Phình động mạch chủ ngực, trong đó có phình quai động mạch chủ đã và đang trở thành vấn đề sức khỏe trong giai đoạn hiện nay, khi độ tuổi trung bình của dân số tăng lên và các bệnh lý mạn tính như đái tháo đường và tăng huyết áp đang xuất hiện ngày càng nhiều hơn.
Trang 1NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC VÙNG 0 ĐIỀU TRỊ BẰNG GIÁ ĐỠ CÓ PHỦ KẾT HỢP TÁI TẠO TOÀN PHẦN CÁC NHÁNH CỦA QUAI ĐỘNG MẠCH CHỦ KHÔNG QUA MỞ NGỰC
Võ Tuấn Anh*, Nguyễn Hoàng Định**, Lê Minh Khôi***, Nguyễn Anh Dũng*
TÓM TẮT
Phình động mạch chủ ngực, trong đó có phình quai động mạch chủ đã và đang trở thành vấn đề sức khỏe trong giai đoạn hiện nay, khi độ tuổi trung bình của dân số tăng lên và các bệnh lý mạn tính như đái tháo đường
và tăng huyết áp đang xuất hiện ngày càng nhiều hơn. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 86 tuổi được chẩn đoán phình động mạch chủ ngực đoạn quai xa và đầu động mạch chủ ngực xuống. Bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp đặt giá đỡ có phủ với chân bám giá đỡ vượt qua vùng 0 của động mạch chủ kèm theo tái tạo hoàn toàn các nhánh của quai động mạch chủ không qua mở ngực với kỹ thuật ống khói bằng giá đỡ có phủ nhỏ hơn trong động mạch thân cánh tay đầu. Không có biến chứng và than phiền của bệnh nhân sau một tháng theo dõi. CT Scan sau mổ cho thấy vị trí các giá đỡ tốt, không di lệch, không có dò vào túi phình và các cầu nối động mạch cảnh chung phải – động mạch cảnh chung trái, động mạch cảnh chung trái – động mạch dưới đòn trái thông tốt. Đây là phương pháp hứa hẹn để điều trị các bệnh nhân phình động mạch chủ nguy cơ cao có giới hạn chân bám giá đỡ vượt qua vùng 0. Tuy nhiên, cần phải có các nghiên cứu lâm sàng đa trung tâm, trong thời gian dài với mẫu lớn để đánh giá tốt hơn.
Từ khóa: phình động mạch chủ ngực, đặt giá đỡ có phủ
SUMMARY
ZONE 0 THORACIC ENDOVASCULAR ANEURYSM REPAIR WITH TOTAL DEBRANCHING AND
CHIMNEY STENTING OF INOMINATE ARTERY
Vo Tuan Anh, Nguyen Hoang Dinh, Le Minh Khoi, Nguyen Anh Dung
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 154 ‐ 160
Aortic aneurysm, especially arch aneurysm, is becoming a problem in our healthcare system, regarding to the increasing age of the population and the raise of chronic diseases like hypertension and diabetes mellitus. We report a case of a 86‐year‐old woman with distal arch and proximal descending aorta aneurysm. This patient was treated with an endovascular stent graft of which the landing zone in the zone 0 combined with total arch debranching using a chimney grafts in the brachiocephalic trunk. No complaints and complications after one month follow‐up. The CTA demonstrates a good position of the stent graft and the chimney graft, no endoleak, no migration. Right common carotid – left common carotid and left common carotid – left subclavian artery anastomosis are patent. This may be a valuable theurapeutic for high risk arch aneurysm patient with the landing zone in the zone 0. However, long‐term, multicenter researchs with large volume of patient will provide better assessment.
