1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tỷ lệ và đặc điểm bệnh nhân ung thư biểu mô vảy đầu - cổ tại Bệnh viện Trung Ương Huế

7 82 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 802,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát sự phân bố và một số đặc điểm các ung thư biểu mô vảy đầu - cổ tại Bệnh viện Trung ương Huế. Nghiên cứu cung cấp số liệu về sự phân bố vị trí và đặc điểm bệnh nhân ung thư biểu mô vảy đầu - cổ được xạ trị tại Bệnh viện Trung ương Huế.

Trang 1

Phạm Nguyên Tường1

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát sự phân bố và một số đặc điểm các ung thư biểu mô vảy đầu- cổ tại Bệnh viện

Trung ương Huế.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 599 bệnh nhân ung thư biểu mô vảy đầu- cổ vào

xạ trị tại Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Trung ương Huế trong 5 năm 2010-2014 Xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 16.0.

Kết quả: 77 trường hợp ung thư tái phát, chiếm tỷ lệ 12,9% Ung thư vòm họng thường gặp nhất,

chiếm 37,2% Ung thư khoang miệng và họng miệng chiếm 47,7% Trong ung thư khoang miệng, thường gặp nhất là ung thư lưỡi (12,6%), sàn miệng (10,9%), niêm mạc lợi hàm (5,4%), amygdales (4,0%) và đáy lưỡi (3,4%) Tuổi trung bình: 56,53 (7- 95 tuổi) Bệnh nhân trẻ tuổi (≤ 40) chiếm 11,5% Tỷ lệ Nam/Nữ: 3/1 44,1% các trường hợp ở giai đoạn T3 Giai đoạn N2 thường gặp nhất, chiếm 37,4% Bệnh chủ yếu ở giai đoạn III (37,7%) và IV (40,6%) Ung thư biểu mô không biệt hóa loại vòm họng (UCNT) chỉ có 84/194 trường hợp ung thư vòm họng (43,3%) Có đến 101 trường hợp (19,5%) chỉ thông báo chẩn đoán ung thư biểu mô vảy mà không có xác định độ biệt hóa tế bào.

Kết luận: Nghiên cứu cung cấp số liệu về sự phân bố vị trí và đặc điểm bệnh nhân ung thư biểu mô vảy

đầu - cổ được xạ trị tại Bệnh viện Trung ương Huế.

Từ khóa: ung thư biểu mô vảy, ung thư đầu- cổ

ABSTRACT

SQUAMOUS CELL CARCINOMA OF HEAD AND NECK:

DISTRIBUTION AND CHARACTERISTICS OF PATIENTS

Pham Nguyen Tuong 1

Objective: To study the distribution and characteristics of patients with squamous cell carcinoma of

head and neck at Hue Central Hospital Vietnam.

Methods and Materials: Retrospective study of 599 patients with squamous cell carcinoma of head

and neck performed radiation therapy with or without operation and chemotherapy Radiation Oncology Department, Oncology Center, Hue Central Hospital of Vietnam during 5 years (2010-2014) Data processing with SPSS 16.0 for Windows.

Results: 77 cases of recurrence accounts for 12.9% Nasopharyngeal carcinoma is most common with

37.2% Carcinoma of oral cavity and oropharynx accounts for 47.7% Among oral cavity, the site distribution

ucosa, amygdales and base of tongue is 12.6%, 10.9%, 5.4%, 4.0%,

1 Bệnh viện TW Huế - Ngày nhận bài (Received): 27/7/2018; Ngày phản biện (Revised): 14/8/2018;

- Ngày đăng bài (Accepted): 27/8/2018

- Người phản hồi (Corresponding author): Phạm Nguyên Tường

- Email: phamnguyentuongubhue@gmail.com, ĐT: 0913493432

VẢY ĐẦU - CỔ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

Trang 2

3.4%, respectively Mean age is 56.53 (7- 95 years old) Patients under 40 years old accounts for 11.5% Male/Female ratio is 3/1 44.1% of patients at T3 stage, 37.4% at N2, disease stage at III and IV is 37.7% and 40.6%, respectively Type III WHO histology (Undifferentiated carcinoma of nasopharynx type- UCNT) accounts for 43.3%, lower than other studies in the same epidemic region 19.5% of cases only got the histological diagnosis of squamous cel carcinoma without cell differentiation.

