Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả chẩn đoán ung thư phế quản bằng nội soi phế quản huỳnh quang ở đối tượng có nguy cơ ung thư phổi.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ PHẾ QUẢN
BẰNG NỘI SOI PHẾ QUẢN HUỲNH QUANG Ở ĐỐI TƯỢNG
CÓ NGUY CƠ UNG THƯ PHỔI
Hoàng Thị Bích Việt 1 ; Đinh Ngọc Sỹ 1 ; Đinh Công Pho 2 ; Vũ Ngọc Hoàn 2
TÓM TẮT
Mục tiêu: đánh giá hiệu quả chẩn đoán ung thư phế quản bằng nội soi phế quản huỳnh
quang ở đối tượng có nguy cơ ung thư phổi Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu,
không ngẫu nhiên, cắt ngang mô tả có phân tích trên bệnh nhân có nguy cơ ung thư phế quản
đến khám và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 10 - 2016 và kết thúc vào thời
điểm 12 - 2018 Thực hiện nội soi phế quản bằng ánh sáng huỳnh quang trước, sau đó dùng
ánh sáng trắng và lấy mẫu sinh thiết để chẩn đoán xác định đối với những tổn thương nghi
ngờ Kết quả và kết luận: cả nội soi ánh sáng trắng và nội soi phế quản huỳnh quang đều có giá
trị để phát hiện ung thư phổi với p < 0,05, trong đó nội soi phế quản huỳnh quang có độ nhạy
cao hơn so với nội soi ánh sáng trắng Độ đặc hiệu của 2 phương pháp tương đương nhau
(100%) Trong phát hiện các loại ung thư phổi như ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô tế
bào vảy và ung thư phổi tế bào nhỏ, nội soi ánh sáng huỳnh quang có độ nhạy, độ chính xác
cao hơn, nhưng độ đặc hiệu bằng với nội soi ánh sáng trắng Kết hợp đồng thời nội soi phế
quản huỳnh quang và nội soi ánh sáng trắng sẽ cho kết quả tốt hơn khi sử dụng riêng lẻ từng
phương pháp để phát hiện ung thư phổi ở bệnh nhân có nguy cơ cao
* Từ khóa: Ung thư phổi; Nội soi phế quản huỳnh quang; Nội soi ánh sáng trắng; Giá trị
chẩn đoán
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi (UTP) là một trong
những loại ung thư gây tử vong hàng đầu
trên toàn thế giới [1], chủ yếu do khối u
phát triển nhanh và chẩn đoán UTP
thường ở giai đoạn muộn Điều trị UTP
không mang lại nhiều hiệu quả, phần lớn
do chẩn đoán muộn và không có phương
pháp sàng lọc hiệu quả Kết quả nghiên
cứu cho thấy tỷ lệ sống sót sau 5 năm
của bệnh nhân (BN) giai đoạn IA có thể
lên tới 74,6%, chứng tỏ thời gian sống thêm của BN sẽ cao hơn khi được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn sớm Một nghiên cứu theo dõi dọc trong thời gian 12,5 năm cho thấy BN có tổn thương tiền xâm lấn ở khí quản, tỷ lệ phát hiện ung thư phổi 34% với thời gian trung bình 16,5 tháng [2], cho thấy những BN này có nguy cơ cao mắc ung thư cao hơn Do đó, chẩn đoán tổn thương tiền ung thư và ung thư phổi giai đoạn đầu rất quan trọng
1 Bệnh viện Phổi Trung ương
2 Học viện Quân y
Người phản hồi (Corresponding): Hoàng Thị Bích VIệt (Hoang_bichviet@yahoo.com)
Ngày nhận bài: 16/10/2019; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 13/11/2019
Ngày bài báo được đăng: 27/11/2019
Trang 2Phát hiện và nghiên cứu tổn thương
tiền ung thư của niêm mạc phế quản là
một trong những điểm quan trọng giúp
hiểu biết về quá trình phát triển của ung
