1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm màng não mủ điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất

7 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 343,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm màng não mủ điều trị tại bệnh viện Thống Nhất TP. HCM trong 5 năm 2014-2018.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

Ở BỆNH NHÂN VIÊM MÀNG NÃO MỦ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

Trần Thị Vân Anh * , Đỗ Thanh Hương * , Phạm Minh Công * , Hà Thị Minh Đức *

TÓM TẮT

Mở đầu: Việc chẩn đoán sớm và sử dụng kháng sinh phù hợp làm giảm đáng kể tình trạng di chứng và số

lượng bệnh nhân tử vong của bệnh nhân viêm màng não mủ Chúng tôi thực hiện nghiên cứu để giúp cho việc chẩn đoán được kịp thời

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm màng não mủ điều trị tại

bệnh viện Thống Nhất TP HCM trong 5 năm 2014-2018

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu hàng loạt ca những bệnh nhân được chẩn đoán viêm

màng não mủ từ 01/ 2014 – 12/ 2018

Kết quả: 26 bệnh nhân viêm màng não mủ với các đặc điểm sau: Bệnh VMNM nhập viện rải rác quanh

năm nhưng thường gặp từ tháng 3 đến tháng 6, đa số là lao động tay chân và sống tại TP HCM 15,4% trường hợp ĐTĐ type II, 3,8% bệnh nhân chấn thương sọ não Đa số bệnh nhân nhập bệnh viện Thống Nhất là cơ sở khám chữa bệnh đầu tiên, chỉ một trường hợp điều trị ở tuyến trước Tỷ lệ bệnh nhân có đầy đủ 4 triệu chứng (sốt, đau đầu, dấu màng não, rối loạn tri giác) là 42,3%, tỷ lệ bệnh nhân có 2 trong 4 triệu chứng là 96,2%, sốt 96,2%, đau đầu 88,5%, dấu màng não 80,8%, rối loạn tri giác 53,8%, bí tiểu 30,8%

Kết luận: Bác sỹ lâm sàng có thể nghi ngờ bệnh nhân viêm màng não mủ khi bệnh nhân có 2 trong 4 triệu

chứng (sốt, đau đầu, dấu màng não, rối loạn tri giác) Bệnh nhân viêm màng não mủ nhập viện nhiều từ tháng

03 đến tháng 06 hằng năm, đa số bệnh nhân chưa điều trị tại cơ sở y tế trước

Từ khóa: sốt, đau đầu, dấu màng não, rối loạn tri giác, viêm màng não mủ

ABSTRACT

EPIDEMIOLOGICAL FACTORS, CLINICAL MANIFESTATION AND SUBCLINICAL

MANIFESTATION IN PATEINTS TREATED WITH BACTERIAL MENINGITIS IN HO CHI MINH

THONG NHAT HOSPITAL

Tran Thi Van Anh, Do Thanh Huong, Pham Minh Cong, Ha Thi Minh Duc

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 90 - 96

Background: Early diagnosis and use of appropriate antibiotics significantly reduce sequelae and mortality

of bacterial meningitis We do research to help make the diagnosis timely.

Objectives: Description of epidemiological, clinical and subclinical characteristics in patients treated with

bacterial meningitis at Thong Nhat TP HCM hospital in 5 years 2014-2018

Methods: Retrospective of cases of patients diagnosed with bacterial meningitis from 01/2014 - 12/2018 Results: 26 patients with bacterial meningitis with the following characteristics: bacterial meningitis

hospitalized scattered throughout the year but often from March to June, most of them are manual workers and live in HCMC HCM 15.4% of cases of type II diabetes, 3.8% of patients with traumatic brain injury The majority of patients admitted to Thong Nhat Hospital are the first medical examination and treatment facility,

*Khoa Nội nhiễm BV Thống Nhất TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BSCKII Trần Thị Vân Anh ĐT: 0983782077 Email: vananh2k6@yahoo.com

Trang 2

only one treatment at the the previous medical facility The rate of patients with 4 symptoms (fever, headache, meningeal marks, cognitive disorder) is 42.3%, 96.2% of patients have 2 in 4 symptoms, fever 96.2%, headache 88.5%, meningeal marks 80.8%, 53.8% cognitive disorders, urinary retention 30.8%.

Conclusion: Clinicians may suspect patients with bacterial meningitis when the patient has 2 in 4

symptoms (fever, headache, meningeal marks, cognitive disorder) Patients with bacterial meningitis enter a lot from March to June every year, most patients have not been treated at the previous medical facility.

Key word: fever, headache, meningeal marks, cognitive disorders, bacterial meningitis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm màng não mủ (VMNM) là một bệnh

nhiễm trùng cấp tính và nghiêm trọng của hệ

thần kinh trung ương vì tỉ lệ tử vong khá cao và

di chứng nặng nề Tại Mỹ, tỷ lệ mắc VMNM

hằng năm khoảng 5-10 ca trên 100.000 dân(10,11)

Theo công trình nghiên cứu tại khoa Nhiệt đới

Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2010 và năm 2014, số

lượng nhập viện trung bình một năm khoảng

140 trường hợp VMNM ở người lớn, tỷ lệ tử

vong trong nghiên cứu năm 2010 là 5,4%(12) và

năm 2014 là 2,7%(6) Trên lâm sàng VMNM được

chẩn đoán dựa vào các triệu cứng cổ điển như

sốt cao, đau đầu, cổ cứng, thay đổi tri giác(1)

Hiện nay do sự thay đổi về yếu tố dịch tễ, sử

dụng kháng sinh, kháng viêm, giảm đau nên

bệnh cảnh lâm sàng thay đổi ít nhiều kiến việc

chẩn đoán bệnh và tác nhân gây bệnh trở nên

khó khăn Nghiên cứu của tác giả Van de Beek

Dierik(9) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có đủ 4 triệu

chứng (sốt, đau đầu, dấu màng nảo, cổ gượng)

là 44%, nghiên cứu của tác giả Võ Văn Hận(12)

cho kết quả tỷ lệ bệnh nhân có đủ 4 triệu chứng

là 46,2%, nghiên cứu của tác giả Lê Thanh Điền(6)

cho kết quả tỷ lệ bệnh nhân có đủ 4 triệu chứng

là 48,2% Chúng tôi thực hiện nghiên cứu để tìm

hiểu về sự thay đổi của các đặc điểm dịch tễ và

triệu chứng lâm của bệnh nhân viêm màng não

mủ điều trị tại bệnh viện Thống Nhất giúp chẩn

đoán sớm và sử dụng kháng sinh phù hợp kịp

thời, từ đó làm giảm di chứng và tỉ lệ tử vong

hơn nữa

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hồi cứu hàng loạt các trường hợp

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân VMNM điều trị tại BV Thống Nhất từ 2014 – 2018

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán VMNM dựa vào kết quả DNT

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 12 năm 2018

Xử lý số liệu

Số liệu thu thập được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0 Các biến số tính theo

tỷ lệ phần trăm

KẾT QUẢ

Từ tháng 01/ 2014 đến tháng 12/ 2018 tại Khoa Nội Nhiễm BVTN đã ghi nhận được 26 trường hợp viêm màng não mủ, có đặc điểm cơ bản sau:

Đặc điểm dịch tễ

Số lượng bệnh nhân viêm màng não mủ nhập và điều trị tại BV Thống Nhất năm 2017 và

2018 tăng hơn nhiều so với 3 năm trước Tháng nhập viện nhiều nhất là tháng 3 đến tháng 6 Tuổi trung bình 51 ± 16,65, tuổi nhỏ nhất là

20 tuổi, tuổi lớn nhất là 79 tuổi Bệnh nhân trên

50 tuổi chiếm 61,5% Bệnh nhân lao động tay chân chiếm tỉ lệ cao nhất 80,8% Đa số (84,6%)

bệnh nhân sống tại TP Hồ Chí Minh (Bảng 1)

Bảng 1 Đặc điểm dân số - xã hội (n=26)

Tuổi

15-50 Trên 50

<21 21-60

>60

10

16

1

17

8

38,5 61,5 3,8 65,4 30,8

Trang 3

Đặc tính khi nhập viện Tần số Tỷ lệ %

Tỉnh

22

4

84, 6

15, 4 Nghề nghiệp

Lao động tay chân

Trí thức Hưu trí

21

2

3

80, 8

7, 7

11, 1 Tháng nhập

viện

Tháng 3-6 Tháng 7-1

3-5 1-3

11,5-19,2 3,8-11, 5

Năm nhập

viện

100% bệnh nhân không chích ngừa

Về yếu tố nguy cơ: 21 (80,8%) không có yếu

tố nguy cơ, 4 trường hợp ĐTĐ (15,4%), 1 trường

hợp (3, 8%) chấn thương sọ não

Đặc điểm lâm sàng

Dấu hiệu lâm sàng trước khi nhập viện

96,2% bệnh nhân sốt Chỉ có 1 trường hợp

(3,8%) chuyển từ bệnh viện tỉnh lên, đã được

chẩn đoán viêm màng não mủ và đã điều trị

Ceftriaxone 4g/ngày*6 ngày, Vancomycin 0,5g*3

lần/ngày*5ngày, Dexamethasone 4 mg 4

ống*2lần*4 ngày (Bảng 2)

Trung vị của ngày nhập viện: 2, 5 ngày (1-10 ngày)

Bảng 2 Các dấu hiệu lâm sàng khi nhập viện (n=26)

Có đủ 4 triệu chứng (sốt, đau đầu, cổ

Có 2 trong 4 triệu chứng (sốt, đau đầu,

cổ cứng, rối loạn tri giác) 25 96.2

Đặc điểm cận lâm sàng

Công thức máu

76,9% trường hợp bạch cầu máu tăng

>12.000x106/l, số lượng bạch cầu máu trung bình 15.500 x 106/l (6300x106/l – 25900 x 106/l) BCĐNTT chiếm ưu thế trong 84,6% trường hợp, BCĐNTT trung bình là 81,6% (56,5%-93,1%) 13% trường hợp tiểu cầu máu giảm

<100.000x106/l, số lượng tiểu cầu máu trung bình 200.000 x 106/l (24.000 x 106/l – 370.000 x 106/l)

(Bảng 3)

Bảng 3 Đặc điểm công thức máu

Bạch cầu DNT (x 106):

< 4000

4000 – 12000

> 12000

0

6

20

0 23,1 76,9 Bạch cầu ĐNTT (%):

< 75

≥ 75

4

22

15,4 84,6 Tiểu cầu (x106/l) (n=23):

< 100.000

≥ 100.000

3

20

13

87

Sinh hóa máu Bảng 4 Đặc điểm sinh hóa máu (n=26)

Natri (mmol/l):

< 135

≥ 135

6

20

23

87 Kali (mmol/l):

< 3,5

≥ 3,5

7

19

27

83 Đường(mg%) (n=24):

< 80

80 – 110

˃ 110

1

8

15

4,2 30,8 62,5 Creatinin (µmol/l) (n=25):

< 120 ≥ 120

22

3

88

12

Có 23% bệnh nhân giảm Natri máu < 135 mmol/l, 27% bệnh nhân hạ Kali máu <3,5 mmol/l Có 15 bệnh nhân (62,5%) có đường huyết cao > 110mg%, trong đó có 15 bệnh nhân (26,7%) có tiền sử ĐTĐ type II Giá trị trung bình của đường huyết là 154,8 mg% (63 – 444,6 mg%)

4 bệnh nhân (12%) có creatinin ≥120 µmol/l, giá trị trung bình của creatinin là 90,8 µmol/l (50 –

135 µmol/l) (Bảng 4)

Dịch não tủy

30,8% trường hợp DNT có màu sắc đục và 7,7% trường hợp áp lực DNT tăng 73,1% trường

Trang 4

hợp đạm DNT tăng > 1 g/l, đạm trung bình là 2,5

mg% (0,3 – 18,3 mg%) 76,9% trường hợp có trị

đường DNT/đường máu cùng lúc chọc dò < ½,

34,6% trường hợp đường máu giảm < 40 mg%

(Bảng 5)

Bảng 5 Đặc điểm màu sắc, áp lực và sinh hóa DNT

(n=26)

Màu sắc: Đục

Ánh vàng

Trong

Hồng

8

5

9

3

30,8 19,2 34,6 11,5

Đạm (g/l): < 0,45

0,45 – 1,0

> 1,0

3

4

19

11,5 15,4 73,1 Đường DNT(mg%):

< 40

≥ 40

9

17

34,6 65,4 Đường DNT/ đường máu:

< 50%

≥ 50%

20

6

76,9 23,1

Bảng 6 Đặc điểm tế bào DNT (n=26)

Bạch cầu DNT (x 106):

< 100

100 – 1000

> 1000

8

10

8

30,8 38,5 30,8 Bạch cầu ĐNTT (%)

≤ 50

> 50

6

20

23,1 76,9

Tổng số lượng bạch cầu DNT trung bình là

6243/ µL (12-103000/ µL), có 2 trường hợp BC

thấp 12/ µL, trong đó 1 trường hợp đã điều trị

Rocephin và Vancomycin tại tuyến trước và 1

trường hợp DNT được chọc dò 1 tháng sau khi

nhập viện, đã sử dụng Meropenem 3 g/ ngày x 7

ngày Tỉ lệ BCĐNTT trung bình là 61% (0-95%),

76,9% bệnh nhân có BCĐNTT ≥ 50% (Bảng 6)

Vi sinh: Kết quả cấy DNT dương tính thấp,

có 7 trường hợp cho kết quả dương tính chiếm

tỉ lệ 26,9% Trong đó 4 trường hợp

Streptococcus suis (57,1%), 1 trường hợp

Streptococcus mitis (14,3%), 1 trường hợp

Staphylococcus aureus (14,3%), 1 trường hợp

Klebsiella pneumoniae (14,3%)

Kết quả cấy máu (+) 20% (4/20), toàn bộ 4

trường hợp là Streptococcus sius

BÀN LUẬN

Đặc điểm dịch tễ và yếu tố cơ địa

Tuổi trung bình trong nghiên cứu 51 ± 16,6 tuổi, nhỏ nhất là 17 tuổi, lớn nhất là 79 tuổi Tuổi trung bình cao hơn so với tác giả Võ Văn Hận năm 2010(12), tác giả Lê Thanh Điền năm 2014(6) Bệnh viện Thống Nhất là bệnh viện chuyên khoa Lão khoa nên có lẽ tuổi trung bình của bệnh nhân cao hơn so với hai tác giả thực hiện nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy Tuy nhiên bệnh nhân trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ cao tương tự như các nghiên cứu 65,4%, có thể trong quá trình lao động dễ bị mắc bệnh hơn

Nam giới chiếm tỉ lệ cao hơn (57,7% so với 42,3%), đặc biệt trong nhóm tuổi lao động (21-60 tuổi), nam chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn (nam/ nữ = 70,6%/ 29,4% = 2,4 lần) Tuy tỉ lệ nam/ nữ của những nghiên cứu có khác nhau nhưng đa số các nghiên cứu cũng đều cho kết quả nam cao hơn nữ: Tác giả Lê Thanh Điền(6) năm 2014 kết quả nam/ nữ là 1,49/1; Tác giả Võ Văn Hận(12)

năm 2014 kết quả nam/ nữ là 2,2/1; Tác giả B Ahmad(8) và tác giả Diedirik Van de Beck(10) thì cho kết quả nam/ nữ là 3/1