Conclusion: The study contributed the data of the site distribution and characteristics of patients with

squamous cell carcinoma of head and neck performed radiation therapy at Hue Central Hospital, Vietnam.

Key words: squamous cell carcinoma, head and neck cancer.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo GLOBOCAN 2012, hàng năm có hơn

14,1 triệu ca mắc mới và 8,2 triệu ca tử vong ung

thư Riêng với các ung thư của vùng đầu- cổ:

1.240.643 ca mắc mới và hơn 600.000 ca tử vong

[7] Các ung thư biểu mô vùng đầu- cổ xuất phát từ

bề mặt niêm mạc trong khu vực đầu- cổ và thường

có nguồn gốc là tế bào vảy (gai) Các thể này bao

gồm khối u của xoang cạnh mũi, khoang miệng,

vòm họng, họng miệng, hạ họng và thanh quản

Ung thư tuyến nước bọt, tuyến giáp, da hoặc các

lymphoma vùng Waldayer thì khác biệt về mặt

sinh bệnh học, mô bệnh học, biểu hiện lâm sàng,

và điều trị Tỷ lệ mắc chuẩn gia tăng chủ yếu do

sự thay đổi về quy mô và cấu trúc tuổi của dân

số Tỷ lệ mắc bệnh ung thư biểu mô vảy đầu- cổ

và tỷ lệ sống còn liên quan đến mức sống xã hội

[11] Tại Việt Nam, những nghiên cứu dịch tễ học

ung thư thường tập trung ghi nhận tỷ lệ mắc các

loại ung thư riêng biệt; với các ung thư đầu- cổ

được chia làm 3 phần: vòm họng, khoang miệng-

họng miệng và hạ họng- thanh quản Theo đó tỷ

lệ mắc chuẩn theo tuổi (ASR) ung thư vòm họng,

khoang miệng và hạ họng- thanh quản năm 2010

lần lượt là 7,5/100.000 dân, 4,6/100.000 dân và

2,8/100.000 dân (ở nam) và 3,2/100.000 dân và

1,7/100.000 dân- không ghi nhận ung thư hạ họng-

thanh quản (ở nữ) [1] Ghi nhận ung thư tại tỉnh

Thừa Thiên Huế cũng cho biết các ung thư đầu- cổ

chiếm 9,09% các loại ung thư trong đó 9,82% ở

nam và 8,17% ở nữ [3] Các ghi nhận ung thư ở

Việt Nam không phân chia các vị trí ung thư cụ thể

vùng khoang miệng và họng miệng

Mục tiêu của đề tài nhằm góp phần cung cấp số liệu về tỷ lệ và một số đặc điểm các ung thư đầu- cổ, đặc biệt là các vị trí của ung thư khoang miệng và họng miệng

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng

Tất cả các ung thư biểu mô vảy đầu- cổ không di căn xa (M0) có chỉ định xạ trị (đơn thuần hoặc phối hợp) tại Trung tâm Ung Bướu, Bệnh viện Trung ương Huế trong 5 năm: 2010- 2014

2.2 Phương pháp

- Đây là nghiên cứu hồi cứu

- Thu thập thông tin bao gồm: họ tên, tuổi, giới, loại bệnh (vị trí) ung thư, ung thư tiên phát hay tái phát, giai đoạn u (T), hạch (N), giai đoạn bệnh, độ biệt hóa tế bào

- Phân tích và xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 16.0

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ năm 2010- 2014, có 599 bệnh nhân ung thư biểu mô vảy đầu- cổ được chỉ định xạ trị tại Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Trung ương Huế

Đặc điểm ung thư

Bảng 1 Đặc điểm ung thư

Có 77 trường hợp ung thư tái phát, chiếm tỷ lệ 12,9%

Trang 3

Vị trí ung thư nguyên phát (n=522)

Bảng 2 Vị trí ung thư

Vòm họng

Khoang miệng/Họng miệng

Lưỡi di động

Đáy lưỡi

Môi

Khẩu cái

Sàn miệng

Niêm mạc lợi hàm

Amygdales

Niêm mạc góc hàm

Niêm mạc má

Thành bên họng

Thanh quản

Hạ họng

194 66 18 5 32 57 28 21 9 9 4 33 46

37,2 12,6 3,4 1,0 6,1 10,9 5,4 4,0 1,7 1,7 0,8 6,3 8,8

Ung thư vòm họng thường gặp nhất, chiếm 37,2%

Ung thư khoang miệng và họng miệng chiếm 47,7%

Trong ung thư khoang miệng, thường gặp nhất là ung

thư lưỡi (12,6%), sàn miệng (10,9%), niêm mạc lợi

hàm (5,4%), amygdales (4,0%) và đáy lưỡi (3,4%)

