1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nguy cơ tim mạch của bệnh nhân tăng huyết áp Việt Nam đang điều trị sử dụng bảng đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm theo WHO/ISH

6 157 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 296,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm đánh giá nguy cơ tim mạch của bệnh nhân tăng huyết áp Việt Nam bằng bảng phân tầng nguy cơ tim mạch của WHO/ISH trong thực hành lâm sàng và khảo sát tỉ lệ bệnh nhân được kiểm soát tốt, đạt được HA mục tiêu theo khuyến cáo JNC 8.

Trang 1

NGUY CƠ TIM MẠCH CỦA BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP

VIỆT NAM ĐANG ĐIỀU TRỊ-SỬ DỤNG BẢNG ĐÁNH GIÁ

NGUY CƠ TIM MẠCH 10 NĂM THEO WHO/ISH

Nguyễn Văn Trí*, Nguyễn Thế Quyền*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tăng huyết áp (THA) vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng Số người mắc THA ngày càng tăng theo thời gian nhưng khả năng kiểm soát tốt huyết áp (HA) qua nhiều thập niên vẫn chưa có sự cải thiện đáng kể Bên cạnh đó, việc đánh giá nguy cơ tim mạch cho bệnh nhân tăng huyết áp nhằm có hướng điều trị thích hợp vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Mục tiêu: Nhằm đánh giá nguy cơ tim mạch của bệnh nhân tăng huyết áp Việt Nam bằng bảng phân tầng nguy cơ tim mạch của WHO/ISH trong thực hành lâm sàng &khảo sát tỉ lệ bệnh nhân được kiểm soát tốt, đạt được HA mục tiêu theo khuyến cáo JNC 8

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, tiến cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát tất cả BN THA đang được điều trị tại các phòng khám ở một số bệnh viện trên khắp cả nước trong thời gian từ 01/2015 đến 04/2015

Kết quả: Tỉ lệ BN có nguy cơ tim mạch cao và rất cao theo WHO/ISH lần lượt là 1454/9148 BN (15,9%) và 1732/9148 BN (18,9%) Chúng tôi ghi nhận có 81% BN không đạt được mứcHA mục tiêu theo JNC 8 trong đó bao gồm 82836/3288 BN < 60 tuổi (86,3%) và 4577/5860 BN ≥ 60 tuổi (78,1%) Trong dân số chưa kiểm soát tốt

HA, nguy cơ tim mạch cao và rất cao chiếm 17,7% và 21,7% so với 8.2% và 7.3% ở dân số kiểm soát tốt HA.Việc

sử dụng thuốc viên phối hợp cố định cho thấy làm tăng đáng kể khả năng kiểm soát HA (OR = 1.567 với p < 0,001).Đối tượng chủ yếu sử dụng thuốc viên phối hợp cố định là những BN có nguy cơ tim mạch cao và rất cao (24% và 33,6%)

Kết luận: Nhiều bệnh nhân THA Việt Nam thuộc nhóm nguy cơ tim mạch cao và rất cao Bên cạnh đó,tỉ lệ bệnh nhân được kiểm soát, đạt HA mục tiêu vẫn còn khá thấp, việc sử dụng thuốc viên phối hợp cố định chủ yếu tập trung ở nhóm BN có nguy cơ tim mạch cao và rất cao, việc sử dụng này có khả năng làm tăng tỷ lệ kiểm soát tốt HA cho bệnh nhân

Từ khóa: tăng huyết áp, nguy cơ tim mạch

ABSTRACT

CARDIOVASCULAR RISK OF VIETNAMESE REAL LIFE HYPERTENSIVE PATIENTS

- THE USE OF WHO/ISH 10-YEAR CARDIOVASCULAR RISK STRATIFICATION

Nguyen Van Tri, Nguyen The Quyen

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 1 - 2016: 122 - 127

Background: Hypertension remains its role as a major public health issue Although the number of hypertensive patient rises dramatically over time, the capability of controlling blood pressure to reach satisfying goals has not improved remarkably.Besides,estimating the cardiovascular risk of hypertensive patients to have appropriate therapeutic approach has not been paid adequate attention