thư, từ đó đưa ra phương pháp điều trị
thích hợp Tuy nhiên, nội soi ánh sáng
trắng (NSAST) phát hiện tổn thương tiền
ung thư cho độ nhạy và độ đặc hiệu thấp
Sử dụng nội soi phế quản huỳnh quang
(NSPQHQ) cải thiện độ nhạy trong phát
hiện tổn thương tiền ung thư Nội soi phế
quản ánh sáng trắng thông thường là
công cụ phổ biến nhất để phát hiện tổn
thương tiền UTP Trong một số trường
hợp, nội soi phế quản ánh sáng trắng khó
có thể phát hiện tổn thương quá mỏng
hoặc nhỏ Để giải quyết hạn chế này, các
kỹ thuật tiên tiến như NSPQHQ được
phát triển NSPQHQ là kỹ thuật phát ra
ánh sáng huỳnh quang chứa phổ màu lục
(cực đại 520 nm) và đỏ (> 630 nm), niêm
mạc bình thường phản chiếu ánh sáng
huỳnh quang và thể hiện hình ảnh màu
xanh lục, trong khi tổn thương tiền ung
thư và ung thư (thậm chí đường kính vài
milimet) hấp thụ quang phổ màu xanh lá
cây và ánh sáng phản xạ chuyển sang
màu đỏ tươi Do đó, chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này nhằm: Đánh giá giá trị
chẩn đoán của NSPQHQ ở BN có nguy
cơ cao bị UTP
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
245 BN có nguy cơ ung thư phế quản
đến khám và điều trị tại Bệnh viện
Phổi Trung ương Thời gian nghiên cứu:
từ tháng 10 - 2016 và kết thúc vào thời điểm 12 - 2018
Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức chấp nhận
Tất cả BN tham gia nghiên cứu đều được giải thích về lợi ích cũng như nguy
cơ của kỹ thuật và đã ký vào bản chấp thuận tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
Người bệnh > 18 tuổi có nguy cơ cao mắc ung thư phế quản (người hút thuốc
lá ≥ 10 bao năm), có dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ tổn thương ác tính như ho khan kéo dài, sút cân, khạc đờm hoặc khái huyết nhẹ, khó thở, hoặc kết quả xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh có nghi ngờ tổn thương ác tính
tham gia nghiên cứu, chống chỉ định với
kỹ thuật chẩn đoán
Trước khi tham gia vào nghiên cứu, tất cả BN phải có đầy đủ phim chụp
X quang tim phổi, CT-scan lồng ngực, công thức máu và sinh hóa máu
2 Phương pháp nghiên cứu
* Kỹ thuật:
Thực hiện nội soi phế quản tại Khoa Nội soi Hô hấp do bác sỹ có kinh nghiệm về nội soi phế quản huỳnh quang thực hiện
Tiền mê trước thủ thuật: theo dõi chức năng sống bao gồm huyết áp không xâm nhập, độ bão hòa oxy mạch nẩy, điện tim
và nhịp tim
Trang 3Sử dụng máy soi phế quản huỳnh
quang model D- Light C (Hãng Karl Stort)
và các trang thiết bị đi kèm
Trước tiên soi bằng ánh sáng trắng để
tìm tổn thương và xác định vị trí tổn
thương trên cây phế quản và sinh thiết
Sau đó soi bằng ánh sáng huỳnh quang,
tìm thêm tổn thương (khi soi bằng ánh
sáng trắng không phát hiện được) và sinh
thiết vị trí tổn thương Chuyên gia về giải
phẫu bệnh đánh giá mẫu sinh thiết Tất cả
BN được sinh thiết ít nhất một lần nhưng không quá ba lần, mảnh sinh thiết lấy từ những nơi được xác định bị bệnh lý, sử dụng NSPQHQ, NSAST hoặc kết hợp Xác định phát hiện trực tiếp khu vực bệnh