Bảng 3: Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi trung bình: 56,53 (7- 95)

≤ 40 tuổi

> 40 tuổi

Nam

Nữ

T1

T2

T3

T4

N0

N1

N2

N3

I II III

IV

60 462 391 131 17 161 230 114 139 154 195 34 7 106 197 212

11,5 88,5 74,9 25,1 3,3 30,8 44,1 21,8 3,3 30,8 44,1 21,8 1,3 20,3 37,7 40,6

Tỷ lệ Nam/Nữ: 3/1

44,1% các trường hợp ở giai đoạn T3

Giai đoạn N2 thường gặp nhất, chiếm 37,4%

Bệnh chủ yếu ở giai đoạn III (37,7%) và IV

(40,6%)

Độ biệt hóa tế bào

Bảng 4 Mô bệnh học và độ biệt hóa tế bào

Biệt hóa tốt Biệt hóa vừa Biệt hóa kém Không biệt hóa Không sừng hóa Sừng hóa UCNT Không ghi nhận

120 91 100 8 12 5 84 101

23,0 14,7 19,2 1,5 2,3 1,0 16,1 19,5

Ung thư biểu mô không biệt hóa loại vòm họng (UCNT) chỉ có 84/194 trường hợp ung thư vòm họng (43,3%)

Có đến 101 trường hợp (19,5%) chỉ thông báo chẩn đoán ung thư biểu mô vảy mà không có xác định độ biệt hóa tế bào

Ung thư vòm họng ở bệnh nhân ≤ 30 tuổi

Bảng 5 Đặc điểm bệnh nhân ung thư vòm ≤ 30 tuổi

Tỷ lệ 23/194 11,9

Giới

Nam Nữ

T

T1 T2 T3

N

N0 N1 N2 N3

Giai đoạn

II III IVA IVB

Mô bệnh học

UCNT Ung thư biểu mô vảy

14 9 2 9 12 5 2 10 6 2 8 9 4 7 16

60,9 39,1 8,7 39,1 52,2 21,7 8,7 43,4 26,1 8,6 34,8 39,1 17,4 30,4 69,6 11,9% các bệnh nhân ung thư vòm họng dưới

≤ 30 tuổi

91,4% các bệnh nhân ở giai đoạn III và IV Không có giai đoạn I

Trang 4

IV BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm ung thư

Trong nghiên cứu này, có 77 bệnh nhân được

chẩn đoán tái phát, chiếm 12,9% Tái phát là một

trong những đặc điểm quan trọng và cơ bản của

bệnh ung thư Tỷ lệ tái phát tùy thuộc vào giai đoạn

bệnh, mức độ xâm lấn của khối u, mức độ di căn

hạch cổ, tuổi và thể trạng bệnh nhân Với các ung

thư biểu mô vảy đầu- cổ tái phát, điều trị lại chủ yếu

là xạ trị Vai trò của phẫu thuật khá hạn chế, nhiều

biến chứng Có thể chỉ định phẫu thuật cho các

trường hợp ung thư đầu- cổ tái phát tại hạch Trong

phần lớn các trường hợp, đòi hỏi vét hạch vùng triệt

để; mặc dù có có khăn nhất định về mặt kỹ thuật

khi một hay nhiều hạch tái phát dính chặt vào nhau

và vào tổ chức xung quanh (thần kinh, mạch máu)

rất khó bóc tách Hóa trị được chỉ định cho ung thư

đầu- cổ tái phát (có hoặc không có kèm di căn xa)

Các tác nhân đơn hóa trị như Cisplatin, Doxorubcin,

nhóm Taxane được xem là có tác dụng trên bệnh

này Phần lớn các phác đồ phối hợp có hiệu quả trên

ung thư biểu mô vảy đều dựa trên nền Cisplatin

Những phác đồ phối hợp khác như xạ- phẫu định vị,

xạ hóa đồng thời… có thể giúp tăng kiểm soát bệnh,

cải thiện sống thêm [4]

