1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh kết quả khám lâm sàng và chụp cộng hưởng từ động trong chẩn đoán sa tạng chậu nặng

6 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 272,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá kết quả khám lâm sàng bằng hệ thống POPQ và chụp cộng hưởng từ động trong chẩn đoán sa tạng chậu mức độ nặng ở phụ nữ.

Trang 1

SO SÁNH KẾT QUẢ KHÁM LÂM SÀNG VÀ CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ ĐỘNG

TRONG CHẨN ĐOÁN SA TẠNG CHẬU NẶNG

Huỳnh Đoàn Phương Mai*, Nguyễn Văn Ân*, Phạm Hữu Đoàn*, Võ Trọng Thanh Phong*,

Lê Nguyễn Minh Hoàng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả khám lâm sàng bằng hệ thống POPQ và chụp cộng hưởng từ động trong chẩn

đoán sa tạng chậu mức độ nặng ở phụ nữ

Phương pháp nghiên cứu: Chọn mẫu gồm những bệnh nhân sa tạng chậu mức độ nặng có chỉ định nội soi

cố định sàn chậu vào mỏm nhô được chẩn đoán bằng khám lâm sàng đánh giá theo hệ thống POPQ Bệnh nhân được chụp cộng hưởng từ động khảo sát vùng đáy chậu trước phẫu thuật Đường mu cụt được sử dụng làm mốc

để đánh giá mức độ sa trên MRI Phân tích mối tương quan giữa kết quả khám lâm sàng và MRI

Kết quả: Nghiên cứu gồm 18 bệnh nhân sa tạng chậu mức độ nặng chẩn đoán bằng khám lâm sàng được

chụp cộng hưởng từ vùng đáy chậu Tất cả các trường hợp sa ngăn trước đều chẩn đoán chính xác bằng khám lâm sàng Có 3 TH (16,7%) lâm sàng chẩn đoán quá mức sa ngăn giữa và 10 TH (55,6%) lâm sàng chẩn đoán quá mức sa ngăn sau Sự tương đồng trong chẩn đoán sa ngăn giữa là 83,3% và sa ngăn sau là 44,4% khi so sánh giữa khám lâm sàng và chụp cộng hưởng từ

Kết luận: Chụp cộng hưởng từ động khảo sát vùng đáy chậu nên được thực hiện giúp chọn lựa phương

pháp điều trị sa tạng chậu thích hợp hơn cho từng bệnh nhân, đặc biệt với sa ngăn giữa và ngăn sau

Từ khóa: Sa tạng chậu; Hệ thống POPQ; Cộng hưởng từ động

ABSTRACT

COMPARE CLINICAL EXAMINATION AND DYNAMIC MAGNETIC RESONANCE IMAGING IN

DIAGNOSISOF SEVERE PELVIC ORGAN PROLAPSE

Huynh Doan Phuong Mai, Nguyen Van An, Pham Huu Doan,Vo Trong Thanh Phong,

Le Nguyen Minh Hoang * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 428 - 434

Objective: To estimate the role of clinical examination with POP Quantification and dynamic magnetic

resonance imaging (dynamic MRI) in the evaluation of severe pelvic organ prolapse in women

Method: Clinical examinations with POP Quantification and dynamic magnetic resonance imaging were

performed on women who have severe pelvic organ prolapse with planning of laparoscopic sacrocolpopexy A preoperative dynamic MRI assessment was performed The pubococcygeal line was the reference level used for prolapse grading We analysed the correlation by three compartments of clinical and MRI grading of prolapse

Result: 18 cases of severe pelvic organ prolapse were collected Clinical evaluation of anterior compartment

in all patients was quite similar compared with MRI results 3 cases (16.7%) were clinically over diagnosed in apical compartment, and it was 10 (55.6%) in posterior compartment The agreement in apical compartment was 83.3%in comparison with MRI findings and it was 44.4% in posterior compartment

Conclusion: Dynamic MRI plays a larger role in the preoperative planning of pelvic organ prolapse with

each patient, especially with apical and posterior compartments

Key words: Pelvic organ prolapse; POP-Q system; Dynamic MRI

* Đơn vị Niệu Nữ – Niệu Động Học - Bàng Quang Thần Kinh, Khoa Niệu A, BV Bình Dân TPHCM

