Escherichia coli infusion" Critical care 8,

R221

9 Maddirala SKA (2010), "Optimizing hemodynamic support

in septic shock using central and mixed oxygen saturation"

Critical care clinic 26, 323

10 Nemeth MTK, Demeter G et al (2014), "Central venous

oxygen saturation and carbon dioxide gap as resuscitation

targets in a hemorrhagic shock" Acta Anesthesiol Scand 58,

611

11 Reinhart KKH, Hartog C, Bredle DL (2004), "Continuous central venous and pulmonary artery oxygen saturation

monitoring in the critically ill" Intensive care medicine 30,

1572

12 Trzeciak SRE (2005), "Clinical manifestations of disordered

microcirculatory perfusion in severe sepsis" Critical Care 9,

S20

13 Velissaris DPP, Vincent JL (2011), "High mixed venous oxygen saturation levels do not exclude fluid responsiveness

in critically ill septic patients" Critical care 15, R177

14 Wiener RS WH (2007), "Trends in the use of pulmonary

artery catheter in the United States, 1993-2004" JAMA, 298,

423

Ngày đăng: 15/01/2020, 00:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm