1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chụp mạch huỳnh quang trong mổ để đánh giá tưới máu cho vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu: Một số kinh nghiệm ban đầu

5 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 248,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự xuất hiện hoại tử mỡ hoặc hoại tử một phần vạt là không phải hiếm gặp trong tái tạo vú bằng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu, mặc dù việc lên kế hoạch phẫu thuật cũng như kỹ thuật phẫu thuật đã được thực hiện tốt. Để tránh những biến chứng này, một phác thảo rất chính xác về tình trạng tưới máu của vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu có thể thực hiện bằng cách xác định trực tiếp vùng cấp máu của nhánh xuyên (perforasome) của động mạch thượng vị dưới sâu.

Trang 1

CHỤP MẠCH HUỲNH QUANG TRONG MỔ ĐỂ ĐÁNH GIÁ TƯỚI MÁU CHO VẠT NHÁNH XUYÊN ĐỘNG MẠCH THƯỢNG VỊ DƯỚI SÂU:

MỘT SỐ KINH NGHIỆM BAN ĐẦU

Nguyễn Văn Phùng * , Vũ Quang Vinh ** , Trần Vân Anh **

TÓM TẮT

Mở đầu: Sự xuất hiện hoại tử mỡ hoặc hoại tử một phần vạt là không phải hiếm gặp trong tái tạo vú bằng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu, mặc dù việc lên kế hoạch phẫu thuật cũng như kỹ thuật phẫu thuật đã được thực hiện tốt Để tránh những biến chứng này, một phác thảo rất chính xác về tình trạng tưới máu của vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu có thể thực hiện bằng cách xác định trực tiếp vùng cấp máu của nhánh xuyên (perforasome) của động mạch thượng vị dưới sâu

Mục tiêu: Chỉ ra những lợi ích của chụp mạch huỳnh quang trong mổ để đánh giá tưới máu cho vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu

Đối tượng - phương pháp: 7 bệnh nhân được tái tạo vú trì hoãn bằng vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu sau cắt u vú Tiến hành chụp mạch huỳnh quang trong mổ để đánh giá tưới máu vạt

Kết quả: Tất cả các vạt đều sống hoàn toàn, không có trường hợp nào hoại tử mỡ

Kết luận: Chụp mạch huỳnh quang đáp ứng hầu hết các tiêu chí của một kỹ thuật lý tưởng để đánh giá trong mổ tưới máu của vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu Đó là chính xác, đáng tin cậy, nhanh chóng, đơn giản, chi phí thấp, khách quan, ghi lại được, ít xâm lấn và không ảnh hưởng đến sinh lý vạt

Từ khoá: Tái tạo vú, vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu, chụp mạch huỳnh quang

ABSTRACT

INTRAOPREATIVE FLUORESCENCE ANGIOGRAPHY FOR THE EVALUATION OF THE PERFUSION OF DEEP INFERIOR EPIGASTRIC PERFORATOR FLAP: INITIAL EXPERIENCES

APPLICATION

Nguyen Van Phung, Vu Quang Vinh, Tran Van Anh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 1 - 2016: 235 - 239

Background - objectives: The occurrence of fat necrosis or a partial flap loss is not rare in deep inferior epigastric perforator (DIEP) flaps, despite a preoperative planning and a good operative technique To avoid these issues, a very precise delineation of the status of the perfusion of deep inferior epigastric perforator flaps can be performed by determining directly the perforasomes of the deep inferior epigastric artery The objective of this report is to demonstrate the usefulness of intraoperative fluorescence angiography for the evaluation of the perfusion of deep inferior epigastric perforator flap

Methods: Seven patients were considered for delayed breast reconstruction with DIEP flaps after previous mastectomy for breast cancer Intraoperative fluorescence angiography was performed to evaluate of the perfusion

of the flap Initial experiences will be described

Results: All flaps survived, no cases of fat necrosis

Conclusions: The fluorescence angiography satisfies most of the criteria of an ideal technique for evaluating

Trang 2

peroperative perfusion of flaps It is accurate, reliable, rapid, simple, cheap, objective, recordable and less invasive and not altered the flap physiology.

