1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tính an toàn của phẫu thuật STARR và phục hồi bản nâng trong điều trị sa trực tràng kiểu túi

8 248 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 309,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sa trực tràng kiểu túi là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng tống phân tắc nghẽn. Sa trực tràng kiểu túi là bệnh lý lành tính xảy ra hầu như ở phụ nữ đặc biệt là phụ nữ sanh đẻ nhiều qua ngả âm đạo. STARR là một phẫu thuật được lựa chọn để điều trị sa trực tràng kiểu túi.

Trang 1

TÍNH AN TOÀN CỦA PHẪU THUẬT STARR VÀ PHỤC HỒI BẢN NÂNG

TRONG ĐIỀU TRỊ SA TRỰC TRÀNG KIỂU TÚI

Nguyễn Trung Tín*, Lê Châu Hoàng Quốc Chương * , Võ Thị Mỹ Ngọc *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Sa trực tràng kiểu túi là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng tống phân tắc

nghẽn Sa trực tràng kiểu túi là bệnh lý lành tính xảy ra hầu như ở phụ nữ đặc biệt là phụ nữ sanh đẻ nhiều qua ngả âm đạo STARR là một phẫu thuật được lựa chọn để điều trị sa trực tràng kiểu túi

Mục tiêu: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Tính an toàn của phẫu thuật STARR và phục hồi bản nâng

trong điều trị sa trực tràng kiểu túi” với các mục tiêu xác định hiệu quả bước đầu và tính an toàn của phẫu thuật STARR

Kết quả: Trong khoảng thời gian từ tháng 8-2011 đến tháng 3-2015, tại bệnh viện Đại Học Y Dược Thành

Phố Hồ Chí Minh có 78 bệnh nhân nữ đã được điều trị bệnh lý sa trực tràng kiểu túi bằng phẫu thuật STARR

có hoặc không có kèm theo khâu bản nâng (KBN) để điều trị sa sàn chậu phối hợp Tuổi trung bình của bệnh nhân là 44,4 + 12,0 (26 đến 76) Thời gian bị táo bón trước điều trị trung bình là 6,4 ± 6,3 năm Tỷ lệ hết đại tiện khó 88,4% Tỷ lệ đau nhiều ngày đầu sau mổ là 20,6%, bí tiểu sau mổ là 14,3% và chảy máu sau mổ là 2,5%

Kết luận: Phẫu thuật STARR trong điều trị sa trực tràng kiểu túi có hay không có khâu phục hồi bản nâng

là một phẫu thuật tương đối hiệu quả và an toàn

Từ khóa: Táo bón, Sa trực tràng kiểu túi, Hội chứng tắc nghẽn đường ra, Phẫu thuật STARR

ABSTRACT

THE SAFETY OF STARR PROCEDURE AND LEVATORPLASTY FOR TREATMENT OF

RECTOCELE

Nguyen Trung Tin, Le Chau Hoang Quoc Chuong, Vo Thi My Ngoc

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 148 - 155

Backgrounds: Rectocele is the most common cause of obstructed defecation syndrom Almost patients are

female especially multiparity The STARR is the one of the treatments for rectocele

Objective: To determine the safety of of STARR and levator plasty for treatment of rectocele

Methodology: The clinical interventional study with self-control group was designed for this series

Results: 78 female patients were performed the stapled transanal rectal resection for treatment of

constipation due to rectocele with or without levatoplasty from August 2011 to Mars 2015 The mean age of patients was 44.4 + 12.0 ys and duration of constipation was 6.4±6.3 ys The success rate of procedure was 88.4% The severe acute proctalgia of first post-operative day was 20,6%, urinary retention was 14.3% of patients and post-operative bleeding 2.5%

Conclusion: The stapled transanal rectal resection with or without levatoplasty was the relatively effective and safety procedure

Key words: Constipation, Rectocele, Obstructed Defecation Syndrom, STARR procedure, Complication

