1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nồng độ các nội tiết tố nền và sau kích thích trên bệnh nhân dậy thì sớm trung ương tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

6 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 414,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định nồng độ LH, FSH, tỉ lệ LH/FSH, nồng độ Estradiol nền và sau khi làm nghiệm pháp kích thích ở các bệnh nhân dậy thì sớm trung ương tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/2010-12/2013.

Trang 1

NỒNG ĐỘ CÁC NỘI TIẾT TỐ NỀN VÀ SAU KÍCH THÍCH

TRÊN BỆNH NHÂN DẬY THÌ SỚM TRUNG ƯƠNG

TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Huỳnh Thị Vũ Quỳnh*, Lê Minh Tường Vân*, Phạm Minh Thu**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định nồng độ LH, FSH, tỉ lệ LH/FSH, nồng độ Estradiol nền và sau khi làm nghiệm pháp

kích thích ở các bệnh nhân dậy thì sớm trung ương tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/2010-12/2013

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca

Kết quả: 159 trẻ dậy thì sớm trung ương được đưa vào lô nghiên cứu Nồng độ LH trung bình là 1,979 ±

2,208 mUI/ml, giá trị điểm cắt LH nền là 0,1; 0,3; 0,6 và 1 lần lượt có độ nhạy 96,7%; 76,4%; 60,2% và 53,7% trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương Nồng độ FSH trung bình là 4,224 ± 2,474 mUI/ml, Tỉ lệ LH nền / FSH nền trung bình là 0,447 ± 0,424, nồng độ LH đỉnh trung bình sau khi làm nghiệm pháp kích thích là 26,591 ± 22,68 Thời điểm LH≥5mUI/ml sau 30 phút để chẩn đoán DTS trung ương có độ nhạy 87,7% Tỉ lệ phần trăm tích lũy nồng độ LH LH≥5mUI/ml sau 60 phút, 120 phút lần lượt là 92,3% và 96,9% Nồng độ Estradiol trung bình ở bé gái 37,285 ± 33,025 pg/ml, nồng độ Testosterone trung bình ở bé trai: 186,76 ± 103,941 ng/dl 54,4% (81/149 trường hợp) bé gái có nồng độ Estradiol đạt mức dậy thì: 54,4% 87,5% (7/8 trường hợp) bé trai có nồng

độ Testosterone đạt mức dậy thì

Kết luận: Giá trị của LH nền và giá trị của LH đỉnh sau kích thích thay đổi tùy theo ngưỡng chẩn đoán dậy

thì sớm trung ương và thời điểm lấy máu khi làm nghiệm pháp kích thích Nồng độ Estradiol trong máu có thể không tăng trong dậy thì sớm trung ương ở nữ Hầu hết các trường hợp dậy thì sớm trung ương ở nam có nồng

độ testosterone đạt được mức dậy thì

Từ khóa: Dậy thì sớm trung ương, gonadotropin, estradiol, testosterone

ABSTRACT

BASAL AND STIMULATED LEVEL OF GONADOTROPIN AND STEROID HORMONE IN

PRECOCIOUS PUBERTY PATIENTS

AT CHILDREN’S HOSPITAL 2 Huynh Thi Vu Quynh, Le Minh Tuong Van, Pham Minh Thu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 1 - 2017: 321 - 326

Objectives: To determine the level of basal LH, FSH, LH/FSH ratio and level of LH, FSH, LH/FSH ration

after GnRH stimulation test in central precocious puberty (CPP) patients at Children’s hospital 2 from 1/2010-12/2013

Methods: Case-series study

Results: There were 159 precocious puberty cases.Mean basal LH: 1.979 mIU/Ml, the cut off 0.1; 0.3; 0.6

and 1of LH level had sensitivity 96.7%; 76.4%; 60.2% and 53.7%, respectively for CPP Mean basal FSH: 4.224

± 2.474 mUI/ml, Mean basal LH/FSH was 0.447 ± 0.424 After aGnRH stimulation test, mean peak LH was 26.591 ± 22.68 Time of LH ≥ 5mUI/ml at 30 minutes after aGnRH stimulaton test had sensitivity 87.7% The