4.2 Vị trí ung thư

Bảng 2 cho thấy ung thư vòm họng thường gặp

nhất, chiếm 37,2% Ung thư khoang miệng (oral

cavity) và họng miệng (oropharynx) chiếm 47,7%,

trong đó thường gặp nhất là ung thư lưỡi (12,6%),

sàn miệng (10,9%), niêm mạc lợi hàm (5,4%),

amygdales (4,0%) và đáy lưỡi (3,4%)

Nghiên cứu của Pierre Graff và cs trên 134 bệnh

nhân cho thấy, tỷ lệ các phân vùng như sau: khoang

miệng 11.2%, vòm họng- họng miệng 73,1% và hạ

họng- thanh quản 15,7% [8]

Theo Nguyễn Bá Đức và cs., tỷ lệ mắc chuẩn theo

tuổi (ASR) của ung thư vòm họng tại Việt Nam luôn

cao nhất trong các ung thư đầu- cổ: 7,5/100.000 dân

đối với nam và 3,2/100.000 dân đối với nữ [1] Dựa

trên tần suất của ung thư vòm họng, người ta phân

chia các vùng địa lý trên thế giới thành những vùng

có tần suất cao, trung bình và thấp Những vùng có tần suất ung thư vòm họng cao tập trung ở miền Nam Trung Quốc và Hong Kong Trong đó Quảng Đông là vùng có tần suất ung thư vòm họng cao nhất thế giới, thay đổi từ 20-50/100.000 ở nam giới

Vì vậy ung thư vòm họng còn có tên gọi là “ung thư Quảng Đông” Theo số liệu của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế, hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 80.000 ca ung thư vòm họng mới và 50.000

ca tử vong, chỉ riêng Trung Quốc đã chiếm đến 40% trong các tổng số này Những vùng có tần suất ung thư vòm họng ở mức trung bình bao gồm các nước Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Philipines, Việt Nam…, giống dân Eskimos ở vùng Bắc Cực, một số nước Bắc Phi và Trung Đông [5] Khoang miệng bao gồm phần 2/3 trước lưỡi (lưỡi

di động), sàn miệng, niêm mạc má, khẩu cái cứng

và niêm mạc lợi hàm, môi Ung thư khoang miệng chiếm khoảng 30% các ung thư vùng đầu- cổ [5] Tổng hợp tỷ lệ các vị trí ung thư này theo bảng 2 cho thấy ung thư khoang miệng chiếm 33,3% các ung thư đầu- cổ, phù hợp với y văn Hai vị trí ung thư khoang miệng thường gặp nhất là ung thư lưỡi (12,6%) và ung thư sàn miệng (10,9%) Theo Vincent T Devita và cs., tỷ lệ mắc bệnh ung thư sàn miệng là 0,6/100.000 dân, và ước tính có 6200 trường hợp ung thư lưỡi được chẩn đoán mới mỗi năm tại Hoa Kỳ Độ tuổi mắc bệnh trung bình là 60,

tỷ lệ nam: nữ là 3:1 [11]

Họng miệng bao gồm amydales (hố amydales và các trụ amydales), đáy lưỡi, mặt dưới của khẩu cái mềm và lưỡi gà, thành sau họng Ung thư họng miệng ước tính xảy ra ở khoảng 4000 bệnh nhân mỗi năm tại Hoa Kỳ Tỷ lệ mắc ung thư họng miệng chiếm khoảng 1,5-3% trong tất cả các loại ung thư nói chung

và chiếm khoảng 18-20% trong các ung thư đầu- cổ Trong nghiên cứu này, các ung thư họng miệng (đáy lưỡi amgdales, thành bên họng) chiếm 8,2% các ung thư đầu- cổ; nếu tính thêm cả khẩu cái cứng và khẩu cái mềm (6,1%) thì tỷ lệ là 14,3% Ba vị trí ung thư

Trang 5

họng miệng thường gặp nhất là niêm mạc khẩu cái

(6,1%), amygdales (4,0%) và đáy lưỡi (3,4%)