* Khoa Hậu môn Trực tràng, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Táo bón là triệu chứng thường gặp trong

dân số nói chung và trong thực hành y khoa, táo

bón chiếm 2-34% trong dân số(11) Táo bón gặp ở

nữ nhiều hơn nam giới từ 2,2 đến 3 lần và hầu

hết các nghiên cứu cho thấy triệu chứng gia

tăng sau 65 tuổi(7,16) Trong khảo sát ở 10.018

người của Stewart và cộng sự(17) táo bón chiếm

14,7% trong đó 4,6% là táo bón chức năng, 2,1%

hội chứng ruột kích thích, 4,6% hội chứng tống

phân tắc nghẽn và 3,4% là kết hợp giữa hội

chứng tống phân tắc nghẽn và hội chứng ruột

kích thích Sa trực tràng kiểu túi là một trong

những nguyên nhân gây ra hội chứng tống

phân tắc nghẽn Sa trực tràng kiểu túi là bệnh lý

lành tính xảy ra hầu như ở phụ nữ đặc biệt là

phụ nữ sinh đẻ nhiều qua ngã âm đạo(5,12)

Năm 2004, Bác sĩ Antonio Longo công bố

phương pháp phẫu thuật STARR (Stapled

Transanal Rectal Resection) trong điều trị hội

chứng tống phân tắc nghẽn do bệnh lý sa trực

tràng kiểu túi và lồng trực tràng hậu môn(8)

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Kết quả bước

đầu của phẫu thuật STARR và phục hồi bản

nâng trong điều trị sa trực tràng kiểu túi” tại

Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM với các mục

tiêu xác định hiệu quả bước đầu và tính an toàn

của phẫu thuật STARR

ĐỐI TƯỢNG -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tất cả bệnh nhân nữ trên 18 tuổi điều trị

sa trực tràng kiểu túi bằng phẫu thuật

STARR, được chọn vào nhóm nghiên cứu với

các tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại

trừ dưới đây:

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Chẩn đoán lâm sàng phát hiện túi sa trực

tràng có triệu chứng (táo bón, đại tiện cảm

giác không hết phân, cảm giác bị tắc nghẽn ở

vùng hậu môn trực tràng, khi đại tiện bệnh

nhân thường dùng tay nâng đáy chậu hoặc ấn

vào thành sau âm đạo để đại tiện dễ hơn và

hết phân, ngoài ra còn có các triệu chứng

khác như cảm giác căng ở trực tràng, đau lưng, giao hợp đau)

Chẩn đoán có sa trực tràng kiểu túi có kích thước túi sa độ II, độ III theo Yang và cộng sự(13,20) trên hình ảnh chụp X quang trực tràng hoạt động hoặc chụp cộng hưởng từ động trực tràng

Tiêu chuẩn loại trừ

Túi sa trực tràng thấp, Sa trực tràng toàn thành, Sa ruột non trong thì nghỉ, Nhiễm trùng đáy chậu, Rò trực tràng âm đạo, Rò hậu môn,

Áp xe quanh hậu môn, Són hơi hoặc són phân, Hẹp hậu môn không đưa được dụng cụ nong hậu môn có đường kính 33 mm, Bệnh nhân đã được phẫu thuật đặt mảnh ghép trực tràng, Bệnh nhân mắc bệnh ung thư hoăc có u vùng chậu, Bệnh nhân thiếu máu Hct < 25%, Bệnh nhân có rối loạn đông máu

Phương pháp tiến hành

Gây tê tủy sống hoặc gây mê toàn thân Nằm ngửa tư thế phụ khoa

Kỹ thuật mổ STARR

Bước 1: Bộc lộ túi sa trực tràng

Bước 2: Cắt túi sa thành trước trực tràng bằng máy khâu bấm

Bước 3: Cắt túi sa thành sau trực tràng bằng máy khâu bấm

Bước 4: Kết thúc phẫu thuật và khâu tăng cường toàn bộ đường khâu bấm bằng các mũi chữ U vicryl 00

Kỹ thuật mổ khâu bản nâng

Chỉ định khi có sa sàn chậu độ II, III kèm theo (theo phân độ Barbaric)

Thì 1: rạch da theo rãnh giữa hai mông, đường mổ dài 4 cm bắt đầu sau rìa hậu môn 1

cm cho đến xương cụt, không cắt cơ thắt

Thì 2: bộc lộ và cắt ngang dây chằng hậu môn cụt

Thì 3: bộc lộ cơ nâng hậu môn, cơ nâng có thể còn nguyên và sa nhão hay toác rộng, tránh làm tổn thương trực tràng