Tác giả liên lạc: BS Huỳnh Đoàn Phương Mai, ĐT: 01663522187 Email: maihuynh005@.yahoo.com.vn

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sa tạng chậu là bệnh lý thường gặp ở phụ

nữ, không nguy hiểm tính mạng nhưng ảnh

hưởng lớn đến chất lượng sống của bệnh nhân

vì nó có thể gây triệu chứng trên nhiều hệ cơ

quan khác nhau Trong túi sa có thể chứa bàng

quang, tử cung, ruột non, mạc nối, đại tràng, trực

tràng … Theo Hội tự chủ quốc tế (ICS), dựa vào

khám lâm sàng bằng Hệ thống định lượng sa

tạng chậu (POPQ) có thể giúp chẩn đoán và

phân độ tình trạng sa của cả ba ngăn đáy chậu

Tuy nhiên theo thống kê trong số 10% phụ nữ ở

Hoa Kỳ mắc sa tạng chậu tiến triển nghiêm

trọng cần phải phẫu thuật, chỉ có một ít trong số

các bệnh nhân đó có thể được hưởng lợi sau

phẫu thuật nhưng một phần ba các trường hợp

cần phẫu thuật lại mỗi năm(8) Điều quan trọng

nhất trong đánh giá trước mổ là xác định đúng

những cấu trúc nâng đỡ vùng chậu nào bị suy

yếu, xác định chính xác có bao nhiêu tạng bị sa

để chọn lựa phương pháp điều trị thích hợp cho

từng bệnh nhân

Gần đây, phương pháp chụp cộng hưởng từ

động (MRI defecography) khảo sát vùng đáy

chậu ra đời giúp chẩn đoán các tổn thương giải

phẫu khi sàn chậu bị suy yếu Phương tiện chẩn

đoán này được kỳ vọng giúp cải thiện tỷ lệ điều

trị thành công bệnh lý sa tạng chậu Tuy nhiên

chi phí chụp MRI tương đối cao, việc chụp MRI

thường quy để chẩn đoán sa tạng chậu làm tăng

gánh nặng về y tế Vì thế chúng tôi thực hiện đề

tài này để so sánh kết quả khám lâm sàng theo

hệ thống POPQ và kết quả chụp MRI trong việc

chẩn đoán và phân độ của từng ngăn sa

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là nghiên cứu mô tả hàng loạt các

trường hợp sa tạng chậu đến khám tại đơn vị

Niệu Nữ, bệnh viện Bình Dân Hiện nay tại

đơn vị của chúng tôi, tất cả các bệnh nhân sa

tạng chậu đều được khám âm đạo để chẩn

đoán và phân độ dựa theo hệ thống POPQ

Trong khoảng thời gian từ tháng 08/2013 đến

nhân được chỉ định chụp MRI động sàn chậu

để chẩn đoán trước mổ Tất cả 18 bệnh nhân này đều được chụp MRI tại bệnh viện Đại Học

Y Dược theo cùng một quy trình và tiêu chuẩn đánh giá chung

Chúng tôi tiến hành thu thập số liệu và so sánh kết quả chẩn đoán trước mổ giữa khám lâm sàng theo hệ thống thống POPQ và hình ảnh ghi nhận trên MRI động sàn chậu, sử dụng chương trình SPSS 16.0 Mức độ thống nhất giữa kết quả khám lâm sàng và chụp MRI được tính bằng trị

số thống kê kappa (K) Trị số K biến động từ -1 (không thống nhất) qua 0 (thống nhất do ngẫu nhiên mà thôi) đến +1 (thống nhất hoàn toàn)

0 - 0,2: thống nhất nhẹ 0,2 - 0,4: thống nhất vừa 0,4 - 0,6: thống nhất trung bình 0,6 - 0,8: thống nhất nhiều 0,8 – 1: thống nhất hoàn toàn

Tiêu chuẩn phân độ sa tạng chậu bằng hệ thống POPQ(3)