lý bằng NSPQHQ là khu vực màu nâu đỏ hoặc màu đỏ tươi, trong khi khu vực bình thường là màu xanh lá cây Hệ thống đánh giả phát hiện các khu vực niêm mạc thay đổi bệnh lý theo NSPQHQ thể hiện ở bảng 1
Sinh thiết được xác định là dương tính
nếu xác định mô sinh thiết có tổn thương
dị sản vảy, loạn sản hoặc ung thư biểu
mô xâm lấn Nếu cần xác nhận bệnh, làm
thêm sinh thiết xuyên thành phế quản,
nhưng những sinh thiết này không dùng
cho mục đích nghiên cứu Dựa trên kết
quả sinh thiết, tính độ đặc hiệu, độ nhạy,
độ chính xác của từng kỹ thuật riêng lẻ và
kết hợp các kỹ thuật Chỉ những mẫu sinh
thiết được xác nhận dương tính với tổn
thương tiền ung thư hoặc ưng thư mới
đưa vào tính toán
* Xử lý số liệu:
Xử lý và phân tích số liệu theo phương pháp thống kê y học bằng phần mềm STATA 15.0 Kiểm định được thực hiện
để so sánh độ nhạy, độ đặc hiệu và khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các biến phân loại, đặc biệt là độ nhạy, độ đặc hiệu
và độ chính xác giữa nội soi phế quản ánh sáng trắng và NSPQHQ Sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05 với khoảng tin cậy 95%
Trang 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
(n = 245)
Loại
(n = 109)
Ung thư (n = 136)
Chứng (n = 109)
Ung thư
Tỷ lệ quá sản của mẫu nghiên cứu
22,9%, trong đó, nội soi bằng ánh sáng
trắng chẩn đoán được 37 BN (66,1%),
trong khi nội soi bằng ánh sáng huỳnh
quang chỉ phát hiện được 28 BN (50%)
Trong 11 BN dị sản, tỷ lệ dị sản phát hiện
bằng NSAST 9 BN (81,8%) và nội soi
bằng ánh sáng huỳnh quang 2 BN
(18,2%) Trong 56 BN loạn sản, phát hiện
bằng NSAST 24 BN (42,8%) và nội soi
bằng ánh sáng huỳnh quang 32 BN
(57,2%) Kết hợp giữa NSAST NSPQHQ
cho độ nhạy cao hơn trong phát hiện tổn
thương loạn sản và ung thư phế quản so
với sử dụng ánh sáng trắng đơn thuần
Ikeda và CS sử dụng hệ thống chẩn đoán
huỳnh quang được tích hợp vào máy nội
soi video (SAFE 3000, Pentax, Tokyo) để
đánh giá mối liên quan giữa kết quả nội
soi và bệnh lý Độ nhạy của hệ thống đối
với chứng loạn sản + CIS là 65% trong
ánh sáng trắng và 90% trong hệ thống
SAFE Hệ thống này có độ nhạy cao hơn
đáng kể trong phát hiện tổn thương nội
mô so với nội soi video ánh sáng trắng
đơn thuần Nghiên cứu tế bào học đờm
bất thường, Lam và CS cho thấy NSPQHQ nhạy hơn so với NSAST (91%
so với 58%) khi phát hiện chứng loạn sản, nhưng độ đặc hiệu thấp hơn (26% so với 50%) Kết quả của chúng tôi cho thấy kết hợp giữa NSAST và NSPQHQ có thể làm tăng hiệu quả chẩn đoán Jang và
CS sử dụng cùng một hệ thống chẩn đoán (NSAST/NSPQHQ) trong phát hiện tổn thương tiền ung thư Kết quả cho thấy
độ nhạy tương đối của NSPQHQ bổ trợ NSAST so với NSAST đơn thuần là 1,5 ở chứng loạn sản trung bình hoặc nặng hơn
và 3,2 ở tổn thương tân sinh biểu mô NSPQHQ bổ trợ cho NSAST đã làm tăng
tỷ lệ phát hiện tổn thương tiền xâm lấn khu trú Nhưng tỷ lệ dương tính giả cao trong NSPQHQ cũng được ghi nhận Nhìn chung, độ nhạy và độ đặc hiệu của NSPQHQ trong chẩn đoán UTP cao hơn