Trang 3

Thì 4: khâu bản nâng bằng chỉ Vicryl 0, từ

trên mỏm xương cụt 1 cm cho đến cơ thắt hậu

môn, kiểm soát bằng đầu ngón tay đặt trong

ống hậu môn trực tràng

Thì 5: khâu vết mổ từng lớp, khâu dây

chằng hậu môn cụt, mở dưới da và da

Chăm sóc và theo dõi sau mổ

Theo dõi các biến chứng sớm gồm: chảy

máu, bí tiểu, đau, nhiễm trùng vết mổ 7 ngày

đầu sau mổ

Kháng sinh điều trị đường tĩnh mạch

Cefotaxim 1 gram x 2 lần / ngày, Metronidazol

0,5 gram x 2 lần / ngày trong 2 ngày

Nhịn ăn đường miệng 2 ngày đầu sau mổ

(nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch), ngày thứ 3 sau

mổ bệnh nhân được xuất viện, ăn trở lại thức ăn

lỏng và đặc dần ở những ngày sau đó

Theo dõi sau xuất viện: Vào tháng thứ 1,

tháng thứ 3 sau mổ khi bệnh nhân đến tái

khám, nếu bệnh nhân không đến tái khám thì

thăm hỏi qua điện thoại hoặc thư

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian từ tháng 8-2011 đến

tháng 3-2015, tại Bệnh viện Đại học Y Dược

TP.HCM có 78 bệnh nhân nữ đã được điều trị

bệnh lý sa trực tràng kiểu túi bằng phẫu thuật

STARR có hoặc không có kèm theo khâu bản

nâng (KBN) để điều trị sa sàn chậu phối hợp

Chỉ có 87,2% bệnh nhân (68/78) đồng ý chụp

cộng hưởng từ trực tràng hoạt động sau mổ khi

chúng tôi mời tái khám để đánh giá kết quả,

6,4% bệnh nhân (5/78) trả lời phỏng vấn qua

điện thoại, 6,4% bệnh nhân (5/78) không liên lạc

được

Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi trung bình của bệnh nhân là 46,9 + 11,8

tuổi (26 đến 83) Thời gian bị táo bón trước điều

trị trung bình là 6,4 ± 6,3 năm, thấp nhất là 1

năm và cao nhất là 35 năm Số lần sanh trung

bình là 2,6 ± 1,7, thấp nhất là chưa sanh lần nào

chiếm 11,4% (9/78) và sinh từ 5 lần trở lên chiếm

14,3% (11/78)

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước

mổ

Triệu chứng trước mổ

Trước mổ tất cả bệnh nhân đều có triệu chứng đại tiện khó, ít hơn là các triệu chứng căng hậu môn trực tràng chiếm 53,8% (42/78) và giao hợp đau là 37,2% (29/78), triệu chứng đau lưng và khối phồng ở âm đạo ít gặp, mỗi triệu chứng chỉ chiếm 16,7% (13/78)

Chẩn đoán sa trực tràng kiểu túi theo Yang trước mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ trực tràng hoạt động

Kích thước túi sa trực tràng trước mổ trung bình là 3,2 ± 0,5 cm, nhỏ nhất là 2,2 và lớn nhất

là 4,7 (n = 78) Cổ túi sa trước mổ trung bình là 3,1 ± 0,6 cm, dao động từ 2,2 đến 4,1 cm

Chẩn đoán sa tạng chậu kèm theo trước

mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ trực tràng hoạt động

Bảng 1 Phân bố bệnh nhân theo chẩn đoán sa tạng

chậu trước mổ

Sa tạng chậu kèm theo trước mổ Chung (n=78)

Tần suất %

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng sau mổ

Điểm và triệu chứng theo thang điểm 5 tiêu chí sau mổ

Bảng 2 Điểm triệu chứng theo thang điểm 5 tiêu chí

trước và sau mổ

Triệu chứng Điểm trung

bình trước mổ

Điểm trung bình sau mổ P

Đại tiện không hết

Dùng thuốc nhuận

Dùng tay ấn âm đạo

Chẩn đoán sa trực tràng kiểu túi theo Yang sau mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ trực tràng hoạt động