* Đại học Y Dược, TPHCM, ** Bệnh viện Nhi đồng 2

Trang 2

cumulative rate of LH ≥ 5mUI/ml at 60 minutes, 120 minutes was 92.3% and 96.9%, respectively The mean level of estradiol in female was 37.285 ± 33.025 pg/ml, the mean level of testosterone was 186.76 ± 103.941 ng/dl 54.4% (81/149 cases of female) had pubertal estradiol level 87.5% (7/8 cases of male) had pubertal estosterone level

Conclusions: The value of basal LH and aGnRH stimulation LH depends on cut off and collection time of

blood samples The level of estradiol may not increase in female CPP Most case of male CPP had pubertal level of testosterone

Keywords: Central precocious puberty, gonadotropin, Estradiol, Testosterone

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dậy thì sớm ngày càng phổ biến trên thế giới

và ngay cả ở Việt Nam Tuổi khởi phát dậy thì có

khuynh hướng ngày càng giảm(1,8) Dậy thì sớm

dẫn đến nhiều vấn đề khác nhau, như các rối

loạn về hành vi ứng xử, tâm lý, lạm dụng tình

dục, có thai sớm, đặc biệt là ảnh hưởng đến

chiều cao khi trưởng thành(12)

Chẩn đoán dậy thì sớm trung ương khi

chứng minh được sự hoạt hóa trục hạ đồi –

tuyến yên – tuyến sinh dục sớm hơn tuổi dậy thì

bình thường của trẻ Quan trọng nhất là sự tăng

nồng độ LH trong máu trên ngưỡng dậy thì

Nồng độ LH nền một thời điểm có thể thay đổi

và có giá trị chẩn đoán khác nhau trong chẩn

đoán dậy thì sớm trung ương Tuy nhiên, tiêu

chuẩn vàng để chẩn đoán dậy thì sớm trung

ương nghiệm pháp kích thích Gonadotropin

bằng GnRH hoặc đồng vận của GnRH

Ở Việt Nam, vấn đề dậy thì sớm vẫn còn ít

nghiên cứu Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên

cứu này nhằm khảo sát các nồng độ của các nội

tiết tố Gonadotropin và các nội tiết tố sinh dục

cũng như giá trị của nó trong chẩn đoán dậy thì

sớm trung ương

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả trẻ đã chẩn đoán dậy thì sớm tại

bệnh viện Nhi Đồng 2 TP HCM từ tháng

1/2010-12/2013

Phương pháp lấy mẫu

Lấy trọn

Tiêu chí đưa vào

Tất cả trẻ được chẩn đoán dậy thì sớm trung tương tại bệnh viện Nhi Đồng 2 TP HCM từ tháng 1/2010-12/2013 với các tiêu chuẩn sau Tiêu chuẩn chẩn đoán dậy thì sớm trung ương:

• Phát triển một trong các đặc tính sinh dục thứ phát trước 8 tuổi ở trẻ nữ và trước 9 tuổi ở trẻ nam

• Trẻ nữ có kinh nguyệt trước 10 tuổi

• Nồng độ LH nền ≥ 0,3 mIU/ml (độ đặc hiệu 100%)

• Hoặc nghiệm pháp kích thích GnRH (+) (LH ≥ 5 mIU/ml) (tiêu chuẩn vàng)

Tiêu chuẩn loại trừ

Hồ sơ không làm đủ các xét nghiệm như bệnh án nghiên cứu

Thu thập dữ liệu

Hồi cứu hồ sơ tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán dậy thì sớm, chọn ra các trường hợp dậy thì sớm trung ương thõa mãn nghiên cứu (theo tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại ra) Ghi nhận các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng như tuổi, giới tính, tiền căn, cân nặng, chiều cao, BMI, lý

do nhập viện, các triệu chứng lâm sàng (vú to, lông mu, lông nách, kinh nguyệt, huyết trắng, tinh hoàn lớn, dương vật lớn), các kết quả cận lâm sàng như nồng độ FSH, LH, Estradiol, Testosteron nền và nồng độ FSH, LH, tỉ lệ LH/FSH sau khi nghiệm pháp kích thích bằng GnRH sau 30 phút, 60 phút và 120 phút Nồng

Trang 3

độ các nội tiết tố được đo bằng kỹ thuật hóa phát

quang (máy Architect thế hệ 3)

Xử lý số liệu

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

Các biến số định lượng trình bày dưới dạng

trung bình ± độ lệch chuẩn, các biến số định tính

trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ %

KẾT QUẢ

Từ 1/2010 đến 12/2013, tại bệnh viện Nhi

Đồng 2 có 159 trường hợp được chẩn đoán dậy

thì sớm trung ương

Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu (N=159)

Tỉ lệ Nam: nữ 18,875/1

Tuổi trung bình 7,17

Tuổi khởi phát trung bình 6,18

Tỉ lệ thừa cân, béo phì 60%

Chiều cao lớn hơn so với tuổi 35,8%

Nồng độ hormone sinh dục nền

Nồng độ LH trung bình là 1,979 ± 2,208

mUI/ml (nhỏ nhất: 0,07 mUI/ml, lớn nhất là

12,93 mUI/ml

Nồng độ FSH trung bình là 4,224 ± 2,474 mUI/ml (nhỏ nhất 0,242 mUI/ml, lớn nhất 21,41 mUI/ml)

Khi so sánh với nghiệm pháp kích thích Gonadotropin bằng aGnRH để chẩn đoán dậy thì sớm trung ương (LH đỉnh ≥ 5 mUI/ml), giá trị của ngưỡng của LH nền là 0,1; 0,3; 0,6;1 mUI/ml lần lượt có độ nhạy là 96,7%; 76,4%; 60,2% và 53,7%

Tỉ lệ LH nền/FSH nền

Tỉ lệ LH nền / FSH nền trung bình là 0,447 ± 0,424, nhỏ nhất là 0,013, lớn nhất là 2,241

Tỉ lệ bệnh nhân có LH/FSH nền ≥ 1 là 13%

Nghiệm pháp kích thích bằng aGnRH

Trong 159 bệnh nhân được chẩn đoán dậy thì sớm trung ương, có 130 bệnh nhân đượclàm nghiệm pháp kích thích Gonadotropin bằng aGnRH để chẩn đoán Các bệnh nhân còn lại do

có nồng độ LH nền đủ để chẩn đoán dậy thì sớm trung ương nên không được làm nghiệm pháp kích thích

Bảng 2: Nồng độ hormon hướng sinh dục và tỉ lệ LH/FSH trong nghiệm pháp kích thích bằng aGnRH (N=130)

LH 1,538 ± 1,469 22,066 ± 20,123 25,417 ± 21,99 22,269 ± 18,253 26,591 ± 22,68 FSH 3,828 ± 1,532 10,885 ± 6,759 14,255 ± 9,914 17,035 ± 12,242 17,282 ± 12,354 LH/FSH 0,386 ± 0,324 2,112 ± 1,462 1,939 ± 1,377 1,512 ± 1,129 2,168 ± 1,468

Hình 1: Diễn tiến nồng độ trung bình hormon hướng

sinh dục trong nghiệm pháp kích thíchbằng aGnRH

(N=130)

Độ nhạy của LH ≥ 5 mIU/mL để chẩn đoán

dậy thì sớm trung ương vào thời điểm 30 phút là

87,7% Tỉ lệ phần trăm tích lũy của LH ≥ 5

mIU/mL ở thời điểm 60 phút là 92,3%, ở thời điểm 120 phút là 96,9%

Nồng độ hormon estradiol (bé gái) và testosterone (bé trai)

Nồng độ Estradiol trung bình ở bé gái 37,285 ± 33,025 pg/ml (nhỏ nhất 5 pg/ml, lớn nhất 229 pg/ml)

Nồng độ Testosterone trung bình ở bé trai: 186,76 ± 103,941 ng/dl (nhỏ nhất 2,5 ng/dl, lớn nhất 337,8 ng/dl)