so với NSAST NSPQHQ có độ nhạy cao giúp phát hiện UTP trong trường hợp NSAST xác định tổn thương tăng sản, thâm nhiễm và chít hẹp NSPQHQ kết hợp với NSAST có thể cải thiện hiệu quả chẩn đoán tổn thương đường thở [3]
Trang 5Bảng 3: Giá trị chẩn đoán UTP của NSPQHQ và NSAST
Mô bệnh học không phải ung thư (n = 109)
Mô bệnh học
là ung thư phổi (n = 136)
Mẫu sinh thiết
qua nội soi chẩn đoán
Độ nhạy đặc hiệu Độ Độ chính xác p
NSAST
Không nghi ngờ
NSPQHQ
Không nghi ngờ
(b: Fisher’s exact test)
Cả NSAST và NSPQHQ đều có giá trị
phát hiện UTP với p < 0,05, trong đó
NSPQHQ có độ nhạy cao hơn nhiều so
với NSAST Độ đặc hiệu của 2 phương
pháp 100% NSPQHQ có nhiều ưu thế
hơn trong phát hiện UTP sớm so với
NSAST Khi phát hiện UTP và các tổn
thương tiền ung thư, độ nhạy của
NSPQHQ cao hơn so với NSAST, hiệu
suất chẩn đoán tổng thể của NSPQHQ tốt
hơn một chút so với NSAST, nhưng độ
đặc hiệu của NSPQHQ thấp hơn so với
NSAST trong phát hiện UTP và tổn
thương tiền ung thư [8] Khi phát hiện tổn
thương tân sinh biểu mô của UTP, độ đặc
hiệu của NSPQHQ kết hợp NSAST thấp
hơn so với NSAST đơn thuần, nhưng khi
kết hợp giữa NSPQHQ và NSAST đã cải
thiện đáng kể độ nhạy [6] Andreev và CS
kết luận NSPQHQ có lợi thế hơn so với
NSAST trong chẩn đoán tổn thương phế
quản ác tính Độ nhạy của NSPQHQ và
NSAST là 94,83%, nhưng độ đặc hiệu là
52,83% và 55,66% nếu sử dụng mô học [10]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ nhạy
và độ đặc hiệu của NSPQHQ là 71,3% và 100% So với nghiên cứu của Li và CS,
độ nhạy của chúng tôi thấp hơn (71,3%
so với 94,7%) nhưng độ đặc hiệu cao hơn (100% so với 57%) [9] Nghiên cứu tổng quan và phân tích gộp của Chen và
CS có độ nhạy và độ đặc hiệu của NSPQHQ và NSAST là 0,90 và 0,56; 0,66
và 0,69 Kết quả chỉ ra NSPQHQ vượt trội hơn so với NSAST thông thường trong phát hiện UTP và tổn thương tiền ung thư [7] Lý do độ nhạy của NSPQHQ trong nghiên cứu này thấp hơn các nghiên cứu khác vì chúng tôi chỉ phát hiện UTP, trong khi các nghiên cứu khác đánh giá phát hiện cả tổn thương tân sinh và UTP Giá trị chẩn đoán của NSPQHQ trong phát hiện tổn thương tiền ung thư phụ thuộc rất lớn vào nhiều yếu tố như sử dụng hệ thống nội soi phế quản, đặc điểm tổn thương và kinh nghiệm của bác sỹ
* Kết quả chẩn đoán mô bệnh học ở nhóm BN ung thư (theo phân loại của WHO) (n = 136):
Trang 6Ung thư biểu mô vảy: 16 BN (11,8%);
ung thư biểu mô tuyến: 96 BN (70,6%);
ung thư tế bào nhỏ: 20 BN (14,7%); ung
thư biểu mô tuyến vảy: 4 BN (2,9%); dạng
khác: 0 BN
Trong một nghiên cứu dựa vào mô
bệnh học (khoảng 20 năm) cho thấy ung
thư tế bào vảy chiếm ưu thế ở cả hai giới;
(44,7% ở nữ và 68,0% ở nam) Ung thư
biểu mô tuyến ít hơn (21,8%) so với ung
thư tế bào vảy (64,0%) ở cả hai giới và tất cả các nhóm tuổi Những BN được phẫu thuật nhiều nhất ở độ tuổi 51 - 60 (36,6%) chủ yếu là ung thư tế bào vảy và ung thư biểu mô tuyến 3 BN mắc UTP tế bào nhỏ được phẫu thuật ở nhóm tuổi
61 - 70 [4] Các nghiên cứu khác xác nhận ung thư biểu mô tế bào vảy có tỷ lệ mắc cao nhất [5], kết quả này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi
Mô bệnh ung thư biểu mô
tế bào vảy (n = 16)
Mô bệnh UTP khác (n = 120)
Độ nhạy đặc hiệu Độ chính xác Độ p Mẫu sinh thiết
qua nội soi chẩn đoán
Ung thư biểu
biểu mô tế bào
vảy
Ung thư biểu
NSPQHQ Không ung thư
biểu mô tế bào
vảy
(b: Fisher’s exact test)
Trong phát hiện ung thư biểu mô tế bào vảy, cả 2 phương pháp đều có p < 0,05 NSPQHQ có độ nhạy, độ chính xác cao hơn có ý nghĩa thống kê so với của ánh sáng trắng Độ đặc hiệu của 2 phương pháp như nhau Nghiên cứu của Peng và CS có kết luận tương tự, nhưng một số chỉ số thấp hơn Độ nhạy chẩn đoán của nhóm NSPQHQ
là 85,7%, độ đặc hiệu 73,3%, giá trị tiên đoán dương 95,1%, giá trị tiên đoán sai 45,8% Độ nhạy chẩn đoán của nhóm NSAST 72,5%, độ đặc hiệu 60,0%, giá trị tiên đoán dương tính 91,7%, giá trị tiên đoán âm tính 26,5% [11]
Trang 7Bảng 5: Giá trị chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến của NSPQHQ và NSAST
Mô bệnh ung thư biểu mô tuyến (n = 96)
Mô bệnh UTP khác (n = 40)
Mẫu sinh thiết
qua nội soi chẩn đoán
Độ nhạy đặc hiệu Độ chính xác Độ p
Ung thư biểu
NSAST
Không ung thư
20,8
b
Ung thư biểu
NSPQHQ
Không ung thư
61,5
b
Trong phát hiện ung thư biểu mô tuyến, cả 2 phương pháp đều có p < 0,05 NSPQHQ có độ nhạy, độ chính xác cao hơn có ý nghĩa thống kê so với của NSAST
Độ đặc hiệu của 2 phương pháp như nhau Trong phát hiện ung thư biểu mô tuyến, cả NSPQHQ và NSAST đều có p < 0,05 Độ nhạy và độ chính xác của NSPQHQ cao hơn đáng kể so với NSAST Độ đặc hiệu của hai phương pháp như nhau Masako Chiyo
và CS sử dụng hệ thống NSAST và NSPQHQ để phát hiện chứng loạn sản với độ nhạy lần lượt là 96,7% và 80% Độ đặc hiệu của NSPQHQ (83,3%) cao hơn đáng kể
so với NSAST (36,6%) (p = 0,0005)
Kết quả này cho thấy NSPQHQ có ưu thế trong phân biệt tổn thương tiền ung thư
và ung thư ác tính với viêm phế quản hoặc tổn thương loạn sản Kurie và CS sử dụng cùng một hệ thống với mẫu nghiên cứu là những người đang hút hút thuốc hoặc có tiền sử hút thuốc cho kết quả những bất thường được phát hiện bằng hệ thống NSAST không cải thiện việc phát hiện tổn thương loạn sản hay dị sản vảy Những kết quả này ủng hộ NSPQHQ có giá trị cao trong chẩn đoán tổn thương tiền ung thư như loạn sản
và dị sản ở BN có nguy cơ cao mắc UTP
Mô bệnh UTP
tế bào nhỏ (n = 20)
Mô bệnh UTP khác (n=116)
Mẫu sinh thiết
qua nội soi chẩn đoán
Độ nhạy đặc hiệu Độ chính xác Độ p
NSPQHQ Không UTP tế
(b: Fisher’s exact test)
Trang 8Trong phát hiện ung thư phổi tế bào nhỏ,
cả NSPQHQ và NSAST đều có p < 0,05
Đặc biệt, độ nhạy, độ đặc hiệu và độ
chính xác của NSPQHQ là 100% Đây là
chỉ số có giá trị để phát hiện UTP Giá trị
lâm sàng của NSPQHQ trong chẩn đoán
UTP được xác nhận lại ở BN có biểu hiện
tế bào học đờm bất thường
Trong phát hiện các loại UTP như ung
thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô tế
bào vảy và UTP tế bào nhỏ, NSPQHQ có
độ nhạy và chính xác hơn so với NSAST,
nhưng độ đặc hiệu của 2 phương pháp
như nhau Sự khác biệt trong phát hiện
các loại UTP có thể do NSPQHQ dùng để
xác định tổn thương thông qua thay đổi