Ung thư hạ họng gặp nhiều hơn ung thư thanh

quản, tỷ lệ lần lượt là 8,8% và 6,3% Tỷ lệ này trái

ngược với nhiều nghiên cứu, có thể do những khác

biệt về chọn mẫu Theo nhiều nghiên cứu, ung thư

thanh quản chiếm phổ biến ở các nước Âu Mỹ,

chiếm 2% tổng số ung thư, tỉ lệ mắc mới từ 2,5

-17,2/100.0000 dân/ năm, hay gặp ở nam giới, tuổi

trung bình 50 -70; trong khi đó ung thư hạ họng hiếm

gặp hơn, chiếm 10% ung thư biểu mô vảy vùng đầu-

cổ, nam/nữ khoảng 3/1, tuổi trung bình 60 Tại Việt

Nam, tỷ lệ mắc ung thư thanh quản 2,3/100.000 dân

ở nam và 0,4/100.000 dân ở nữ, ung thư hạ họng

2,8/100.000 dân ở nam và 0,3/100.000 dân ở nữ [2]

4.3 Tuổi và giới

Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình là 56,53

(7- 95 tuổi)

Nghiên cứu của Phạm Hữu Nhân về ung thư

hạ họng cho thấy tuổi trung bình mắc bệnh là 55

± 11,39 tuổi, trong đó nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất

là nhóm 40-60 tuổi, với tỷ lệ là 68,8 % [2] Nhiều

nghiên cứu trong và ngoài nước cũng cho biết độ

tuổi thường gặp nhất của ung thư đầu- cổ là 50-

70 tuổi, tuổi trung bình 60 Nghiên cứu của Pierre

Graff và cs trên 134 bệnh nhân gồm 67 bệnh nhân

là kỹ thuật 3D-CRT và 67 bệnh nhân làm kỹ thuật

IMRT, tuổi trung bình ở 2 nhóm là 57,7 ± 10,7 và

54,5 ± 11,9 [8]

Ung thư vòm mũi họng có thể gặp ở mọi lứa

tuổi, tuy vậy thường gặp nhất vẫn là từ 40-60 tuổi

Tỉ lệ ung thư vòm mũi họng tăng lên rõ rệt sau 30

tuổi, đạt đỉnh 40-59 tuổi và giảm dần sau đó [5,6]

Trong khảo sát ngày, người cao tuổi nhất 95 tuổi

là bệnh nhân nam, ung thư sàn miệng T2N0M0

Người nhỏ tuổi nhất 7 tuổi là bệnh nhân nữ, ung thư

vòm họng T3N2M0

Điều đáng lưu ý trong khảo sát này là, tỷ lệ bệnh

nhân ≤ 40 tuổi tương đối cao 11,5% Tương tự như

vậy, tỷ lệ bệnh nhân ung thư vòm họng ≤ 30 tuổi là

11,9% Các nghiên cứu của Ngô Thanh Tùng và Từ

Thị Thanh Hương (được trích dẫn trong nghiên cứu của Phạm Hữu Nhân) về ung thư hạ họng– thanh quản tại Bệnh viện K Hà Nội từ 2005-2008 cho biết không có bệnh nhân nào dưới 30 tuổi [2] Nghiên cứu của Thomas R K và cs trên 60 bệnh nhân ung thư đầu- cổ, tỷ lệ bệnh nhân < 39 tuổi là 5% [10]

Về giới, tỷ lệ nam/ nữ là 3/1, phù hợp với các nghiên cứu khác Với một số vị trí ung thư riêng biệt,

tỷ lệ này có thể thay đổi Ví dụ, ung thư khẩu cái, nam/nữ là 8/1 Hoặc trong ung thư thanh quản- hạ họng, nam giới gặp nhiều hơn nữ giới, vào những năm 50 của thế kỷ XX có thể gấp 15- 25 lần Tuy nhiên tỷ lệ này đang giảm dần, đến nay chỉ còn gấp 5 đến 10 lần, lý do có thể được giải thích là ngày càng gia tăng tỷ lệ phụ nữ hút thuốc lá và uống rượu [11]

4.4 Giai đoạn ung thư

4.4.1 Khối u

Phần lớn khối u ở giai đoạn xâm lấn, 65,9% ở giai đoạn T3 và T4, trong đó T3 là 44,1% Nhiều nghiên cứu về ung thư đầu- cổ trên thế giới với những cỡ mẫu khác nhau, tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn T3 và T4 thay đổi từ 50- 90%, thậm chí trong nghiên cứu của René- Jean Bensadoun và cs về ung thư họng miệng và hạ họng trên 163 bệnh nhân không có bệnh nhân nào ở T1 và T2 [9]