Objectives: To estimatecardiovascular risk of Vietnamese hypertensive patients by WHO/ISH 10 year cardiovascular risk stratification &the control rate of blood pressure arcording to JNC 8

Trang 2

Design and methods: We conducted a prospective, cross-sectional study and collected continually all treated hypertensive patients admitted to Cardiovascular Clinic of several hospitals in Vietnam from January

2015 to April 2015

Results: According to the WHO/ISH stratification, 1454/9148 (15.9%) and 1732/9148 (18.9%) patients were categorized as high and very high cardiovascular risk, respectively.81% of our population consisting of 2836/3288 patients under 60 (86.3%) and 4577/5860 patients ≥ 60 (78.1%) badlymanaged their blood pressure, based on the JNC 8 goals High and very high cardiovascular risk groups accounted for 17.7% and 21.7% of total uncontrolled hypertension patients Usage of fix-dosed combined tablet increased the blood pressure managementcapability (OR = 1.567 with p < 0.001).The percentage ofpatients with high and very high cardiovascular risks reached 24% and 36.6%, severally, among those using fix-dosed combined tablet

Conclusions: A quite amount of Vietnamese hypertensive patients have high and very high cardiovascular risks Besides, the control rate of blood pressure remained immensely low Usage of fix-dosed combined tablet increased the blood pressure management capability

Keywords: hypertension, cardiovascular risks

ĐẶT VẤN ĐỀ

THA vẫn đang là một gánh nặng sức khỏe

mà cộng đồng cần quan tâm Tỉ lệ hiện mắc THA

toàn cầu năm 2000 khoảng 26% ở người trưởng

thành và xu hướng tăng lên đến 29% vào năm

2025(3).Với những tiến bộ của y học, các chương

trình sức khỏe cộng đồng và dân trí của người

dân, tỉ lệ kiểm soát hiệu quả huyết áp đã có

những cải thiện trong nhiều năm qua mặc dù

những con số này chưa thực sự ấn tượng

Khuyến cáo mới nhất của JNC (JNC 8)(2) đã

đưa ra những mục tiêu kiểm soát mới cho 2

nhóm tuổi cụ thể Theo đó, với nhóm đối tượng

THA < 60 tuổi, kiểm soát huyết áp đạt hiệu quả

khi trị số HA đạt < 140/90 mmHg Đối với nhóm

cao tuổi (≥ 60 tuổi), mục tiêu kiểm soát HA chỉ

cần đạt < 150/90 mmHg Cho đến thời điểm hiện

tại, chúng tôi chưa ghi nhận nghiên cứu nào

trong nước đánh giá mức độ kiểm soát HA theo

mục tiêu của khuyến cáo JNC 8

Điều trị BN THA không chỉ đơn thuần kiểm

soát con số HA mà còn phải khống chế tốt

những yếu tố nguy cơ tim mạch khác kèm theo

nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ xảy ra biến cố

tim mạch trên từng đối tượng bệnh nhân cụ

thể.Hiện nay có nhiều thang điểm phân tầng

nguy cơ tim mạch cho bệnh nhân tăng huyết áp

như Framingham hay SCORE, nhưng một khảo

sát thực hiện trên 340 bác sĩ cho thấy chỉ 9,7% là

có sử dụng thang điểm này Các thang điểm này thường có nhiều thông số, thực tế ở phòng khám hiện nay bệnh nhân đông, các bác sĩ không có thời gian để phân tầng nguy cơ cho các bệnh nhân theo các thang điểm này Chính vì vậy thang điểm khuyến cáo của WHO/ISH năm

2012(7) được cho là đơn giản & tổng quát nhất, là đại diện tốt nhất cho mọi đối tượng trên toàn thế giới và do đó, chúng tôi thực hiện khảo sát nguy

cơ tim mạch bệnh nhân tăng huyết áp Việt Nam quy chuẩn từ khuyến cáo này

Mục tiêu nghiên cứu Xác định tỉ lệ các phân tầng nguy cơ tim mạch theo WHO/ISH 2012 và mối liên quan với khả năng kiểm soát HA