Key words: Breast reconstruction, deep inferior epigastric perforator (DIEP) flap, fluorescence angiography

MỞ ĐẦU

Ngày nay, tái tạo vú bằng vạt nhánh xuyên

động mạch thượng vị dưới sâu đã trở thành một

kỹ thuật phổ biến nhờ vào những ưu điểm của

nó là đem lại hình dạng vú thẩm mỹ tự nhiên và

tổn thương tối thiểu nơi cho vạt ở vùng bụng

Chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt trước mổ thường

được sử dụng để khảo sát nhánh xuyên của

động mạch thượng vị dưới sâu, nhằm lựa chọn

nhánh xuyên phù hợp tuỳ theo kích thước và

đường đi của nhánh xuyên Tuy nhiên, sự xuất

hiện hoại tử mỡ hoặc hoại tử một phần vạt là

không phải hiếm gặp trong tái tạo vú bằng vạt

nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu,

mặc dù việc lên kế hoạch phẫu thuật cũng như

kỹ thuật phẫu thuật đã được thực hiện tốt, điều

này xảy ra khi diện lấy vạt vượt quá khả năng

cấp máu của nhánh xuyên (vạt dựa trên 1- 3

nhánh xuyên) Ngoài ra việc lựa chọn nhánh

xuyên không phù hợp hoặc việc tổn thương

nhánh xuyên trong quá trình phẫu tích cũng ảnh

hưởng đến sự tưới máu của vạt làm gia tăng tình

trạng hoại tử vạt, hoại tử một phần, thậm chí

toàn bộ vạt

Để tránh những biến chứng này, một phác

thảo rất chính xác về tình trạng tưới máu của vạt

nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu có

thể thực hiện bằng cách xác định trực tiếp vùng

cấp máu của nhánh xuyên (perforasome) của

động mạch thượng vị dưới sâu để giúp lựa chọn

nhánh xuyên phù hợp, phát hiện tổn thương

nhánh xuyên, đánh giá đúng khả cấp máu của

nhánh xuyên Để xác định trực tiếp vùng cấp

máu của nhánh xuyên trong mổ chúng ta cần 1

kỹ thuật không gây hại cho bệnh nhân, không

làm thay đổi sinh lý vạt, đơn giản, dễ sử dụng,

chi phí thấp, khách quan và có thể lưu lại kết

quả Nó cho phép theo dõi kéo dài, nhanh chóng

đáp ứng với sự thay đổi tuần hoàn, kết quả thể

hiện đơn giản dễ dàng để dánh giá Có nhiều

phương pháp khác nhau để đánh giá tưới máu

vạ trong mổ như: Chụp mạch huỳnh quang với fluorescein, chụp mạch máu với xanh indocyanine (Indocyanine Green Angiography), nhiệt động học hồng ngoại (Dynamic Infred Thermography), đo lưu lượng dòng chảy bằng laser (Laser Doppler flowmetry, Laser Doppler perfusion imaging), đo độ bảo hoà oxy… Chụp mạch huỳnh quang với fluoresceine là phương pháp có thể thực hiện dễ dàng, phổ biến, chi phí thấp, đáng tin cậy và có thể ghi lại bằng hình ảnh Vì vậy chúng tôi đã sử dụng chụp mạch huỳnh quang trong mổ bằng fluoresceine sau khi bóc tách vạt và cô lập nguồn cấp máu cho vạt

là nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu

để đánh giá tình trạng tưới máu cho vạt

Bài viết này nhằm giới thiệu những lợi ích của việc khảo sát trong mổ tưới máu của vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu bằng chụp mạch huỳnh quang với fluoresceine qua những kinh nghiệm ban đầu

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Từ tháng 8/2014 đến tháng 10/2015, 7 bệnh nhân có độ tuổi từ 20 đến 56 tuổi đã được chụp mạch huỳnh quang bằng fluoresceine trong mổ

để đánh giá tưới máu vạt khi tái tạo vú bằng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu sau cắt u vú Tất cả các trường hợp đều là tái tạo vú trì hoãn sau phẫu thuật cắt bỏ vú