Có ¾ bệnh nhân sống tại thành phố Hồ Chí Minh, ¼ còn lại rải rác ở các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ, kết quả này ngược với các nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy của tác giả

Võ văn Hận năm 2010(12) và Lê Thanh Điền năm

2014(6) Sự khác biệt có thể do bệnh viện Chợ Rẫy

là bệnh viện tuyến cuối, khi bệnh nhân ở tỉnh thường chuyển viện lên bệnh viện Chợ Rẫy Tương tự như y văn(4) và kết quả nghiên cứu của hai tác giả nghiên cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy(6,12) viêm màng não mủ chủ yếu xảy ra trên bệnh nhân lao động tay chân (80,8%)

Nhiều kết quả nghiên cứu(2,3,6,12) đều nhận thấy trên đối tượng người lớn các yếu tố nguy cơ

là ĐTĐ type II, nghiện rượu, bệnh thận giai đoạn cuối, u ác tính Có thể do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ nên kết quả về yếu tố nguy cơ có những khác biệt so với những nghiên cứu trên, trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận khoảng

Trang 5

1/6 bệnh nhân ĐTĐ type II, 3,8% bệnh nhân chấn

thương sọ não, không ghi nhận các yếu tố nguy

cơ khác

Đặc điểm lâm sàng

Khác với các nghiên cứu thực hiện ở bệnh

viện Chợ Rẫy và bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới(2,6,7,12)

nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 1 trường hợp

(3,8%) chuyển từ bệnh viện tỉnh lên, đã được

chẩn đoán viêm màng não mủ và đã điều trị

Ceftriaxone 4g/ ngày * 6 ngày, Vancomycin 0,5g

* 3 lần/ ngày * 5 ngày, Dexamethasone 4mg 4

ống* 2 lần * 4 ngày

Bệnh nhân nhập viện khá sớm (2,5 ngày),

chứng tỏ mức độ cấp tính rầm rộ của bệnh, đòi

hỏi bệnh nhân phải nhập viện

Tương tự với 2 nghiên cứu thực hiện ở

BVBNĐ(2,7) nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ sốt

thường gặp nhất (96,2%), sau đó đến đau đầu

(88,5%), dấu màng não ( khoảng 80,8%) thường

gặp thứ ba là rối loạn tri giác (53,8%); 30, 8%

bệnh nhân có triệu chứng bí tiểu, nôn 19,2%, táo bón 19,5%

Tỷ lệ có đầy đủ 4 triệu chứng sốt, đau đầu, rối loạn tri giác và dấu màng não chỉ có 42,3%,

có 2 trong 4 triệu chứng chiếm tỷ lệ 96,2% Một nghiên cứu ở Hà Lan(9) và hai nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy(6,12) cho kết quả tương tự lần lượt là 44%  48,2% và 93,2% 96,4% Điều này giúp các bác sỹ lâm sàng có thể chẩn đoán VMNM khi bệnh nhân không đầy đủ cả

4 triệu chứng (Bảng 7)

Đặc điểm cận lâm sàng

Đặc điểm công thức máu và sinh hóa máu

Gần bằng với kết quả các nghiên cứu thực hiện tại BV Chợ Rẫy(6,12), số lượng BC tăng

>12.000 x 106/l chiếm tỉ lệ khoảng ¾, BCĐNTT chiếm ưu thế có tỉ lệ khá cao tương tự như kết quả nghiên cứu của các tác giả Võ văn Hận(12),Lê Thanh Điền(6) Điều này phù hợp với những ghi nhận trong y văn(4) (Bảng 8)

Bảng 7: So sánh triệu chứng lâm sàng VMNM trong một số nghiên cứu

(n=26)

Lê Thanh Điền (n=112) (6)

Võ văn Hận (n=74) (12)

Dierik V.B (n=696) (9)

Có 2 trong 4 triệu chứng (sốt, đau đầu, cổ cứng, rối loạn tri giác) 96,2 96,4 93,2 95