Trang 4

Sau mổ túi sa trực tràng có kích thước trung

bình là 1,3 ± 1,0 cm, lớn nhất là 2,9 cm Cổ túi sa

trực tràng sau mổ trung bình là 1,2 ± 1,6 cm, cổ

túi sa trực tràng lớn nhất là 4,7 cm

Chẩn đoán sa sàn chậu và lồng trực tràng kèm

theo sau mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ

trực tràng hoạt động

Sa sàn chậu chậu sau mổ còn 48,5% (33/68),

lồng trực tràng hậu môn (0%) Trong nhóm

STARR: sa sàn chậu là 54,7% (23/42) Trong

nhóm STARR + khâu bản nâng: sa sàn chậu là

38,5% (10/26)

Bảng 3 Phân bố bệnh nhân theo chẩn đoán sa tạng

chậu sau mổ

Sa tạng chậu kèm theo sau mổ (n=28) Tần suất %

Cải thiện sau mổ so với trước mổ chung là:

sa sàn chậu giảm 33,3% (p = 0,35), lồng trực

tràng hậu môn giảm 100% (p = 0,00)

Cải thiện sau mổ so với trước mổ chung là:

sa sàn chậu giảm 19,4% (p = 0,017), lồng trực

tràng hậu môn giảm 100% (p = 0,001)

Cải thiện sau mổ so với trước mổ trong

nhóm STARR là: sa sàn chậu giảm 7,0% (p =

0,51), lồng trực tràng hậu môn giảm 100% (p =

0,001)

Trong nhóm STARR + khâu bản nâng sa

tạng chậu sau mổ cải thiện so với trước mổ là: sa

sàn chậu giảm 39,9% (p = 0,003), lồng trực tràng

hậu môn giảm 100,0% (p = 0,001)

Kết quả phẫu thuật

Thời gian thực hiện phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật trung bình chung là

61,5 ± 16,3 (40 đến 95) phút Thời gian trung

bình phẫu thuật STARR là 53,3 ± 1,2 (40 đến 80)

phút và STARR + khâu bản nâng là 73,9 ± 1,3 (55

đến 95) phút (P=0,000)

Đau và biến chứng sau mổ

Đau

Chung cho cả 2 nhóm phẫu thuật, đau ngày

1 cao nhất là đau vừa 48,7% (38/73), từ ngày 2

đến ngày 3 đa số bệnh nhân đau ít từ 67,9% (53/78) đến 78,1% (57/73), chỉ có 14,1% (11/78) bệnh nhân phải dùng Morphin và 11,5% (9/78) dùng thêm thuốc giảm đau khác để điều trị đau sau mổ

Trong nhóm phẫu thuật STARR, đau ngày 1 cao nhất là đau vừa chiếm 47,6% (10/21), từ ngày 2 đến ngày 3 đa số bệnh nhân đau ít từ 71,4% (15/21) đến 84,2% (16/19) Trong nhóm phẫu thuật STARR + khâu bản nâng, đau ngày 1 cao nhất là đau vừa chiếm 50,0% (7/14), từ ngày

2 đến ngày 3 đa số bệnh nhân đau ít từ 64,3% (9/14) đến 69,2% (9/13)

Trong nhóm phẫu thuật STARR, đau ngày 1 cao nhất là đau vừa chiếm 46,8% (22/47), từ ngày 2 đến ngày 3 đa số bệnh nhân đau ít từ 72,3% (34/47) đến 84,4% (38/47)

Trong nhóm phẫu thuật STARR + khâu bản nâng, đau ngày 1 cao nhất là đau vừa chiếm 48,4% (15/31), từ ngày 2 đến ngày 3 đa số bệnh nhân đau ít từ 64,5% (20/31) đến 67,8% (19/28)

Tỉ lệ các biến chứng

Bí tiểu sau mổ chung là 14,3% (5/35), trong nhóm STARR là 9,5% (2/21) và trong nhóm STARR + khâu bản nâng là 21,4% (3/14) Không

có biến chứng chảy máu sau mổ, nhiễm trùng vết mổ, hẹp hậu môn trực tràng và rò âm đạo trực tràng

Bí tiểu sau mổ chung là 14,1% (11/78), trong nhóm STARR là 8,5% (4/47) và trong nhóm STARR + khâu bản nâng là 22,6% (7/31) Chảy máu sau mổ chiếm 2,5% (2/78) Nhóm phẫu thuật STARR có 1 trường hợp chảy máu sau mổ ngày thứ 7 điều trị nội ổn định, nhóm phẫu thuật STARR và khâu bản nâng có 1 trường hợp chảy máu sau mổ trên đường khâu bấm phải khâu lại cầm máu Không có nhiễm trùng vết mổ, hẹp hậu môn trực tràng và rò âm đạo trực tràng