Keywords: thoracic aneurysm, stent‐graft, chimney technique
* Khoa Phẫu thuật Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM
** Bộ môn Phẫu thuật Lồng ngực Tim mạch, Đại học Y Dược TPHCM
*** Bộ môn Hồi sức Cấp cứu – Chống độc, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS. Võ Tuấn Anh ĐT: 0908520016 Email: tuananh21285@yahoo.com
Trang 2Phình động mạch chủ ngực, trong đó có
phình quai động mạch chủ đã và đang trở
thành vấn đề sức khỏe trong giai đoạn hiện
nay, khi độ tuổi trung bình của dân số tăng lên
và các bệnh lý mạn tính như đái tháo đường
và tăng huyết áp đang xuất hiện ngày càng
nhiều hơn. Tại Mỹ, tần suất phình động mạch
chủ ngực là 6 – 10 trường hợp/100.000 dân,
trong đó 60% là phình động mạch chủ ngực
đoạn lên, 10% phình quai động mạch chủ và
khoảng 30% phình động mạch chủ ngực
xuống(10). Tỉ lệ sống còn sau 5 năm nếu không
điều trị dao động trong khoảng từ 15 – 55%(7).
Phương pháp điều trị tiêu chuẩn của phình
quai động mạch chủ cho đến nay là phẫu thuật,
đòi hỏi phải sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể và
phương pháp hạ thân nhiệt ngưng tuần hoàn.
Ngưng tuần hoàn và thời gian chạy máy tim
phổi nhân tạo kéo dài dẫn đến tăng tỉ lệ tử vong
và tỉ lệ biến chứng do sự hình thành các vi tắc
nghẽn, tăng các chất trung gian viêm, và gây rối
loạn chức năng gan, thận và cân bằng nội môi.
Vì vậy, một phương pháp điều trị có thể tránh
được tuần hoàn ngoài cơ thể và ngưng tuần
hoàn sẽ có lợi hơn cho những bệnh nhân có
nguy cơ phẫu thuật cao. Đặt giá đỡ có phủ cho
động mạch chủ ngực (TEVAR) đã trở thành một
trong những phương pháp đáp ứng điều kiện
trên, đã được áp dụng để điều trị phình động
mạch chủ bụng, phình động mạch chủ ngực
xuống và gần đây là phình quai động mạch chủ,
nhất là các phình động mạch chủ ngực cần đặt
giá đỡ kéo dài đến vùng 0 (từ động mạch chủ
ngực lên đến hết chỗ xuất phát của động mạch
thân cánh tay đầu).
Bảng 1: So sánh giữa TEVAR và phẫu thuật mở theo
Desai ND
Biến chứng TEVAR Phẫu thuật mở
Tỉ lệ tử vong 2,6% 6,7%
Tai biến thần kinh 3,9% 7,1%
Thông khí kéo dài > 24 giờ 9% 24%
Về hiệu quả của TEVAR so với phẫu thuật
kinh điển, Desai N.D và cộng sự đã so sánh giữa đặt giá đỡ có phủ và phẫu thuật động mạch chủ với các kết quả như sau(4):
85% các bệnh nhân đặt giá đỡ có phủ không cần can thiệp lại sau 10 năm(4).
Tương tự, nghiên cứu của tác giả Goodney
P. và cộng sự cũng cho thấy tỉ lệ tử vong của TEVAR thấp hơn so với phẫu thuật kinh điển (6,1% với TEVAR và 7,1% với phẫu thuật kinh điển) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,04)(5).
Giới hạn lớn nhất đối với các trường hợp đặt giá đỡ có phủ cho quai động mạch chủ là phần động mạch an toàn cần thiết đề giá đỡ bám vào thường bao gồm chỗ xuất phát của các động mạch quan trọng của quai (động mạch thân tay đầu, động mạch cảnh chung trái và động mạch dưới đòn trái). Giới hạn này đã được khắc phục bằng các phẫu thuật kết hợp nhằm tái tạo một phần các nhánh của quai động mạch chủ đối với trường hợp chân giá đỡ nằm sau vùng 0 và phẫu thuật tái tạo toàn bộ quai động mạch chủ đối với trường hợp chân giá đỡ phải vượt qua vùng 0. Bên cạnh đó, đặt giá đỡ có phủ của quai động mạch chủ còn là một thử thách lớn do đặc điểm giải phẫu uốn cong của vùng quai, lưu lượng máu lớn và chuyển động của quai theo nhịp tim(3).