Bảng 8: So sánh đặc điểm công thức máu và sinh hóa máu ở bệnh nhân VMNM trong một số nghiên cứu

Trang 6

Không giống 2 nghiên cứu tại BV Chợ

Rẫy(6,12), mặc dù có số lượng bệnh nhân có bệnh

ĐTĐ type II cao hơn nhưng đường máu tăng cao

trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỉ lệ cao

hơn hẳn Vì số lượng bệnh nhân nghiên cứu thu

nhận được còn ít, và là nghiên cứu hồi cứu nên

vấn đề này chưa được khảo sát kỹ lưỡng đủ để

tìm ra được nguyên nhân của sự khác biệt này

Ngoài ra sự thay đổi các đặc điểm sinh hóa khác

cũng tương tự với nghiên cứu thực hiện tại BV

Chợ Rẫy và BV Bệnh Nhiệt Đới(3,6,12)

Đặc điểm dịch não tủy

2/3 số bệnh nhân tăng BC trong DNT

>100x106/l, khoảng 1/3 bệnh nhân có số lượng

BC/DNT >1000x106/l, 3/4 bệnh nhân có BCĐNTT

ưu thế Điều này phù hợp với y văn và một số

nghiên cứu khác(4,6,12)

Màu DNT đục ghi nhận khá thấp trong

nghiên cứu của chúng tôi (30,8%) so với các tác

giả khác(3,6,12), có thể do đánh giá chủ quan của

các bác sỹ không kinh nghiệm bằng các bác sỹ tại

các bệnh viện có số lượng bệnh nhân viêm màng

não mủ lớn hơn

88,5% bệnh nhân tăng đạm/DNT, trong đó

73,1% bệnh nhân tăng > 1g/l, tương tự như kết

quả nghiên cứu của hai tác giả thực hiện tại BV

Chợ Rẫy(6,12)

Trị số đường/DNT giảm < 40 mg% trong

nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỉ lệ thấp hơn

các nghiên cứu thực hiện tại BV Chợ Rẫy, có thể

do trị số đường trong máu của bệnh nhân trong

nghiên cứu của chúng tôi cao hơn (như trong

phần trình bày ở trên) Tuy nhiên tỉ lệ giữa

đường trong DNT/đường máu < 50% trong

nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỉ lệ cao tương

tự như các nghiên cứu thực hiện tại BV Chợ Rẫy

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ bệnh

nhân chưa điều trị ở tuyến trước chiếm tỉ lệ cao

(96,2%) nên tỉ lệ cấy DNT (+) (26,7%) cao hơn so

với kết quả nghiên cứu tại BV Chợ Rẫy, nơi có tỉ

lệ cao bệnh nhân đã điều trị ở tuyến trước Mặc

dù kết quả cấy DNT (+) chỉ khỏang ¼ các trường

hợp nhưng cũng cho thấy tỉ lệ cao của

Streptoccuss suis, phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Hương Thảo(7).

KẾT LUẬN

Số lượng bệnh nhân VMNM điều trị tại BV Thống Nhất tương đối ít, trong vòng 5 năm chúng tôi ghi nhận 26 trường hợp, có những đặc điểm sau:

Bệnh VMNM nhập viện rải rác quanh năm nhưng thường gặp từ tháng 3 đến tháng 6, đa

số là lao động tay chân và sống tại TP HCM Yếu tố nguy cơ chiếm tỉ lệ ít, chỉ có 15,4% trường hợp ĐTĐ type II, 3,8% bệnh nhân chấn thương sọ não

Đa số bệnh nhân nhập bệnh viện Thống Nhất là cơ sở khám chữa bệnh đầu tiên, chỉ một trường hợp điều trị ở tuyến trước

Tỷ lệ có đầy đủ 4 triệu chứng sốt, đau đầu, rối loạn tri giác và dấu màng nãolà 42,3%, có 2 trong 4 triệu chứng chiếm tỷ lệ 96,2% Sốt 96,2%, đau đầu 88,5%, dấu màng não 80,8%, rối loạn tri giác 53,8%, bí tiểu 30,8%