Trang 5

BÀN LUẬN

Kết quả phẫu thuật

Cải thiện triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng đại tiện khó và căng hậu môn

trực tràng giảm có ý nghĩa thống kê, đây là 2

triệu chứng ảnh hưởng nhiều đến công việc của

bệnh nhân và cũng là triệu chứng bệnh nhân

thường than phiền khi đến khám bệnh Các

triệu chứng còn lại tuy giảm nhiều nhưng

không có ý nghĩa thống kê

Điểm và các triệu chứng theo thang điểm 5

tiêu chí

Điểm 5 tiêu chí sau mổ trung bình là 3,8 ±

3,9 (0 đến 12), giảm trung bình 6,5 ± 4,7 Điểm

các triệu chứng sau mổ trong nghiên cứu này

gồm rặn nhiều, đại tiện không hết phân, dùng

tay ấn âm đạo / đáy chậu đều cao hơn so với

trong nghiên cứu của Hasan HM (2012)(6)

Phẫu thuật STARR là phương pháp điều trị

mới nhiều triển vọng trong điều trị hội chứng

tống phân tắc nghẽn (obstructed defecation

syndrome-ODS) Nghiên cứu Van Geluwe B và

cs (2014) nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của

phẫu thuật STARR trong điều trị ODS(19) Có 26

báo cáo được trình bày với thời gian theo dõi

trung vị 12 tháng (3-42 tháng) Tổng cộng dữ

liệu 1.298 bệnh nhân được bao gồm trong

nghiên cứu và phân tích Có 6 hệ thống tính

điểm khác nhau được sử dụng và 43 lượng giá

hiệu quả của STARR được phân tích Tất cả

nghiên cứu đều cho thấy cải thiện đáng kể trong

ODS với mức hiệu quả được chuẩn hóa kết hợp

là 3,8 (3,2-4,5, độ tin cậy 95%)(19)

Leardi S và cs(10) cho rằng phẫu thuật

STARR cũng được đề nghị là phương pháp

phẫu thuật để điều trị lồng trực tràng và sa

trực tràng kiểu túi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả

bệnh nhân có lồng trực tràng đều được điều

trị khỏi với phẫu thuật STARR

Chẩn đoán theo Yang sau mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ trực tràng hoạt động

Trong nghiên cứu của Renzi A và cộng sự (2005)(15), kích thước túi sa trực tràng sau mổ là 1,5 ± 0,7 cm

So với tác giả trên, trong nghiên cứu này có kích thước túi sa trực tràng sau mổ nhỏ hơn không đáng kể

Phân độ chẩn đoán theo Yang(13,20) sau mổ trong nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ khỏi bệnh (không có túi sa trực tràng) là 35,7% (10/28) (p

= 0,00), giảm bệnh (Yang độ I) là 39,3% (11/28) (p = 0,00)

Theo Boccasanta P (2004)(2) khỏi bệnh trong nhóm phẫu thuật STARR và STARR + khâu bản nâng là 44% và 36%, giảm bệnh là 44% và 40%

So với nghiên cứu của Boccasanta P (2004)(2), nghiên cứu này có tỉ lệ khỏi bệnh và giảm bệnh thấp hơn không nhiều

Đau và các biến chứng sau mổ

Trong nghiên cứu này chỉ xuất hiện 3 loại biến chứng sau mổ là đau, bí tiểu và chảy máu sau mổ, các biến chứng nhiễm trùng vết mổ, rò

âm đạo trực tràng, hẹp hậu môn trực tràng… chưa thấy xảy ra khi tiến hành nghiên cứu Đau sau mổ có trong toàn bộ bệnh nhân, bí tiểu sau mổ chung là 14,1% (11/78), trong nhóm STARR là 8,5% (4/47) và trong nhóm STARR + khâu bản nâng là 22,6% (7/31) Chảy máu sau

mổ là 2,5% (2/78), mỗi nhóm thực hiện phẫu thuật STARR hay phẫu thuật STARR kết hợp khâu bản nâng đều có 1 trường hợp chảy máu sau mổ