Độ 0: không có sa tạng chậu

Aa, Ba, Ap, Bp đều ở vị trí -3

C, D nằm trong khoảng từ tvl đến (tvl-2) Độ1: điểm thấp nhất < -1cm

Độ 2: điểm thấp nhất> -1cm nhưng < 1cm

Độ 3: điểm thấp nhất > 1cm nhưng < (tvl-2)

Độ 4: điểm thấp nhất > (tvl-2)

Kỹ thuật chụp MRI

- Bệnh nhân được thông trực tràng 2-3 lần để sạch phân trong trực tràng

- Hướng dẫn, tập luyện cho bệnh nhân các thao tác thót- rặn- làm nghiệm pháp Valsalva và đánh giá khả năng hợp tác tốt bằng cách đặt tay khám độ căng của thành bụng Bệnh nhân đi tiểu trước lúc chụp khoảng 15 phút để làm trống bàng quang

- Dùng sonde Folley 26FR để bơm gel siêu

âm vào trực tràng tạo cảm giác mắc đại tiện (lượng gel bơm vào có thể từ 120 – 250mL) và ít

Trang 3

gel vào âm đạo ở các bệnh nhân đã có gia đình

- Đặt bệnh nhân nằm ngửa, lót tả giấy dưới

mông, kê cao đầu và lưng (tư thế Fowler) cho

tương đối phù hợp tư thế sinh lý khi đại tiện Sử

dụng máy cộng hưởng từ kín AVENTO 1.5T với

cuộn thu tín hiệu bụng quấn ngang vùng chậu

-Các chuỗi xung T2 HASTE hay TRUFISP

ghi hình động sàn chậu ở mặt cắt ngang, dọc và

dọc giữa qua các thì nghỉ, thót và rặn (hay làm

nghiệm pháp Valsalva)

Tiêu chuẩn chẩn đoán sa tạng chậu trên

MRI

Tiêu chuẩn chẩn đoán sa tạng chậu trên MRI

vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các tác giả do

nghiên cứu đánh giá trên người bình thường với

cỡ mẫu quá nhỏ chưa đại diện được cho dân số

Chúng tôi đã chọn theo cách số đông tác giả sử

dụng, lấy đường mu cụt làm mốc cho chẩn

đoán(5) Đường mu cụt là đường thẳng xác định

trên MRI nối bờ dưới khớp mu đến khớp của hai

xương cụt cuối cùng

Trong đề tài này chúng tôi phân độ sa tạng

chậu dựa trên MRI ở thì rặn tối đa theo tác giả

Boyadzhyan(1)

Độ 1: điểm thấp nhất nằm dưới đường mu

cụt 0 – 3 cm

Độ 2: điểm thấp nhất nằm dưới đường mu

cụt 3- 6 cm

Độ 3: điểm thấp nhất nằm dưới đường mu cụt > 6 cm

KẾT QUẢ

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành phân tích trên 18 bệnh nhân sa tạng chậu có độ tuổi trung bình 62,54 tuổi (nhỏ nhất 53 tuổi, lớn nhất

79 tuổi) Tất cả 18 trường hợp đều đã mãn kinh, trong đó có 2 trường hợp sa tái phát sau phẫu thuật đặt mảnh ghép nâng thành trước âm đạo treo xuyên lỗ bịt Có 11 trường hợp đã cắt tử cung, trong đó 8 trường hợp cắt tử cung vì sa tử cung Tất cả 18 trường hợp này đều đến khám với lý do phát hiện khối sa lớn vùng âm hộ Khám lâm sàng ghi nhận 18 trường hợp đều

có sa cả 3 ngăn từ độ 2 trở lên (bảng 1)

Bảng 1: Phân độ sa tạng chậu dựa trên khám lâm

sàng

Ngăn trước (Ba) 0 10 (55,56%) 8 (44,44%) Ngăn giữa (C, D) 0 7 (38,89%) 11 (61,11%) Ngăn sau (Bp) 2/18 (11,11%) 10/18

(55,56%)

6/18 (33,33%)

Kết quả chụp MRI cho thấy thành phần chứa trong các ngăn sa trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi rất đa dạng bao gồm: bàng quang, tử cung, ruột non, mạc treo, mạc nối, đại tràng, trực tràng với các mức độ sa khác nhau (bảng 2)