Xác định tỉ lệ bệnh nhân THA chưa được kiểm soát tốt theo mục tiêu của JNC 8

Xác định tỉ lệ các phương thức sử dụng thuốc hạ áp và mối liên quan với hiệu quả kiểm soát HA

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu

Cắt ngang, tiến cứu

Đối tượng nghiên cứu

BN đang điều trị THA tại phòng khám của

Trang 3

Tiêu chuẩn nhận bệnh

BN đang điều trị THA tại phòng khám

BN đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

BN không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu

Thu nhận thuận tiện tất cả BN đang điều trị

THA đến khám tại các phòng khám tại một số

bệnh viện trên cả nước từ 01/2015 đến 04/2015

Phân tích số liệu theo phần mềm SPSS 22.0

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng cộng có 9148 BN tham gia nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu

3288 (35,9%)

≥ 60 tuổi

Giới

tính

0,228

Phối hợp cố

Gần 2/3 dân số thuộc nhóm người cao tuổi

Khả năng kiểm soát HA đạt mục tiêu ở nhóm

người cao tuổi tốt hơn nhóm người trẻ tuổi

Bảng 2: Tỉ lệ kiểm soát HA

soát tốt HA

Phần lớn dân số kiểm soát kém HA, không đạt mục tiêu theo JNC 8 Người cao tuổi kiểm soát HA tốt hơn người trẻ

Bảng 3:Phân tầng nguy cơ tim mạch theo một vài biến số

thấp

Nguy cơ trung bình

Nguy

cơ cao

Nguy cơ rất cao

(34,4%)

2698 (28,5%)

1454 (15,3%)

1732 (18,3%)

Tuổi

(53,1%)

806 (24,5%)

319 (9,7%)

417 (12,7%)

(25,9%)

1892 (32,3%)

1135 (19,4%)

1315 (22,4%) Kiểm soát

HA đạt mục tiêu

(60,2%)

421 (24,3%)

143 (8,2%)

126 (7,3%) Không

tốt

2219 (29,9%)

2277 (30,7%)

1311 (17,7%)

1606 (21,7%)

Tỉ lệ người cao tuổi thuộc nhóm nguy cơ tim mạch cao và rất cao nhiều hơn ở người trẻ tuổi

Đa phần BN có nguy cơ tim mạch cao và rất cao thuộc nhóm kiểm soát chưa tốt HA

Bảng 4: Phân tầng nguy cơ tim mạch theo một vài cách sử dụng thuốc

thấp

Nguy cơ trung bình

Nguy cơ cao

Nguy cơ rất cao

(44,7%)

900 (28,4%)

400 (12,6%)

456 (14,4%)

(32,7%)

880 (30,4%)

516 (17,8%)

555 (19,2%)

(29,1%)

161 (29,4%)

102 (18,6%)

125 (22,9%) Chỉ phối hợp

cố định

89 (20,4%)

96 (22%)

105 (24%)

147 (33,6%)

BN sử dụng dạng thuốc phối hợp cố định chủ yếu tập trung ở nhóm có nguy cơ tim mạch cao và rất cao

Bảng 5: Tỉ lệ những cách sử dụng thuốc hạ áp

Trang 4

Bảng 6: Mối liên quan đơn biến giữa các cách thức sử

dụng thuốc hạ áp và hiệu quả kiểm soát tốt HA

Phối hợp cố định kèm

Phối hợp cố định kèm

Phối hợp cố định kèm

Phối hợp cố định kèm

*OR < 1: yếu tố làm không kiểm soát HA

Sử dụng hai thuốc rời có liên quan đến việc

khó kiểm soát tốt HA trong khi sử dụng phối

hợp cố định cho thấy hạ áp có hiệu quả

Bảng 7: Mối liên quan đa biến giữa các cách sử dụng

thuốc hạ áp và hiệu quả kiểm soát tốt HA

*OR < 1: yếu tố làm không kiểm soát HA

Sử dụng hai thuốc rời khó kiểm soát tốt HA

trong khi sử dụng phối hợp cố định hạ áp có

hiệu quả

BÀN LUẬN

Đặc điểm dân số

Nghiên cứu chúng tôi thu nhận được 9148

BN đang được điều trị THA tại phòng khám của

các bệnh viện Trong đó:

Chúng tôi ghi nhận có đến gần 2/3 số BN

thuộc nhóm người cao tuổi (≥ 60 tuổi) (5860/9148

BN, chiếm 64,1%) Điều tương đồng cũng được

ghi nhận ở nhiều quan sát gần đây Chẳng hạn,

tác giả Trần Công Duy(6) quan sát về tình trạng

kiểm soát HA tại phòng khám Tim Mạch BV

Chợ Rẫy ghi nhận có khoảng 46% BN ≥ 65 tuổi

Một quan sát tại Hoa Kỳ(1) trên 59.207 BN cũng

cho thấy có đến 69,5% thuộc nhóm ≥ 60 tuổi

Điều này cho thấy rằng, THA trong cộng đồng

đa phần là bệnh của người cao tuổi và việc kiểm

soát tốt HA là hết sức cần thiết nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ xảy ra biến cố bởi đây là nhóm đối tượng dễ dàng bị tổn thương và tổn thương

sẽ xảy ra nặng nề hơn so với nhóm trẻ tuổi Người cao tuổi chiếm khoãng 10% dân số ở Việt Nam nhưng lại chiếm 64,1% số BN THA tại phòng khám Vì vậy, thầy thuốc cần cập nhật kiến thức lão khoa về bệnh học và điều trị nhầm điều trị hiệu quả và không gây hại cho BN cao tuổi THA

Nghiên cứu cũng ghi nhận có đến 40,6% BN trẻ tuổi và 47,5% BN cao tuổi THA có kèm theo ĐTĐ Tỉ lệ này là khá cao so với quan sát của Trần Công Duy(6) (25,7%) hay quan sát tại Hoa

Kỳ(1) (32,7%) Tỉ lệ ĐTĐ cao cũng góp phần không nhỏ trong việc làm gia tăng nguy cơ tim mạch trên những đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi

Phân tầng nguy cơ tim mạch và mối liên quan với hiệu quả kiểm soát HA

Đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm theo khuyến cáo 2012 của WHO/ISH cho thấy nhóm nguy cơ tim mạch cao và rất cao chiếm khoảng 1/3 dân số chung (33,6%) và chủ yếu thuộc đối tượng người cao tuổi Cụ thể, nhóm người trẻ có 9,7% BN thuộc nhóm nguy cơ tim mạch cao trong khi người cao tuổi chiếm đến 19,4% Tương tự, nhóm cao tuổi có đến 22,4% BN nằm trong nhóm nguy cơ rất cao và con số này ở người trẻ chỉ là 12,7% Điều này cho thấy rằng, khả năng xảy ra biến cố tim mạch đối với nhóm người cao tuổi tỏ ra cao hơn hẳn so với người trẻ cũng như hậu quả do biến cố để lại cũng nặng

nề hơn Do đó, việc kiểm soát tốt HA và các yếu

tố nguy cơ tim mạch khác như ĐTĐ, rối loạn lipid máu cần nên kĩ càng và cụ thể hơn trên từng bệnh nhân cao tuổi nhằm giảm thiểu xảy ra biến cố tim mạch cũng như các biến cố ngoại ý xảy đến do việc điều trị quá tích cực mang lại Phân tầng nguy cơ tim mạch theo khả năng kiểm soát HA đạt mục tiêu cho thấy ở nhóm BN đạt được HA mục tiêu, tỉ lệ nguy cơ tim mạch cao và rất cao chỉ chiếm một bộ phận khá nhỏ