Vạt được bóc tách theo hình thiết kế, hình trám dưới rốn Bóc tách đến lớp cân cơ thành bụng, từ ngoài vào trong đến khi nhìn thấy nhánh xuyên trội Mở lớp cân cơ thẳng bụng ở cạnh vị trí nhánh xuyên trội, phẫu tích nhánh xuyên và bó mạch thượng vị dưới sâu cho đến vị trí sẽ cắt cuống vạt Sau khi bóc tách và cô lập cuống mạch vạt, tiến hành tiêm tĩnh mạch Fluoresceine 15mg/kg cân nặng sau khi thử phản ứng âm tính 0,05 ml fluoresceine tiêm trong da) Chụp hình ảnh vạt trước khi tiêm và 20 phút sau

Trang 3

khi tiêm fluorescein có chiếu đèn tia cực tím (đèn

wood) trong điều kiện phòng tối Ghi nhận vùng

vạt ngấm thuốc và vùng không ngấm thuốc sẽ

được cắt bỏ khi tạo hình vạt tại nơi nhận Vùng

ngấm thuốc sẽ cho màu vàng xanh, nhạt dần cho

đến vùng ngấm thuốc ít và màu tối ở vùng

không ngấm thuốc Trong trường hợp có sẹo ở

đường trắng giữa dưới rốn, hoặc trên bệnh nhân

gầy ít mỡ ở vùng bụng mà có khả năng cần lấy

vạt rộng chúng tôi vẫn dự trù khả năng dùng vạt

với 2 cuống mạch bằng cách kẹp nhánh xuyên

bên đối diện trước khi tiêm thuốc và chụp hình

Sau mổ theo dõi tình trạng sống của vạt, hoại

tử mỡ và các theo dõi chung cho vạt tự do

Chụp hình: Chúng tôi sử dụng bộ lọc màu

vàng gắn trên ống kính để chụp trong ánh sáng

tia cực tím nhằm lọc phản chiếu của tia cực tím cũng như bức xạ màu tím và xanh dương Thiết lập thời gian phơi sáng từ 25 - 30 giây và khẩu độ giữ ở mức 5.6

KẾT QUẢ Sau khi tiêm thuốc thay đổi màu vàng nhìn thấy trên toàn bộ cơ thể của bệnh nhân, và nhìn thấy nhiều ở kết mạc, vòm miệng, lòng bàn tay

và lòng bàn chân

Hai mươi phút sau khi tiêm fluoresceine, ánh sáng trong phòng mổ sẽ được tắt hết tạo bóng tối Huỳnh quang được thấy ở trên bề mặt da cũng như mô dưới da của vạt dưới ánh sáng đèn Wood tại các vùng vạt được tưới máu

Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân và kết quả

Bệnh

Sẹo đường giữa dưới rốn

Số lượng nhánh xuyên

Số lượng cuống mạch vạt

Vùng ngấm thuốc

Hoại tử 1 phần vạt

Hoại tử toàn bộ vạt

Hoại tử

mỡ

Tất cả các vạt đều ngấm thuốc Trong đó có

4/7 trường hợp vạt ngấm thuốc vùng I, II, II và

IV, 3/7 trường hợp vạt ngấm thuốc vùng I, II và

III Toàn bộ các vạt đều sống hoàn toàn, không

có trường hợp nào hoại tử mỡ trên lâm sàng

BÀN LUẬN

Vạt nhánh xuyên là 1 thể hiện đỉnh cao trong

thiết kế vạt Đây là kết quả của nhiều thập kỷ

nghiên cứu đi tiên phong bởi Manchot, Salmon,

Cormack và Lamberty, Taylor và Palmer, đã

giúp hiểu rõ hơn về giải phẫu mạch máu và sinh

lý tuần hoàn máu của da Những tiến bộ này đã

giúp Phẫu thuật viên có thể bóc vạt nhánh xuyên

dựa trên một nhánh xuyên cấp máu cho da, từ

đó giảm được tổn thương nơi cho vạt, bảo tồn

được các cấu trúc khác và có khả năng áp dụng

bất kỳ vạt để phù hợp với yêu cầu của bất kỳ

khuyết tổn(1)