có thể nhìn thấy ở niêm mạc phế quản
Do đó, NSPQHQ có thể xác định tổn
thương ác tính từ niêm mạc Điều này rất
có ý nghĩa trong việc nâng cao giá trị
chẩn đoán UTP và tổn thương tiền ung
thư trên nội soi Nên kết hợp NSPQHQ và
NSAST để cải thiện khả năng chẩn đoán
và định hướng điều trị cho BN Cần làm
NSPQHQ định kỳ nhằm cải thiện kết quả
chẩn đoán
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu hiệu quả chẩn đoán
UTP bằng NSPQHQ ở BN có nguy cơ UTP,
chúng tôi có nhận xét: với tổn thương tiền
ung thư và ung thư có thể sử dụng
NSPQHQ để phát hiện, đặc biệt là tổn
thương tiền ung thư không thể nhìn thấy
và dễ bị bỏ qua khi dùng NSAST Kết hợp
giữa NSAST và NSPQHQ sẽ tốt hơn là
sử dụng đơn lẻ từng phương pháp trong phát hiện UTP ở BN có nguy cơ cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Torre L.A et al Global cancer statistics
CA Cancer J Clin 2015, 65 (2), pp.87-108
2 van Boerdonk R.A et al. Close surveillance with long-term follow-up of subjects with preinvasive endobronchial lesions Am J Respir
Crit Care Med 2015, 192 (12), pp.1483-1489
3 Liu Z et al Clinical relevance of using
autofluorescence bronchoscopy and white light bronchoscopy in different types of airway lesions J Cancer Res Ther 2016, 12 (1), pp.69-72
4 Stojsic J et al. Histological types and age distribution of lung cancer operated patients over a 20-year period: A pathohistological
based study Srp Arh Celok Lek 2011, 139
(9-10), pp.619-624
5 Stojsic J et al. Gender and age trends of histological types of lung cancer in a 20-year period: Pathological perspective J Buon 2010,
15 (1), pp.136-140
6 Sun J et al The value of autofluorescence bronchoscopy combined with white light bronchoscopy compared with white light alone
in the diagnosis of intraepithelial neoplasia and invasive lung cancer: A meta-analysis
J Thorac Oncol 2011, 6 (8), pp.1336-1344
7 Chen W et al. A comparison of autofluorescence bronchoscopy and white
light bronchoscopy in detection of lung cancer
and preneoplastic lesions: A meta-analysis Lung Cancer 2011, 73 (2), pp 183-188
8 Wang Y et al Comparison of autofluorescence imaging bronchoscopy and
Trang 9white light bronchoscopy for detection of lung
cancers and precancerous lesions Patient
Prefer Adherence 2013, 7, pp.621-631
9 Li Y et al. Comparison of the
autofluorescence bronchoscope and the white
light bronchoscope in airway examination
Chin J Cancer 2010, 29 (12), pp.1018-1022
10 Andreev V.Y et al Autofluorescence
and white light bronchoscopy in the diagnosis
of endobronchial malignant lesions Folia Med
(Plovdiv) 2018, 60 (3), pp.439-446
11 Peng A et al. The value of autofluorescence bronchoscopy in assessment of tumor extent and guide of therapeutic strategy in central lung cancer Zhonghua Nei Ke Za Zhi 2015,
54 (1), pp 40-43
12 Zheng X et al Application of quantitative autofluorescence bronchoscopy image analysis method in identifying bronchopulmonary cancer Technology in
Cancer Research & Treatment 2017, 16 (4),
pp.482-487