Nghiên cứu của Đặng Huy Quốc Thịnh trên 235 bệnh nhân ung thư vòm, cho thấy T3 và T4 chiếm 61,7% bao gồm 41,3% ở giai đoạn T3 [6] Nghiên cứu của Phạm Hữu Nhân về ung thư hạ họng cho thấy, giai đoạn T3-T4 là 82,3% (T3 79,4%), của

Từ Thị Thanh Hương 78,4% (T3 là 54,9), của Ngô Thanh Tùng (81,6%), của Valentina Krstevska (61%), của Shyh Kuan Tai (78,6%), của Susan G Urba (58%) [2]

4.4.2 Hạch cổ

Trong nghiên cứu này, giai đoạn N2 thường gặp nhất, chiếm 37,4% Tỷ lệ giai đoạn hạch khác nhau tùy theo các nghiên cứu Nghiên cứu của René- Jean Bensadoun và cs cho thấy 57,7% ở giai đoạn N2 [9] Trong nghiên cứu của Đặng Huy Quốc Thịnh, giai đoạn N2 thường gặp nhất, 57,4%, giai

Trang 6

đoạn N3 là 36,2% [6] Nghiên cứu của Phạm Hữu

Nhân về ung thư hạ họng, giai đoạn N1 và N2

chiếm tỷ lệ 83,5% trong đó 41,6% N1; có 14,7%

N0 Nghiên cứu của Từ Thị Thanh Hương và cs

(2005), trên 51 bệnh nhân nghiên cứu có 82,4% có

hạch cổ, trong đó 60,8% ở giai đoạn N2 và N3, Ngô

Thanh Tùng (2008), tỷ lệ di căn hạch cổ cao chiếm

71,7%, cũng tương tự như nghiên cứu của Wael H.E

có 75% Điều này cho thấy tổ chức hạch cổ thường

di căn sớm Tuy nhiên, vẫn còn một số lớn bệnh

nhân đến khám ở giai đoạn hạch đã ở giai đoạn N2

và N3, điều này giải thích là do mức độ nhận thức

về bệnh của người dân còn thấp Mặt khác, do điều

kiện tuyến y tế cơ sở thiếu trang thiết bị chẩn đoán,

thiếu chuyên khoa là cơ sở làm cho bệnh nhân đến

khám muộn [2]

4.4.3 Giai đoạn bệnh

Bệnh chủ yếu ở giai đoạn III (37,7%) và IV

(40,6%) Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu về

ung thư đầu- cổ trong nước và nước ngoài, giai đoạn

bệnh III, IV luôn > 70%, thậm chí có nghiên cứu là

100% [2, 6, 8,11]

Nghiên cứu về ung thư hạ họng của Phạm Hữu

Nhân cho thấy, 91,2% các bệnh nhân ở gai đoạn

III, IV trong đó giai đoạn III là 58,8% Không gặp

trường hợp nào ở giai đoạn I Cũng trích dẫn trong

nghiên cứu này, hai nghiên cứu trong nước của

Từ Thị Thanh Hương và Ngô Thanh Tùng và các

nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy 100% bệnh nhân

ở giai đoạn III, IV [2]

Nghiên cứu của Đặng Huy Quốc Thịnh về ung

thư vòm họng cho thấy tỷ lệ giai đoạn III và IV là

78,5% (nhóm hóa- xạ đồng thời) và 80,7% (nhóm

xạ trị đơn thuần) [6]

Cũng trong nghiên cứu này, khảo sát về ung thư

vòm họng ở bệnh nhân trẻ ≤ 30 tuổi, cho thấy chủ yếu bệnh nhân ở giai đoạn II, IV, chiếm 91,3%

4.4.5 Mô bệnh học và độ biệt hóa tế bào

Trong nghiên cứu này, có đến 101 bệnh nhân (chiếm 19,5%) chỉ ghi nhận mô bệnh học là ung thư biểu mô vảy Có 84 bệnh nhân là ung thư biểu mô không biệt hóa loại vòm họng (UCNT- típ III theo phân loại mô bệnh học của WHO), chiếm tỷ lệ 43,3% các bệnh nhân ung thư vòm họng Riêng với các ung thư vòm họng ở bệnh nhân trẻ ≤ 30 tuổi, tỷ lệ mô bệnh học UCNT chỉ 30,4% Tỷ lệ này là thấp so với nhiều nghiên cứu về ung thư vòm họng ở Việt Nam Nghiên cứu của Đặng Huy Quốc Thịnh, loại UCNT chiếm đa số, 52,9% ở nhóm hóa-xạ trị đồng thời và 49,1% ở nhóm xạ trị đơn thuần Các tỷ lệ này phù hợp với nghiên cứu dịch tễ học của nhiều tác giả nước ngoài, rằng ở các nước trong vùng dịch tễ thì có từ 1/2 - 2/3 ung thư vòm họng thuộc típ III Ngược lại, ở các nước Âu- Mỹ loại ung thư biểu mô vảy sừng hóa (típ I) chiếm đa số, trong khi đó típ III chiếm không quá 5% Sự khác biệt về xuất độ của típ mô học ung thư vòm họng ở vùng dịch tễ và ngoài vùng dịch tễ