Trang 5

(lần lượt 8,2% và 7,3%) Tuy nhiên, đối với nhóm

kiểm soát chưa tốt HA (chiếm 81% dân số

chung) thì tỉ lệ này tăng cao rõ rệt (lần lượt 17,7%

và 21,7%) Điều này cho thấy rõ rằng, ở những

BN kiểm soát tốt HA thì các yếu tố nguy cơ tim

mạch khác kèm theo phần lớn cũng được kiểm

soát chặt chẽ Ngược lại, với nhóm chưa đạt HA

mục tiêu thì việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ

tim mạch khác cũng trở nên khó khăn hơn nhiều

dẫn đến khả năng cao xảy ra biến cố tim mạch

trên nhóm đối tượng này Do đó, đối với BN

chưa kiểm soát tốt HA, ngoài việc tích cực để đạt

HA mục tiêu thì thầy thuốc cần luôn lưu ý và

tích cực kiểm soát chặt chẽ đồng thời các yếu tố

nguy cơ tim mạch khác nhằm hạ thấp nguy cơ

xảy ra biến cố trên BN

Tỉ lệ BN không kiểm soát HA đạt mục tiêu

theo JNC 8

Dựa vào trị số HATT và HATTr trung bình ở

cả 2 nhóm trẻ tuổi và cao tuổi, chúng tôi thấy

rằng, việc kiểm soát HA đạt mục tiêu ở người trẻ

tỏ ra kém hơn so với người cao tuổi Cụ thể,

HATT trung bình của 2 nhóm người trẻ và

người cao tuổi lần lượt là 148,2 ± 14,68 mmHg và

155,85 ± 13,77 mmHg Tương tự, HATTr trung

bình đối với người trẻ là 88,61 ± 10,2 mmHg và

đối với người cao tuổi là 91,07 ± 10,33 mmHg (p

< 0,001) Thật vậy, theo chúng tôi ghi nhận, tỉ lệ

nhóm người cao tuổi không kiểm soát HA đạt

mục tiêu theo JNC 8 thấp hơn so với người trẻ

(78,1% so với 86,3%) Điều này khác biệt với

quan sát tại Hoa kỳ năm 2006(1) khi mà nghiên

cứu này cho thấy, người trẻ được kiểm soát HA

tốt hơn hẳn người cao tuổi Sự khác biệt này có

thể do sự thay đổi trong quan điểm của khuyến

cáo hiện hành, khi mà mục tiêu HA của người

cao tuổi đã được nâng lên thành 150/90 mmHg

so với 140/90 mmHg so với trước đây Sự thay

đổi này đã khiến cho áp lực điều trị hạ áp trên

người cao tuổi trở nên nhẹ nhàng hơn và qua đó,

số lượng BN đạt mục tiêu cũng cao hơn Tuy

nhiên, so với các quan sát trong nước, tỉ lệ điều

trị hạ áp đạt mục tiêu nói chung, trong nghiên

cứu của chúng tôi, thấp hơn nhiều so với các

quan sát trước đây (13,7% ở người < 60 tuổi và 21,9% ở người ≥ 60 tuổi) Cụ thể, quan sát của Trần Công Duy năm 2015(6) ghi nhận có đến 46,7% BN đạt được mục tiêu hạ áp Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thanh Vân (2013)(4) cũng ghi nhận tỉ lệ kiểm soát tốt HA đạt tới 57,5% Sở dĩ

có sự chênh lệch này có lẽ là do các quan sát trên được thực hiện tại các BV lớn của TP HCM trong khi nghiên cứu của chúng tôi thu thập BN chủ yếu tại các BV tuyến Quận, Huyện Điều này cho thấy rằng, khả năng điều trị hạ áp đạt mục tiêu tại các BV tuyến dưới chưa thực sự có hiệu quả Thật vậy, nghiên cứu của Phạm Thái Sơn (2012)(5)

theo dõi khả năng kiểm soát HA của 860 đối tượng trong vòng 3 năm tại 8 huyện bất kì của Việt Nam cũng cho thấy chỉ 10,7% BN đạt được chỉ số HA mục tiêu Qua phân tích đa biến, nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy rằng việc BN có sử dụng thuốc chẹn kênh Calci đã làm tăng đáng kể khả năng kiểm soát tốt HA (OR = 1,654 với p = 0,037)