Các kỹ thuật theo dõi vạt đã tiến triển cùng với việc thiết kế vạt Sử dụng các kỹ thuật hình ảnh trước mổ để lập bản đồ nhánh xuyên đã trở thành tiêu chuẩn trong một số phẫu thuật tạo hình, đặc biệt là trong tái tạo vú bằng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu Các kỹ thuật hình ảnh trước mổ, sử dụng chụp cắt lớp

vi tính hay chụp cộng hưởng từ hạt nhân, có khả năng lập bản đồ của các nhánh xuyên nhưng nó không cung cấp được các thông tin về động lực, sinh lý và sự tưới máu của vạt trong mổ Vì vậy, lập bản đồ nhánh xuyên trước mổ chỉ là bước đầu tiên trong việc khảo sát vạt nhánh xuyên, bước tiếp theo là phải là đánh giá tưới máu vạt dựa trên nguồn cung cấp máu chính để nhằm hạn chế tỉ lệ hoại tử mỡ, hoại tử 1 phần vạt Theo truyền thống, đánh giá tưới máu vạt dựa vào màu sắc vạt, xác định tốc độ làm đầy mao mạch

Trang 4

ở vùng trung tâm và ngoại vi của vạt Hoặc là

quan sát máu chảy ở mép vạt, gồm cả động

mạch và tĩnh mạch, thông thường thì mức độ

chảy tĩnh mạch và động mạch ngang nhau Nếu

chảy máu tĩnh mạch nhiều, động mạch ít hoặc

không chảy máu là dấu hiệu của tưới máu kém

Hạn chế của các phương pháp phân tích này là

không thể định lượng tương đối tưới máu toàn

bộ bề mặt của vạt Vì vậy việc sử dụng các

phương tiện cận lâm sàng để đánh giá tưới máu

của vạt được các phẫu thuật viên bắt đầu từ

những năm 1980 cho các dạng vạt truyền thống,

từ những năm 2000 cho dạng vạt nhánh xuyên(5)

Trong những thập kỷ vừa qua cùng với việc

bùng nổ áp dụng vạt nhánh xuyên động mạch

thượng vị dưới sâu trong tái tạo vú, cũng đã

chứng kiến sự xuất hiện của nhiều phương pháp

có khả năng đánh giá vạt này trong mổ như:

Chụp mạch huỳnh quang với fluorescein, chụp

mạch máu với xanh indocyanine (Indocyanine

Green Angiography), nhiệt động học hồng ngoại

(Dynamic Infred Thermography), đo lưu lượng

dòng chảy bằng laser (Laser Doppler flowmetry,

Laser Doppler perfusion imaging)(1,5,7) Trong các

phương pháp đó thì chụp mạch huỳnh quang

với fluorescein là một kỹ thuật đơn giản, hiệu

quả và chi phí thấp để đánh giá tưới máu vạt Vì

vậy đây là phương pháp khả thi trong điều kiện

của nước ta

Ehrlich đầu tiên sử dụng fluorescein vào

năm 1882 để nghiên cứu các chất lỏng trong

khoang phía trước của mắt Koch sử dụng nó

vào năm 1922 để nghiên cứu tốc độ của dòng

máu Lange và Boyd đầu tiên sử dụng

fluorescein tĩnh mạch vào năm 1942 để đánh giá

chức năng mạch máu ngoại vi Năm 1943,

Dingwall và Lord cải tiến các kỹ thuật để xác

định thời gian sớm nhất có thể để chuyển một

vạt có cuống dạng ống Năm 1985, Silverman và

cộng sự mô tả hiệu quả của thử nghiệm

fluorescein để dự đoán khả năng sống của vạt

da Chụp mạch huỳnh quang với fluorescein là

một kỹ thuật đơn giản và hiệu quả để đánh giá

tưới máu vạt Chụp mạch huỳnh quang sử dụng

thuốc nhuộm fluorescein tiêm vào tĩnh mạch và phát ra năng lượng hồng ngoại ở bước sóng 510 -