54,4% (81/149 trường hợp) bé gái có nồng độ Estradiol đạt mức dậy thì

87,5% (7/8 trường hợp) bé trai có nồng độ Testosterone đạt mức dậy thì

Trang 4

BÀN LUẬN

Nồng độ LH, FSH nền trong máu:

Điểm mấu chốt của dậy thì sớm trung ương

là tăng nồng độ LH máu Đây là xét nghiệm ban

đầu để tầm soát dậy thì sớm cùng với FSH,

estradiol máu ở nữ và testosterone máu ở nam(3)

Tương tự các xét nghiệm đo nồng độ hormone

sinh dục, các phương pháp định lượng LH cũng

cần có độ nhạy, độ đặc hiệu cao và các phòng xét

nghiệm cần thiết lập ngưỡng bình thường cho

trẻ em vì mỗi phương pháp xét nghiệm sẽ cho

kết quả định lượng LH khác nhau

Bảng 3: So sánh nồng độ hướng sinh dục nền giữa

các nghiên cứu

hợp

Nồng độ

LH nền trung bình (mIU/mL)

Nồng độ FSH nền trung bình (mIU/mL)

Han Kyul Kim(9) 128 0,42 3,14

Yehonatan Pasternak(11) 42 0,87 3,5

Hyo-Kyoung Nam(9) 574 1,2 2,7

Huseyin Demirbilek(5) 142 1,2 _

Doosoo Kim(1) 148 1,8 2,6

Elena Chiocca(10) 17 1,9 4,1

Parvin Yazdani(13) 58 1,96 3,68

Chúng tôi 152 1,979 4,224

Như vậy, nồng độ LH nền thay đổi qua

nhiều nghiên cứu khác nhau, có thể do sự khác

nhau về thiết kế nghiên cứu, độ nhạy và độ

chuyên của thiết bị phương pháp đo Trong đó,

nghiên cứu của chúng tôi có LH nền tương

đương với nghiên cứu của Parvin Yazdani (p =

0,913); nghiên cứu của Elena Chiocca (p = 0,658)

và nghiên cứu của Doosoo Kim (p = 0,318)

Qua khảo sát các điểm cắt LH nền 1

mIU/mL; 0,6 mIU/mL; 0,3 mIU/mL; 0,1 mIU/mL,

ta thấy rằng chọn điểm cắt LH nền càng thấp thì

độ nhạy càng cao (càng ít bỏ sót các trường hợp

dậy thì sớm trung ương thực sự - so với tiêu

chuẩn vàng là nghiệm pháp kích thích bằng

GnRH) Tuy nhiên, độ đặc hiệu sẽ càng thấp

Với điểm cắt LH nền 0,6 mIU/mL, theo

nghiên cứu của Brito VN và cộng sự, có độ nhạy

là 71% ở bé trai; 63% ở bé gái; độ đặc hiệu là 100% ở cả hai giới(7)

Với điểm cắt LH nền 0,1 mIU/mL, theo nghiên cứu của Parvin Yazdani và cộng sự, độ nhạy ở bé trai là 100%, ở bé gái là 67% Ngoài

ra, nồng độ LH nền > 0,1 mIU/mL cũng có liên quan mạnh với nồng độ LH > 5 mIU/mL trong nghiệm pháp kích thích bằng GnRH (r = 0,842;

p = 0,0001)(13) Trong khi đó, nghiên cứu của Neely EK và cộng sự cho thấy điểm cắt nồng

độ LH nền > 0,1 mIU/mL có độ nhạy 94% và

độ đặc hiệu 88% trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương(10)

Theo Han Kyul Kim, nồng độ LH nền càng cao càng gợi ý nghiệm pháp kích thích bằng GnRH dương tính, tuy nhiên, nồng độ LH nền thấp lại không thể loại trừ dậy thì sớm trung ương Do đó, nồng độ LH nền không nên là dấu chứng đơn độc cho chẩn đoán dậy thì sớm trung ương(9)