Đau sau mổ

Đau vừa sau mổ cao nhất chiếm 48,7% (38/78) xảy ra trong ngày đầu sau mổ, từ ngày 2 đến 3 chủ yếu là đau ít từ 67,9% (53/78) đến 78,1% (57/73), chỉ có 14,1% (11/78) bệnh nhân phải dùng Morphin và 11,5% (9/78) dùng thêm thuốc giảm đau khác để điều trị đau sau mổ Trong nhóm STARR trong ngày đầu sau mổ đau vừa chiếm nhiều nhất là 46,8% (22/47), từ

Trang 6

ngày 2 đến 3 đa số bệnh nhân đau ít từ 72,3%

(34/47) đến 84,4% (38/42) Trong nhóm này chỉ

có 14,9% (7/47) bệnh nhân cần sử dụng Morphin

để giảm đau sau mổ, không có bệnh nhân nào

phải dùng thêm thuốc giảm đau khác ngoài

Paracetamol, từ ngày thứ 2 trở đi không còn

bệnh nhân nào đau nhiều

Trong nghiên cứu của Arroyo và cộng sự

(2007)(1), theo dõi trong 7 ngày sau mổ đau ít

chiếm 72%, đau vừa 16,2%, đau nhiều là 10,81%

Trong nhóm STARR + khâu bản nâng ngày

đầu sau mổ đau nhiều nhất là đau vừa chiếm

48,4% (15/31), từ ngày 2 đến ngày 3 đa số bệnh

nhân đau ít từ 64,5% (20/31) đến 67,8% (19/28)

Ngoài việc dùng thuốc Morphin để điều trị

giảm đau sau mổ là 12,9% (4/31), trong nhóm

này có 29,0% (9/31) bệnh nhân phải dùng thêm

thuốc khác để điều trị đau sau mổ ngoài

Paracetamol vì đau nhiều hơn do vết thương

đáy chậu

Trong nghiên cứu của Boccasanta P

(2004)(2), nhóm phẫu thuật STARR sau mổ chỉ có

đau ít Trong nhóm STARR + khâu bản nâng

đau nhiều nhất là đau vừa (ngày 3), không có

bệnh nhân nào đau nhiều

Bí tiểu sau mổ

Bí tiểu sau mổ chung là 14,1% (11/78), trong

nhóm STARR là 8,5% (4/47) và trong nhóm

STARR + khâu bản nâng là 22,6% (7/31) Không

có nhiễm trùng vết mổ, hẹp hậu môn trực tràng

và rò âm đạo trực tràng

Trong nghiên cứu của Boccasanta P

(2004)(2), biến chứng bí tiểu theo dõi 7 ngày sau

mổ trong mỗi nhóm STARR và STARR + khâu

bản nâng đều có 8% bệnh nhân có biến chứng

này Theo Hasan HM (2012)(6) biến chứng bí tiểu

sau mổ trong 7 ngày đầu là 5%

Nghiên cứu kết quả lâu dài của phẫu thuật

STARR tác giả Köhler (2012)(9) báo cáo các biến

chứng nặng sau mổ vào khoảng 3,8%, trong đó

có một trường hợp đường khâu bấm bị hở, một

trường hợp nhiễm trùng tiểu, một trường hợp

phải đặt thông tiểu kéo dài

Chảy máu trực tràng

Biến chứng chảy máu sau mổ trong nghiên cứu của chúng tôi là 2,5% (2/78) Tỷ lệ chảy máu sau phẫu thuật STARR là 2,1% (1/47) và chảy máu sau phẫu thuật STARR và khâu bản nâng

là 3,2% (1/31)

Trong một nghiên cứu đa trung tâm, chảy máu trực tràng sau phẫu thuật STARR chiếm khoảng 11%nhưng tỉ lệ này trong nghiên cứu

sổ bộ ở các nước châu Âu 4,4%(18) Chảy máu trực tràng yêu cầu phải can thiệp lại chiếm từ 2,7 đến 11%

Hẹp hậu môn trực tràng

Hẹp hậu môn trực tràng xảy ra với tỷ lệ 3%

và 3,6% trong hai nghiên cứu Trong các nghiên cứu khác, tỷ lệ này thấp hơn khoảng 1,2% và thường có liên quan đến bục đường khâu bấm(18) Hẹp hậu môn có thể điều trị thành công bằng cách nong hậu môn