Bảng 2: Phân độ sa tạng chậu dựa trên MRI

Sa ruột non 8/18 (44,45%) 3/18 (16,67%) 5/18 (27,78%) 2 (11,11%)

Sa mạc nối 4/18 (22,22%) 3/18 (16,67%) 8/18 (44,44%) 3/18 (16,67%)

Sa trực tràng 11/18 (61,11%) 6/18 (33,33%) 1/18 (5,56%) 0

Bảng 3: So sánh kết quả khám lâm sàng và MRI trong chẩn đoán sa ngăn trước

Trang 4

Theo bảng 3 cho thấy khám lâm sàng có độ

nhạy và độ đặc hiệu là 100% so với MRI để chẩn

đoán sa ngăn trước, nhưng khám lâm sàng có xu

hướng chẩn đoán sa ngăn trước với mức độ

nặng hơn so với MRI Mức độ thống nhất giữa

khám lâm sàng và chụp MRI trong chẩn đoán sa

ngăn trước (chỉ số Kappa) là 0,63

Bảng 4: So sánh kết quả khám lâm sàng và MRI

trong chẩn đoán sa ngăn giữa

Sa ngăn

giữa

Khám lâm sàng

Theo bảng 4, mức độ thống nhất giữa khám

lâm sàng và chụp MRI trong chẩn đoán sa ngăn

giữa (chỉ số Kappa) là 0,55 Tuy nhiên khám lâm

sàng không chẩn đoán được thành phần và mức

độ của các cơ quan chứa trong túi sa

Bảng 5: So sánh kết quả khám lâm sàng và MRI

trong chẩn đoán sa ngăn sau

(33,33%)

3/18 (16,67%)

(5,56%)

3/18 (16,67%)

3/18 (16,67%)

(5,56%)

1/18 (5,56%)

Theo bảng 5 mức độ thống nhất giữa khám

lâm sàng và chụp MRI trong chẩn đoán sa ngăn

sau (chỉ số Kappa) là 0,19 Trong 18 TH (trường

hợp) sa tạng chậu nặng trong mẫu nghiên cứu

của chúng tôi chỉ có 9 TH có túi sa trực tràng

hoặc đại tràng trên MRI (50%), trong đó túi sa độ

1 (dưới 3 cm) chiếm 38,89%

BÀN LUẬN

Chúng tôi tiến hành bàn luận dựa trên kết

quả thu được từ 18 TH sa tạng chậu nặng được

khám lâm sàng đánh giá theo hệ thống POPQ và

chụp MRI động sàn chậu

Sự thống nhất giữa kết quả khám lâm sàng

và chụp MRI trong chẩn đoán sa ngăn trước

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

có mức độ thống nhất nhiều giữa khám lâm sàng bằng hệ thống POPQ và chụp MRI để chẩn đoán

sa bàng quang trong các TH sa tạng chậu nặng (K= 0,6) Kết quả này trong nghiên cứu của Inas

là 0,42(6) Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi cả

18 TH trước mổ đều được chẩn đoán sa ngăn trước mức độ nặng trên lâm sàng (10 TH sa độ 3

và 8 TH sa độ 4) Tuy nhiên kết quả chụp MRI cho thấy chỉ có 14 TH sa bàng quang độ 2,3 và 4

TH sa độ 1 Kết quả đánh giá sa ngăn trước bằng điểm Ba của hệ thống POPQ trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi thường có xu hướng chẩn đoán sa ngăn trước với mức độ nặng hơn so với chụp MRI Vì mẫu nghiên cứu của chúng tôi đa

số là những TH đã cắt tử cung, túi sa có chứa rất nhiều cơ quan Tình trạng chen chúc của các tạng trong túi sa làm cho các mốc giải phẫu trở nên không rõ ràng(7) Chúng tôi nhận thấynhững