Tỉ lệ LH nền/FSH nền

Tương tự sự thay đổi của FSH và LH, tỉ lệ LH/FSH nền cũng có những thay đổi tương ứng

Tỉ lệ này trong nghiên cứu của chúng tôi là 0,447 Theo tác giả Han Kyul Kim, khi khảo sát trên 128 trường hợp dậy thì sớm trung ương, tỉ lệ LH/FSH nền là 0,14(9) Còn theo tác giả Yehonatan Pasternak, tỉ lệ này là 0,19(11) Điều này được lý giải là trong giai đoạn sớm của dậy thì FSH vẫn tăng trội hơn LH Tuy nhiên, tỉ lệ này sẽ tăng lên trong giai đoạn muộn của dậy thì hoặc khi làm nghiệm pháp kích thích

Nghiệm pháp kích thích bằng GnRH

Nồng độ FSH, LH đỉnh

Nồng độ LH đỉnh trung bình trong nghiệm pháp của chúng tôi (26,591 mIU/mL) tương đương với nghiên cứu của Elena Chiocca (25,7 mIU/mL)(p = 0,659)(10), cao hơn

so với các nghiên cứu của Han Kyul Kim (8,82 mUI/ml), Doosoo Kim (10,8 mUI/L)(1, 9).Khác biệt này có thể do trong nghiên cứu của chúng tôi, nghiệm pháp kích thích bằng GnRH được thực hiện trên cả những bệnh nhi có LH nền ≥

Trang 5

0,3 mIU/mL, còn trong các nghiên cứu của

Han Kyul Kim và Doosoo Kim, nghiệm pháp

kích thích bằng GnRH chỉ được thực hiện khi

LH nền thấp hơn điểm cắt chẩn đoán dậy thì

sớm trung ương Ngoài ra, sự khác biệt giữa

nồng độ LH đỉnh còn tùy thuộc vào phương

pháp đo và thời gian lấy máu trong nghiệm

pháp trong các nghiên cứu khác nhau

Mặc dù nồng độ FSH có tăng lên trong

nghiệm pháp kích thích bằng GnRH, nhưng

nồng độ FSH đỉnh không có sự khác biệt giữa

hai nhóm dậy thì sớm trung ương và phát

triển sớm tuyến vú đơn độc (p = 0,748 theo

nghiên cứu của Han Kyul Kim và cộng sự(9)

Do đó, nồng độ FSH không có giá trị trong

chẩn đoán dậy thì sớm trung ương Khi đo

nồng độ hormon sinh dục nền và trong

nghiệm pháp kích thích bằng GnRH, các bác sĩ

lâm sàng cũng như các nhà nghiên cứu chỉ chú

trọng đến nồng độ LH

Thời điểm LH đạt nồng độ ≥ 5 mIU/mL

Trong đa số các trường hợp, LH đạt nồng độ

≥ 5 mIU/mL sau nghiệm pháp 30 phút (87%)

Nếu chỉ đo nồng độ LH ở thời điểm 30 phút và

60 phút sẽ bỏ sót 4,6% trường hợp dậy thì sớm

trung ương, nếu chỉ đo nồng độ LH ở thời điểm

30 phút sẽ bỏ sót khoảng 9% trường hợp dậy thì

sớm trung ương

Theo nghiên cứu của Han Kyul Kim và cộng

sự, phần trăm tích lũy của nồng độ LH nền ≥ 5

mIU/mL ở thời điểm 30 phút và 45 phút là 100%;

điểm cắt nồng độ LH 4,99 mIU/mL ở thời điểm

45 phút có độ nhạy 98,4% và độ đặc hiệu 100%

trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương Nhiều

nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, nồng độ

LH trong nghiệm pháp kích thích bằng GnRH

giữa hai thời điểm 30 phút và 60 phút đủ để

chẩn đoán dậy thì sớm trung ương(9) Tuy nhiên,

điểm cắt nồng độ LH và thời gian đạt điểm cắt

đó trong nghiệm pháp còn tùy thuộc vào

phương pháp và dụng cụ đo Tại Việt Nam nói

chung và bệnh viện Nhi Đồng 2 nói riêng nên có

thêm nhiều nghiên cứu để có được điểm cắt và

thời gian lấy máu tối ưu, nhằm làm giảm chi phí, thời gian và khó chịu cho bệnh nhi khi thực hiện nghiệm pháp kích thích bằng aGnRH