600 nm khi kích thích bởi ánh sáng tia cực tím Trong các mô sống, thuốc nhuộm xuất hiện ánh sáng màu vàng trong khi các khu vực mà không

có lưu lượng máu xuất hiện màu xanh đậm như chúng phản ánh tất cả các ánh sáng tia cực tím Fluorescein cũng nhanh chóng khuếch tán từ nội mạch để vào không gian ngoại mạch và có thể được sử dụng để đánh giá mức độ tưới máu của

mô mềm Fluorescein được bài tiết qua thận và thời gian cần thiết để đạt được độ phát huỳnh quang tối đa mất khoãng 15 phút(6)

Ở Việt Nam chưa có báo cáo về việc áp dụng chụp mạch huỳnh quang trong mổ với fluorescein để đánh giá tưới máu của vạt nhánh xuyên nói chung và vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu nói riêng Báo cáo của chúng tôi nhằm mục đích đưa ra những lợi ích của chụp mạch huỳnh quang trong mổ để đánh giá tưới máu cho vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu trong tái tạo vú qua những kinh nghiệm ban đầu của chúng tôi Kỹ thuật này đã được chúng tôi áp dụng trên 7 bệnh nhân Sau khi phẫu tích cuống mạch vạt, tiến hành tắt hết đèn và chụp hình ảnh của vạt khi chưa tiêm thuốc Tiêm 0,05 ml fluorescein trong

da để thử phản ứng thuốc Sau đó nếu phản ứng

âm tính, tiến hành tiêm fluorescein tĩnh mạch liều 10 - 20 mg/kg cân nặng sau khi kết thúc phẫu tích cuống mạch vạt khoãng 20 phút Sau tiêm thuốc 20 phút, tắt hết đèn trong phòng, sử dụng đèn Wood chiếu vào vạt da để đánh giá màu sắc của vạt ngấm thuốc (những đốm màu vàng nhạt), phần không ngấm thuốc (màu xanh đen) là phần thiếu máu nuôi cần cắt bỏ Như vậy khoãng thời gian từ khi kết thúc bóc tách cuống mạch vạt đến khi quan sát thuốc ngấm là khoãng 40 phút, chúng tôi nghĩ khoãng thời gian này là đủ để vượt qua sự co thắt mạch ban đầu

do bóc tách, vì thuốc nhuộm đã tới phần xa của vạt thông qua tuần hoàn vạt Tất cả các vạt đều ngấm thuốc nhuộm huỳnh quang Trong đó có 2 trường hợp vạt có sẹo đường giữa thuốc ngấm

Trang 5

vùng I, II và chỉ có 1 phần qua vùng III Như vậy

2 trường hợp này vạt chỉ tưới máu vùng I, II và 1

phần qua vùng III qua kết nối gián tiếp từ lưới

mạch bì và hạ bì như nhận định của nhiều tác

giả khác(2) Điều này cũng phù hợp với nghiên

cứu của Henry và cộng sự, ở vạt nhánh xuyên

động mạch thượng vị dưới sâu có sẹo đường

trắng giữa ước lượng có khoãng 70% được tưới

máu tốt sau khi bóc tách(2) Trong tái tạo vú bằng

vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu,

theo báo cáo của nhiều tác giả, tỉ lệ hoại tử mỡ là

6 - 18%, tỉ lệ hoại tử 1 phần vạt là 0 - 8,7%(3,4)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các vạt