Phương thức sử dụng thuốc và mối liên quan với hiệu quả hạ áp

Đa số BN đang được điều trị với một thuốc (34,7%) và hai thuốc rời (31,7%) Tỉ lệ BN chỉ sử dụng đơn thuần 1 viên thuốc phối hợp cố định còn khá thấp (4,8%) Số BN sử dụng 1 viên thuốc phối hợp cố định kèm 2 loại thuốc rời khác chiếm tỉ lệ cao hơn (11,1%) Mặc dù tình trạng sử dụng viên thuốc phối hợp còn khá thấp nhưng qua phân tích đơn biến lẫn đa biến, chúng tôi đều ghi nhận rằng, khả năng kiểm soát tốt HA đạt hiệu quả cao khi sử dụng viên thuốc phối hợp cố định (OR = 1,567 với p < 0,001) Bên cạnh

đó, sử dụng hai thuốc rời lại cho thấy khả năng

hạ áp kém (OR = 0,796 với p < 0,001) Điều này có thể được giải thích bởi khả năng tuân thủ với điều trị của BN đạt hiệu quả cao khi sử dụng 1 viên thuốc phối hợp cố định so với việc phải uống 2 loại thuốc rời

Đánh giá phương cách sử dụng thuốc theo phân tầng nguy cơ tim mạch lại một lần nữa nhấn mạnh vai trò của viên thuốc phối hợp cố

Trang 6

định khi mà có sự gia tăng sử dụng thuốc rõ

rệt ở những BN nguy cơ tim mạch cao và rất

cao (lần lượt 24% và 33,6%) Ngược lại, việc sử

dụng các thuốc rời lại tập trung chủ yếu ở

nhóm có nguy cơ tim mạch thấp và trung

bình Thuốc viên phối hợp cố định đã cho thấy

khả năng kiểm soát HA tốt hơn so với viên

thuốc rời và vì vậy, việc gia tăng sử dụng viên

phối hợp cố định trên những BN nguy cơ tim

mạch cao – nhóm đối tượng cho thấy khả năng

kiểm soát HA khá kém – là một lựa chọn hợp

lý và tỏ ra khả hiệu quả nhằm đạt được tỉ lệ hạ

áp đạt mục tiêu tối ưu

KẾT LUẬN

Tỉ lệ BN THA có nguy cơ tim mạch cao và rất

cao chiếm phần lớn ở nhóm người cao tuổi

(19,4% và 22,4%) và chủ yếu ở nhóm chưa kiểm

soát tốt HA (17,7% và 21,7%)

Tình hình không kiểm soát HA đạt mục tiêu

theo khuyến cáo của JNC 8 hiện tại còn khá cao

(81% trong dân số chung; 86,3% ở nhóm < 60 tuổi

và 78,1% ở nhóm ≥ 60 tuổi)

Trong nhóm BN sử dụng viên thuốc phối

hợp cố định, BN có nguy cơ tim mạch cao và rất

cao chiếm chủ yếu (24% và 33,6%).Việc sử dụng thuốc viên phối hợp cố định cho thấy làm tăng khả năng kiểm soát hiệu quả HA (OR = 1,567 với

p < 0,001)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Borzecki AM, et al (2006) The effect of age on hypertension

control and management Am J Hypertens, 19(5):520-527

2 James PA, et al (2014) 2014 evidence-based guideline for the management of high blood pressure in adults: report from the panel members appointed to the Eighth Joint National

Committee (JNC 8) JAMA, 311(5):507-520

3 Kearney PM, et al (2005) Global burden of hypertension:

analysis of worldwide data Lancet, 365(9455): 217-223

4 Nguyễn Ngọc Thanh Vân (2013) Khảo sát tình hình thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng và tần suất kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

5 Phạm Thái Sơn (2012) Prevalence, awareness, treatment and control of hypertension in Vietnam – Results from a national survey Journal of Human Hypertension, 26:268-280.

6 Trần Công Duy (2015) Tỷ lệ kiểm soát huyết áp theo hướng dẫn

của ESH/ESC 2013 Y Học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(1):1-5

7 World Health Organization (2012) Prevention of Cardiovascular Disease: Guidelines for assessment and management of cardiovascular risk

Ngày nhận bài báo: 24/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016

Ngày đăng: 14/01/2020, 23:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w