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chưa phát hiện trường hợp hẹp trực tràng

Đau hậu môn trực tràng và chậu mạn tính

Đau chậu mạn tính hay kéo dài không thay đổi sau phẫu thuật STARR chiếm tỷ lệ 20% trong vòng 1 năm Trong một nghiên cứu tiền cứu đa trung tâm hơn 1.000 bệnh nhân, các trường hợp đau mới mắc sau phẫu thuật STARR chiếm khoảng 9,5%(18) Tỷ lệ này trong một nghiên cứu hồi cứu đa trung tâm chiếm khoảng 11%

Chúng tôi cũng chưa phát hiện trường hợp nào đau chậu mạn tính hay kéo dài

Túi thừa trực tràng

Hiện chưa phát hiện biến chứng túi thừa trực tràng trong nghiên cứu này

Biến chứng này gần đây đã được nói đến(3)

và bệnh sinh cũng tương tự như biến chứng do túi sa trực tràng sau phẫu thuật cắt trĩ bằng máy khâu bấm Nó gây khó chịu tại chỗ cho bệnh nhân và có thể gây kẹt phân (entrap fecal matter) và dễ gây tống phân nghẽn tái phát Có

Trang 7

thể cắt mở rộng nếu túi nhỏ hay cắt bỏ túi thừa

qua trực tràng nếu túi lớn

Đi cầu gấp

Bệnh nhân hay than phiền đi cầu gấp và đi

cầu nhiều lần, do giảm sức chứa của trực tràng,

ngay sau phẫu thuật, nhưng các triệu chứng

này sẽ giảm dần theo thời gian Tuy nhiên, đi

cầu gấp vẫn hiện diện trong 23% các trường

hợp theo dõi trong số liệu nghiên cứu đa trung

tâm cỡ mẫu lớn và theo dõi dài hạn, trong 22%

sau thời gian 1 năm theo nghiên cứu của

Nicolas và cộng sự(14) do thể tích dung nạp tối

đa giảm đáng kể (74 thay vì 120 ml khí)

Không tự chủ phân

Chúng tôi chưa phát hiện biến chứng không

tự chủ hậu môn trong nghiên cứu này

Trong một nghiên cứu tiền cứu tỉ lệ không

tự chủ hơi chiếm từ 3-19% Són phân ít khoảng

16% bệnh nhân với điểm không tự chủ Wexner

từ 1-4(1) Trong 2 nghiên cứu, không tự chủ hơi

biến mất theo thời gian theo dõi dài hạn(1)

Rò âm đạo trực tràng

Rò âm đạo trực tràng xảy ra sau phẫu thuật

STARR chiếm 3/38 trường hợp trong một

nghiên cứu, tuy vậy trong nghiên cứu tiền cứu

đa trung tâm cho hơn 1.000 trường hợp của

Stuto và cs thì không có trường hợp nào rò âm

đạo trực tràng(18) Rò âm đạo trực tràng có thể

cần phải can thiệp lại và nguyên nhân là do

thiếu máu hoại tử hay do máu tụ trong vách âm

đạo trực tràng hơn là do sang chấn trực triếp

trong khi phẫu thuật

Thủng trực tràng và nhiễm trùng chậu

Nguy cơ của bục đường khâu bấm do phẫu

thuật STARR cao hơn phẫu thuật cắt trĩ bằng

máy khâu bấm, do phẫu thuật STARR cắt toàn

bộ thành trực tràng (rectotomies) Bục đường

khâu bấm có thể là nguyên nhân của cả rò trong

hay ngoài trực tràng cần phải cắt mở rộng(3)

KẾT LUẬN

Phẫu thuật STARR trong điều trị sa trực

tràng kiểu 2 túi là một phẫu thuật tương đối an

toàn giúp làm hết đại tiện khó 88,4% Tỷ lệ đau nhiều ngày đầu sau mổ là 20,6%, bí tiểu sau mổ

là 14,3% và chảy máu sau mổ là 2,4%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arroyo A., Perez-Vicente F, Serrano P et al (2007) Evalution

of the stapled transanal rectal resection technique with two stapled in the treatment of obstruction defecation syndrome