đều sống hoàn toàn, không có trường hợp nào

vạt hoại tử một phần, không có tình trạng hoại

tử mỡ được ghi nhận trên lâm sàng Điều này có

thể lý giải là do chúng tôi đã cắt bỏ phần không

ngấm thuốc nhuộm huỳnh quang cũng chính là

phần vạt không được tưới máu Đây chính là lợi

ích của việc chụp mạch huỳnh quang trong mổ

để đánh giá tưới máu vạt mang lại Ngoài ra,

chụp mạch huỳnh quang giúp đánh giá tưới

máu toàn bộ vạt tại cùng thời điểm và không bị

lỗi khi lấy mẫu Thuốc nhuộm huỳnh quang tạo

ra sự thay đổi màu vàng ở lòng bàn tay, bàn

chân, kết mạc trong 24 giờ và trong nước tiểu

huỳnh quang vẫn còn lên tới 36 giờ sau tiêm Vì

vậy có thể kiểm huỳnh quang ở vạt nhiều lần

trong 24 giờ sau tiêm để đánh giá tưới máu vạt

Bên cạnh các ưu điểm, chụp huỳnh quang với

fluorescein cũng có một số nhược điểm như

không cho biết thông tin về tĩnh mạch, thời gian

bán huỷ dài, phải dùng đèn tia cực tím, có thể

gặp phản ứng dị ứng

Qua kinh nghiệm trên 7 bệnh nhân ban đầu

chụp mạch huỳnh quang trong mổ để đánh giá

tưới máu vạt nhánh xuyên của động mạch

thượng vị dưới sâu, chúng tôi thấy rằng đây là

một phương pháp có tính khả thi cao trong tái

tạo vú Việc đánh giá được khu vực tưới máu

của vạt giúp phẫu thuật viên cắt bỏ phần vạt

không được tưới máu, giúp hạn chế tình trạng

hoại tử mỡ và hoại tử 1 phần vạt, tăng kết quả

phẫu thuật Ngoài ra, trong trường hợp vạt có

sẹo đường giữa dưới rốn hoặc trên bệnh nhân gầy mà cần vạt rộng, việc đánh giá tưới máu vạt trong mổ cũng sẽ giúp phẫu thuật viên cân nhắc việc sử dụng 1 hay 2 cuống mạch cho vạt nhằm đáp ứng đủ thể tích vạt cần lấy, từ đó có thể giảm thời gian phẫu thuật và hạn chế thêm tổn thương tại nơi cho vạt Chụp mạch huỳnh quang với fluoresceine mang lại sự áp dụng hiệu quả đầy hứa hẹn trong việc đánh giá tưới máu trong

mổ cho vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu Tuy nhiên số lượng bệnh nhân của chúng tôi còn có hạn nên cần tiếp tục đánh giá với số lượng bệnh nhân lớn hơn

KẾT LUẬN Chụp mạch huỳnh quang đáp ứng hầu hết các tiêu chí của một kỹ thuật lý tưởng để đánh giá trong mổ tưới máu của vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu Đó là chính xác, đáng tin cậy, nhanh chóng, đơn giản, chi phí thấp, khách quan, ghi lại được, ít xâm lấn và không ảnh hưởng đến sinh lý vạt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Gurtner GC, Jones GE, Neligan PC, Newman MI, Phillips

BT, Sacks JM, Zenn MR (2013) “Intraoperative laser angiography using the SPY system: review of the literature and recommendations for use” Annals of Surgical Innovation and Research, 7(1): 1-14

2 Henry SL, Chang CC, Misra A, Huang JJ, Cheng MH (2011)

“Inclusion of tissue beyond a midline scar in the deep inferior epigastric perforator flap” Ann Plast Surg: 67 (3): 251 - 254

3 Kroll SS, Gherardini G, Martin JE, Reece GP, Miller MJ, Evans

GR, Robb GL, Wang BG (1998) “Fat necrosis in free and pedicled TRAM flaps” Plast Reconstr Surg, 102(5): 1502 -

1507

4 Nahabedian MY, Momen B, Galdino G, Manson PN (2002)

“Breast Reconstruction with the free TRAM or DIEP flap: patient selection, choice of flap, and outcome.” Plast Reconstr Surg, 110 (2): 466 - 475

5 Nahabedian MY (2011) “Overview of Perforator Imaging and Flap Perfusion Technologies” Clin Plastic Surg, 38: 165–174

6 Muntean MV, Muntean V, Ardelean F, Georgescu A (2015)

“Dynamic perfusion assessment during perforator flap surgery: An Up-To_date” Clujul Medical, 88 (3): 1-5

7 Zenn MR (2011) “Fluorescent Angiography” Clin Plastic Surg, 38: 293 - 300

Ngày đăng: 14/01/2020, 23:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w