lý giải phần nào về sự khác biệt kết quả điều trị ung thư vòm họng giữa các tác giả Âu Mỹ và châu Á [6] Ghi nhận về độ biệt hóa tế bào của các ung thư biểu mô vảy đầu- cổ cho thấy, độ biệt hóa tốt, vừa và kém phân bố tương đối đồng đều, lần lượt là 23%, 14,7% và 19,2%

V KẾT LUẬN

Tiên lượng các ung thư đầu- cổ tùy thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh và vị trí khối u Nghiên cứu hồi cứu này khảo sát tỷ lệ và một số đặc điểm các ung thư đầu- cổ tại Bệnh viện Trung ương Huế, góp phần đánh giá tiên lượng bệnh nhân sau điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Bá Đức, Nguyễn Chấn Hùng và cs

(2010), “Tình hình mắc ung thư tại Việt Nam

năm 2010 qua số liệu của 6 vùng ghi nhận giai

đoạn 2004- 2008”, Tạp chí Ung thư học Việt

Nam, số 1, tr 73- 80

2 Phạm Hữu Nhân (2013), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ung thư hạ họng bằng hoá - xạ trị đồng thời tại Bệnh

Trang 7

viện Trung ương Huế”, Luận văn Chuyên khoa

cấp II, Đại học Y Dược Huế

3 Nguyễn Đình Tùng và cs (2010), “Ghi nhận

ung thư Thừa Thiên Huế giai đoạn 2001-2009”,

Tạp chí Ung thư học Việt Nam, số 1, tr 91- 97

4 Phạm Nguyên Tường (2009), “Nghiên cứu kết

quả điều trị ung thư vòm tái phát bằng hoá xạ

trị đồng thời tại Bệnh viện Trung ương Huế”,

Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội

5 Phạm Nguyên Tường (2014), “Một số vấn đề

cơ bản trong thực hành xạ trị bệnh ung thư”,

Nhà xuất bản Đại học Huế

6 Đặng Huy Quốc Thịnh (2012), “Hóa xạ trị

đồng thời carcinôm vòm hầu giai đoạn tiến xa

tại chỗ- tại vùng”, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại

học Y Dược TP Hồ Chí Minh

7 Jacques Ferlay, Isabelle Soerjomataram, Rajesh

Dikshit, et al (2014), “Cancer incidence and

mortality worldwide: Sources, methods and

major patterns in GLOBOCAN 2012”,

Interna-tional Journal of Cancer, pp 359- 386

8 Pierre Graff et al (2007), “Impact of

Intensity-Modulated Radiotherapy on health- related quality of lihe for head and neck cancer pa-tients: matched-pair comparison with conven-tional radiatherapy”, Int J Radiation

Oncol-ogy Biol Phys., Vol 67, No 5, pp 1309–1317

9 René- Jean Bensadoun et al (2006), “French multicenter phase III randomized study test-ing concurrent twice-a-day radiotherapy and cosplatin/5-Fluorouracil chemotherapy (BiRCF) in unresectable pharyngeal carcinoma: results at 2 years”, Int J Radiation Oncology Biol Phys., Vol 64, No 4, pp 983–994

10 Thomas R K., Parvesh K., William F R, et al

(1997), “Efficacy of targeted supradose cis-platin and concomitant radiation therapy for advanced head and neck cancer: the Memphis experience”, Int J Radiation Oncology Biol

Phys Vol 38 No 2, pp 263-271

11 Vincent T Devita, Samuel Hellman, Steven

A Rosenberg (2008), “Cancer: Principles and Practice of Oncology”, 6th edition, Lippincott

Williams & Wilkins Publishers

Ngày đăng: 14/01/2020, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w