Tỉ lệ LH/FSH đỉnh

Tỉ lệ LH/FSH đỉnh trong nghiên cứu của chúng tôi là 2,168 cao hơn của tỉ lệ LH/FSH trong nghiên cứu của Han Kyul Kim (0,74)(9).Còn theo tác giả Doosoo Kim nghiên cứu trên 148 trường hợp dậy thì sớm trung ương, tỉ lệ này là 0,8(1) Do nồng độ LH nền và nồng độ LH đỉnh trong nghiên cứu của chúng tôi tương đối cao so với các nghiên cứu khác, như đã nói ở trên, nên tỉ lệ

LH nền/FSH nền và tỉ lệ LH/FSH đỉnh của chúng tôi cũng cao hơn so với các nghiên cứu khác Khác biệt này có thể do thiết kế nghiên cứu, cách thức và phương pháp đo nồng độ các hormon trong máu

Do vai trò của nồng độ LH nền, LH đỉnh ngày càng rõ rệt, trên lâm sàng ngày càng ít sử dụng giá trị LH/FSH trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 13% bệnh nhi có LH/FSH nền ≥ 1, từ

đó có thể nhận thấy rằng, tỉ lệ LH/FSH nền không phải là dữ liệu đáng tin cậy để chẩn đoán dậy thì sớm trung ương Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Han Kyul Kim và cộng sự, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ LH/FSH nền; tỉ

lệ LH/FSH đỉnh ở hai nhóm dậy thì sớm trung ương và phát triển tiến vú sớm (p < 0,001) Với tỉ

lệ LH nền/FSH nền > 0,2, độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương lần lượt

là 36,7% và 97,4%(9)

Nồng độ hormon estradiol (bé gái) và testosterone (bé trai):

Nồng độ Estradiol trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 37,285 pg/ml, thấp hơn nồng độ Estradiol trong nghiên cứu của Elana Chiocca(10), nhưng cao hơn nồng độ trong nghiên cứu của Doosoo Kim (12,2 pg/ml) và Han Kyul Kim (12,91 mUI/L)(1,9) Tương tự với tỉ lệ LH/FSH, nồng độ estradiol trong máu thường chỉ được dùng để đánh giá giai đoạn dậy thì, ít được sử dụng trong chẩn đoán phân biệt dậy thì sớm

Trang 6

trung ương trên lâm sàng Theo nghiên cứu của

Doosoo Kim và cộng sự, nồng độ estradiol ở trẻ

dậy thì sớm trung ương cao hơn so với trẻ phát

triển tuyến vú sớm và nhóm chứng (p < 0,05);

không có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

nồng độ estradiol ở hai nhóm phát triển tuyến

vú sớm và nhóm chứng(1)

Trong những bé gái dậy thì sớm trung

ương trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có

54,4% các trường hợp có nồng độ estradiol nền

trong máu đạt mức dậy thì (≥ 25 pg/mL) Điều

này có thể được giải thích do nồng độ

estradiol trong máu thay đổi theo chu kì

buồng trứng, nên khi đo nồng độ estradiol

trong máu ở một thời điểm bất kì trong chu kì,

có thể không đạt được nồng độ dậy thì Do đó,

nồng độ estradiol nền trong máu không phải

là một dấu chứng nhạy để đánh giá dậy thì

Khác với bệnh nhân nữ, đa số các trẻ trai dậy

thì sớm trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ

testosterone tăng trên ngưỡng dậy thì Điều này

có thể là bệnh nhân dậy thì sớm trung ương đến

với chúng tôi giai đoạn muộn hơn, khi mà đã có

sự phát triển của nhiều đặc tính sinh dục thứ

phát như tinh hoàn, dương vật, phát triển lông

và thay đổi giọng nói

KẾT LUẬN

Giá trị của ngưỡng của LH nền là 0,1; 0,3;