TH túi sa có chứa ruột và mạc nối sa xuống cùng với bàng quang thường dẫn đến khám lâm sàng chẩn đoán sa ngăn trước với mức độ cao hơn do nhầm lẫn với sa ngăn giữa Điều này sẽ dẫn đến

bỏ sót thương tổn ngăn giữa nếu không dựa vào MRI.Thành công của phẫu thuật sa tạng chậu liên quan đến việc sửa chữa đúng các thương tổn Nếu chỉ tập trung vào sa ngăn trước có thể dẫn đến bỏ sót sa ruột non, sa tử cung và sa trực tràng đi kèm Ngoài ra, phục hồi giải phẫu bình thường vùng đáy chậu giúp áp lực ổ bụng được truyền đến niệu đạo gần giúp cải thiện tình trạng tiểu không kiểm soát mới xuất hiện sau phẫu thuật(7)

Sự thống nhất giữa kết quả khám lâm sàng

và chụp MRI trong chẩn đoán sangăn giữa

Trong nghiên cứu của chúng tôi, mức độ thống nhất giữa khám lâm sàng và chụp MRI trong chẩn đoán sa ngăn giữa là mức độ trung bình, Kappa = 0,55 Chỉ số này trong kết quả trong nghiên cứu của Inas là 0,139, thống nhất nhẹ(6) Sa tử cung và sa mỏm cắt âm đạo được

Trang 5

xếp vào nhóm sa ngăn giữa Trong trường hợp

sa nặng, toàn bộ tử cung ra ngoài cùng với thành

thành âm đạo tạo thành một túi chứa những cơ

quan khác Điều này gây khó khăn cho việc chẩn

đoán các tạng sa kèm theo Sa tử cung độ 4 có thể

đi kèm theo thận và niệu quản ứ nước Sa mỏm

cắt âm đạo thường kết hợp với sa các cơ quan

khác (ruột non, mạc treo, mạc nối cùng với phúc

mạc) nên rất khó nhận biết bằng khám lâm sàng,

chẩn đoán tốt nhất cần dựa vào MRI(4) Hình ảnh

MRI cho thấy trong 11 TH sa mỏm cắt âm đạo

của chúng tôi có 7 TH sa ruột non (63,6%), 9 TH

sa mạc nối (81,8%) Trong 7 TH sa tử cung có 3

TH kèm sa ruột non (42,8%), 5 TH kèm sa mạc

nối (71,4%) Chỉ có 1 TH (9%) sa mỏm cắt nhưng

túi sa chỉ có chứa bàng quang không kèm theo

ruột và mạc nối Vì thế trong TH sa mỏm cắt âm

đạo nếu chỉ nâng thành trước âm đạo bằng

mảnh ghép rất dễ thất bại do bỏ sót tổn thương

ngăn giữa

Sự thống nhất giữa kết quả khám lâm sàng

và chụp MRI trong chẩn đoán sa ngăn sau

Cơ chế chính gây ra sa ngăn sau là do tổn

thương của mạc trước trực tràng (fascia

prerectal) hoặc mạc trực tràng bên (fascia

paraectal) cũng như vách trực tràng âm đạo

(rectovaginal septum) dẫn đến đại tràng và

trực tràng bị đẩy vào âm đạo qua vách này và

sa ra ngoài Sa trực tràng thể nhẹ chỉ có thể

phát hiện trên MRI vì thường khó nhận biết

khi khám lâm sàng(2) Trong nghiên cứu của

chúng tôi, mức độ thống nhất giữa khám lâm

sàng và chụp MRI trong chẩn đoán sa ngăn

sau là 0,19, thống nhất nhẹ Kết quả trong

nghiên cứu của Inas là 0,52, thống nhất trung

bình(6) Túi sa thành trước trực tràng có thể gây

ra rối loạn tống xuất phân nếu không được

điều trị Trong nghiên cứu của Đỗ Đình Công

và cộng sự trên 274 TH có rối loạn tống xuất

phân, chụp MRI ghi nhận 78,1% có túi sa

thành trước trực tràng và kích thước túi >2cm

chiếm đa số(3) Trong mẫu nghiên cứu của

chúng tôi, trong 18 bệnh nhân đến khám bệnh

vì có khối sa lớn vùng âm hộ có 9 TH sa đại

tràng hoặc trực tràng (50%), túi sa nhỏ nhất có kích thước 19mm, túi sa lớn nhất có kích thước 37mm Trong 18 TH của chúng tôi chỉ có 2 TH