J Am Coll Surg, 204(1): 56-63

2 Boccasanta P., Venturi M., Salamina G., et al (2004) New trends in the surgical treatment of outlet obstruction: clinical and functional results of two novel transanal stapled techniques from a randomised controlled trial Int

J Colorectal Dis, 19(4): 359-369

3 Boffi F (2007) Rectal stricture, pocket and fistula after STARR procedure: lay-open, curettage and rectal advancement flap Tech Coloproctol, 11: 195

4 Gagliardi G, Pescatori M, Altomare DF et al (2007) Factors predicting outcome after stapled transanal rectal resection (STARR) procedure for obstructed defecation Dis Colon Rectum [epub ahead of print] PMID: 18157718

5 Harford FJ, Brubaker L (2007) Pelvic Floor Disorders The ASCRS Textbook of Colon and Rectal Surgery Springer,

687-692

6 Hasan HM (2012) Stapled transanal rectal resection for the surgical treatment of obstructed defecation syndrome associated with rectocele and rectal intussusception ISRN Surgery Volume 2012, Article ID 652345, 6 pages, doi:10.5402/2012/652345

7 Higgins PD, Johanson JF (2004) Epidemiology of constipation in North America: a systematic review Am J Gastroenterol, 99(4): 750-759

8 Kiran RP, Remzi HF (2008) How stapled resection can treat rectal prolapse The STARR procedure is gaining favor for the treatment of internal prolapse and rectocele, june, 64(6)

9 Köhler K1, Stelzner S, Hellmich G, Lehmann D, Jackisch

T, Fankhänel B, Witzigmann H (2012) Results in the long-term course after stapled transanal rectal resection (STARR) Langenbecks Arch Surg, 397(5): 771-8

10 Leardi S, De Santis G, Lancione L, Sista F, Schietroma M, Pietroletti R (2014) Quality of life after treatment of rectal intussusception or rectocele by means of STARR Ann Ital Chir, 85(4): 347-51

11 Marcio J., Jorge N (2006) Initial Evaluation of Constipation Constipation Etiology, Evaluation and Management, Springer-Verlag London, 2 Edition, 35-48

12 Nguyễn Đình Hối, Dương Phước Hưng, Nguyễn Văn Hậu

và cộng sự (2005) Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị chứng táo bón do sa trực tràng kiểu túi Y Học TP Hồ Chí Minh, 9(1): 10-16

13 Nguyễn Trung Vinh (2011) Phẫu thuật đặt mảnh ghép qua ngả âm đạo trong điều trị sa tạng chậu nữ Hội nghị khoa học sàn chậu học Thành Phố Hồ Chí Minh, lần 5, tr 23-30

14 Nicolas R, Meurette G, Frampas E et al (2004) Stapled transanale rectal resection is efficient to correct obstructed defecation syndrome but could compromise anal continence Colorectal Dis, 6(2): 35

15 Renzi A., Izzo D., Di Sarno G., et al (2005) Stapled transanal rectal resection to treat obstructed defecation caused by rectal

Trang 8

intussusception and rectocele Int J Coloretal Dis, 21(7):

661-667

16 Sonnenberg A., Koch TR (1989) Epidemiology of

constipation in the United States Dis Colon Rectum, 32: 1-8

17 Stewart WF, Liberman, Sandler RS, et al (1999)

Epidemiology of constipation (EPOC) Study in the United

States: relation of clinical subtypes to socioeconomic features

Am J Gastroenterol, 94: 3530-3539

18 Stuto A, Schwander O, Jayne D (2007) Assessing safety of the

STARR procedure for ODS: preliminary results of the

European STARR Registry Dis Colon Rectum, 50: 724

19 Van Geluwe B, Stuto A, Da Pozzo F, Fieuws S, Meurette G,

Lehur PA, D'Hoore A (2014) Relief of obstructed defecation

syndrome after stapled transanal rectal resection (STARR): a meta-analysis Acta Chir Belg, 114(3): 189-97

20 Võ Tấn Đức, Nguyễn Thị Thùy Linh (2011) Chụp cộng hưởng từ vùng sàn chậu hay chụp cộng hưởng từ học tống phân Hội nghị khoa học sàn chậu học Thành Phố Hồ Chí Minh, lần 5, tr 1-12

Ngày đăng: 15/01/2020, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w