0,6;1 mUI/ml lần lượt có độ nhạy là 96,7%;

76,4%; 60,2% và 53,7% trong chẩn đoán dậy thì

sớm trung ương 87% bệnh nhân có đạt được

ngưỡng chẩn đoán vào thời điểm 30 phút Các

xét nghiệm nội tiết tố có vai trò quan trọng

trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương trong

đó quan trọng nhất là nồng độ LH trong máu

Tuy nhiên, giá trị ngưỡng LH nền và LH sau

kích thích, cũng như thời điểm tối ưu để đạt

được đỉnh LH vẫn còn thay đổi và có độ nhạy,

độ đặc hiệu khác nhau trong chẩn đoán dậy

thì sớm trung ương Cần có các nghiên cứu có

cỡ mẫu lớn hơn và đa trung tâm để tìm được

ngưỡng LH nền, LH đỉnh sau kích thích và

thời điểm lấy máu thích để có giá trị cao và

tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân trong chẩn đoán dậy thì sớm trung ương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anderson SE, Dallal GE, Must A (2003), Relative weight and race influence average age at menarche: results from two nationally representative surveys of US girls studied 25 years

apart Pediatrics, 111: 844-850

2 Anderson SE, Must A (2005) Interpreting the Continued Decline in the Average Age at Menarche: Results from Two Nationally Representative Surveys of U.S Girls Studied 10

Years Apart The Journal of pediatrics, 147: 753-760

3 Brito VN, Batista CM, et al (1999), Diagnostic Value of Fluorometric Assays in the Evaluation of Precocious Puberty

1, The Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism, 84:

3539-3544

4 Chiocca E, Dati E, Baroncelli GI, et al (2012), Central precocious puberty: treatment with triptorelin 11.25 mg

ScientificWorldJournal, 2012: 1-6

5 Demirbilek H, Alikasifoglu A, Gonc NE, Ozon A, Kandemir

N (2012), Assessment of gonadotrophin suppression in girls treated with GnRH analogue for central precocious puberty; validity of single luteinizing hormone measurement after

leuprolide acetate injection Clinical endocrinology, 76: 126-130

6 Houk CP, Kunselman AR, Lee PA (2009), Adequacy of a single unstimulated luteinizing hormone level to diagnose

central precocious puberty in girls Pediatrics, 123: e1059-1063

7 Kim D, Cho SY, Maeng SH, et al (2012), Diagnosis and constitutional and laboratory features of Korean girls referred

for precocious puberty Korean journal of pediatrics, 55: 481-486

8 Kim HK, Cho, Kee SJ, Seo JY, Jang EM, Chae HJ, Kim CJ

(2011), Gonadotropin-releasing hormone stimulation test for

precocious puberty The Korean journal of laboratory medicine,

31: 244-249

9 Nam HK, Rhie YJ, Son CS, Park SH, Lee KH (2012) Factors to predict positive results of gonadotropin releasing hormone stimulation test in girls with suspected precocious puberty J Korean Med Sci 2012 Feb;27(2): 194-9 doi: 10.3346/jkms 2012.27.2.194

10 Neely EK, Wilson DM, Lee PA, Stene M, Hintz RL (1995), Spontaneous serum gonadotropin concentrations in the

evaluation of precocious puberty The Journal of pediatrics, 127:

47-52

11 Pasternak Y, Friger M, Loewenthal N, Haim A, Hershkovitz E (2012), The utility of basal serum LH in prediction of central

precocious puberty in girls European Journal of Endocrinology,

166: 295-299

12 Sun L, Guo X, Zhang J, et al (2016), Gender specific associations between early puberty and behavioral and

emotional characteristics in children Zhonghua Liu Xing Bing Xue Za Zhi, 37: 35-39

13 Yazdani P, Lin Y, Raman V, Haymond M (2012), A single sample GnRHa stimulation test in the diagnosis of precocious

puberty Int J Pediatr Endocrinol, 2012: 23

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 18/11/2016 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2017

Ngày đăng: 14/01/2020, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w