Bác sỹ lâm sàng có thể nghi ngờ chẩn đoán VMNM khi bệnh nhân có 2 trong 4 triệu chứng sốt, đau đầu, dấu màng não và rối loạn tri giác 76,9% trường hợp bạch cầu máu tăng >12.000

x 106/l, số lượng bạch cầu máu trung bình 15.500

x 106/l (6300x106/l – 25900 x 106/l) BCĐNTT chiếm ưu thế trong 84,6% trường hợp, BCĐNTT trung bình là 81,6% (56,5% - 93,1%)

Có 23% bệnh nhân giảm Natri máu < 135 mmol/l, 15 bệnh nhân (62,5%) có đường huyết cao > 110mg%

30,8% trường hợp DNT có màu sắc đục Tổng số lượng bạch cầu DNT trung bình là 6243/µL (12-103000/µL), Tỉ lệ BCĐNTT trung bình là 61% (0-95%), 76,9% bệnh nhân có BCĐNTT ≥ 50%

Đạm/ DNT tăng chiếm tỉ lệ cao nhất 88,5%, tỉ

lệ giữa đường trong DNT/ đường máu < 50% chiếm tỉ lệ 76,9%

Cấy DNT (+) 26,7%, 57,1% là Streptococcus suis Cấy máu (+) 20%

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bamberger M (2010) "Diagnosis, initial management, and

prevention of meningitis" Am Fam Physician, 82(12):1491-8

2 Bhimraj A (2012) "Acute community-acquired bacterial

meningitis in adults: an evidence-based review" Cleve Clin J

Med, 79(6):393-400

3 Châu Đỗ Tường Vi (2016) "Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm

sàng và điều trị viêm màng não mủ do Streptococcus pneumoniae

tại bệnh viện Bệnh nhiệt đới từ 2009-2015" Luận văn thạc sỹ y

khoa, Trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh

4 Đông thị Hoài Tâm (2006) Viêm màng não mủ, In: Nguyễn

Trần Chính Bệnh truyền nhiễm Nhà xuất bản Y học chi nhánh

Thành phố Hồ Chí Minh, pp.183-199

5 Lai WA, Chen SF, Tsai NW, et al (2011) "Clinical characteristics

and prognosis of acute bacterial meningitis in elderly patients

over 65: a hospital-based study" BMC Geriatr, 11:91

6 Lê Thanh Điền (2014)."Nghiên cứu hiện trạng bệnh viêm màng

não mủ tại khoa nhiệt đới bệnh viện Chợ Rẫy" Luận văn chuyên

khoa 2, Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

7 Nguyễn Ngọc Hương Thảo (2013)."Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng

ở bệnh nhân viêm màng não do Streptococcus suis điều trị tại

bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM" Y học TP Hồ Chí Minh,

17(1):260-264

8 Rabbani MA, Khan AA, Ali SS, Ahmad B, Baig SM, et al (2003)

"Spectrum of complications and mortality of bacterial

meningitis: an experience from a developing country" J Pak Med Assoc,53(12):580-3

9 Van de Beck D, de Gans J, et al (2004) Clinical feature and

prognostic factors in adults with bacterial meningitis, N Eng J Medicine, 351(18):1849-1859

10 van de Beek D, de Gans J, Tunkel AR, et al (2006)

"Community-Acquired Bacterial Meningitis in Adults" New England Journal of Medicine, 354(1):44-53

11 van de Beek D, Schmand B, de Gans J, et al (2002) "Cognitive Impairment in Adults with Good Recovery after Bacterial

Meningitis" Journal of Infectious Diseases, 186(7):1047-1052

12 Võ văn Hận (2010) "Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và các

yếu tố nguy cơ viêm màng não mủ ở người lớn" Luận văn Chuyên khoa II, Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 02/07/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 00:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w