có triệu chứng rối loạn tống xuất phân trên lâm sàng

KẾT LUẬN

Trong các nghiên cứu gần đây với mục tiêu tìm ra xét nghiệm tốt nhất để chẩn đoán sa tạng chậu, kết quả kết luận hình ảnh MRI và khám lâm sàng có thế mạnh độc đáo riêng và bổ sung cho nhau Mặc dù, MRI đang được chứng minh

là một công cụ chẩn đoán rất hữu ích, đặc biệt trong việc chọn phương pháp phẫu thuật nhưng chụp MRI động sàn chậu vẫn chưa được xem là cần thiết đối với tất cả các bệnh nhân sa tạng chậu Chụp MRI được khuyến cáo thực hiện đối với những trường hợp đã phẫu thuật điều trị sa tạng chậu trước đó bị thất bại và đối với những bệnh nhân khám lâm sàng phát hiện sa nhiều ngăn, phức tạp(4) Chẩn đoán chính xác các bất thường cùng tồn tại liên quan đến tất cả các thành phần của sàn chậu là việc làm rất cần thiết trước khi chọn lựa phương pháp điều trị giúp giảm rủi ro thất bại của phẫu thuật, sa tái phát,

và giảm tỷ lệ bệnh nhân cần phẫu thuật lại Giới hạn lớn nhất của đề tài này là phân tích dựa trên nghiên cứu quan sát mô tả trên số lượng bệnh nhân tương đôi ít, chủ yếu là sa tạng chậu mức

độ nặng nên số liệu chúng tôi đưa ra chỉ là nhận xét bước đầu về mối tương quan giữa kết quả khám lâm sàng bằng hệ thống POPQ và chụp cộng hưởng từ động sàn chậu trong chẩn đoán bệnh lý sa tạng chậu Chúng tôi hy vọng trong thời gian tới sẽ có những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này với cỡ mẫu lớn hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Boyadzhyan L, Raman SS, Raz S (2008), Role of static and dynamic MR imaging in surgical pelvic floor dysfunction Radiographics; 28(4):pp 949–67

2 Bump RC, Mattiasson A, Bo K, Brubaker LP, De- lancey JO, Klarskov P, Shull BL and Smith AR (1996) The standardization of terminology of female pel- vic organ prolapse and pelvic floor dysfunction Ameri- can Journal of Obstetrics & Gynecology, 175, pp.10-17

3 Đỗ Đình Công, Võ Tấn Đức, Nguyễn Thị Thùy Linh (2011), Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ động sàn chậutrên bệnh

Trang 6

nhân nữ rối loạn tống phân tuổi từ 30-60, Y Học TP Hồ Chí

Minh, Tập 15, Phụ bản của Số 4, tr 87-93

4 Ebtesam Moustafa Kamal, Fatma M Abdel Rahman (2013),

Role of MR imaging in surgical planning and prediction of

successful surgical repair of pelvic organ prolapse, Middle

East Fertility Society Journal, 18, pp 196–201

5 Gupta S, Sharma JB, Hari S, Kumar S, Roy KK, Singh N (2012),

Study of dynamic magnetic resonance Imaging in the

diagnosis of pelvic organ prolapse Arch Gynecol Obstet; 286:

pp 953–8

Dynamic magnetic resonance imaging; reliability of

assessment and correlation with clinical findings of pelvic

organ prolapse The Egyptian Journal of Radiology and Nuclear Medicin, 45, pp 1003–1010

7 Maglinte DD, Kelvin FM, Fitzgerald K (2009), Association of compartment defects in pelvic floor dysfunction AJR Am J Roentgenol; pp 172:439

8 Olsen AL, Smith VJ, Bergstrom JO, Collins JC, Clark AL (2007), Epidemiology of surgically managed pelvic organ prolapse and urinary incontinence, Obstet Gynecol; 89: pp 501–506

Ngày nhận bài báo: 22/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/12/2015 Ngày bài báo được đăng: 22/02/2016

Ngày đăng: 14/01/2020, 23:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w