Trong trường hợp chân bám của giá đỡ phải vượt qua vùng 1 và nằm trong vùng 0 (che phủ một phần hoặc vượt qua chỗ xuất phát của động mạch thân cánh tay đầu), cần thực hiện phẫu thuật kết hợp (hybrid) để tái tạo toàn bộ các nhánh của quai động mạch chủ, bao gồm động mạch thân cánh tay đầu, động mạch cảnh chung bên trái và động mạch dưới đòn bên trái(13). Để thực hiện phẫu thuật này, trước đây cần phải
mở ngực giữa xương ức tiêu chuẩn để thực hiện cầu nối từ động mạch chủ ngực lên đến các động mạch trên. Đối với các bệnh nhân lớn tuổi, nguy cơ phẫu thuật cao (đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính), thực hiện mở ngực giữa xương ức có thể làm tăng
Trang 3tác giả Moulakalis K.G(9), tỉ lệ các biến chứng sau
phẫu thuật mở ngực để tái tạo toàn bộ quai
động mạch chủ như sau: Để tránh các biến
chứng do phẫu thuật chẻ xương ức, người ta đã
phát triển kỹ thuật tái tạo toàn bộ quai động
mạch chủ không cần mở ngực. Để thực hiện kỹ
thuật này, đầu tiên phẫu thuật viên sẽ làm các
cầu nối động mạch cảnh chung phải – động
mạch cảnh chung trái, động mạch cảnh chung
trái – động mạch dưới đòn trái, các cầu nối này
được làm thông qua các đường rạch da ở cổ và
hố trên đòn trái, nhẹ nhàng hơn so với phẫu
thuật mở ngực.
Bảng 2. Tỉ lệ biến chứng sau mở ngực tái tạo toàn bộ
quai động mạch chủ
Biến chứng Tỉ lệ
Tỉ lệ tử vong sớm (< 30 ngày) 11,9%
Tai biến mạch máu não 7,6%
Nhiễm trùng phổi 12,6%
Sau đó, phẫu thuật viên sẽ đặt thêm một giá
đỡ có phủ có kích thước phù hợp vào động
mạch thân cánh tay đầu cùng thời điểm đặt giá
đỡ có phủ của quai động mạch chủ. Các nghiên
cứu gần đây chứng minh được ưu điểm của
phương pháp này với tỉ lệ tử vong và tỉ lệ biến
chứng thấp, theo tác giả De Rango, tỉ lệ tử vong
sớm là 5,8%, tai biến mạch máu não là 3,8%(2).
Tuy nhiên, vẫn cần các nghiên cứu, nhất là các
nghiên cứu phân tích tổng hợp (meta‐analysis)
để đánh giá rõ hơn hiệu quả của phương pháp
tái tạo toàn bộ quai động mạch chủ không cần
mở ngực.
TRÌNH BÀY BỆNH ÁN
Hành chính
Bệnh nhân Lê Thị T., nữ, 86 tuổi.
Địa chỉ: Đường số 2 – Xã Phú Long – Huyện
Bình Đại – Tỉnh Bến Tre.
Nhập viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
lúc 5 giờ 40 phút ngày 26/08/2013.
Số hồ sơ: A11‐0186854 Số nhập viện: 13‐
0025565.
Lý do nhập viện
Đau ngực.
Bệnh sử
Cách nhập viện khoảng một tháng, bệnh nhân thường xuất hiện đau ngực sau xương ức, lan sau lưng, đau liên tục, âm ỉ, không giảm khi nằm nghỉ, không khó thở. Bệnh nhân đi khám
và điều trị tại các cơ sở y tế tư nhân, không rõ chẩn đoán và loại thuốc sử dụng, điều trị không
có kết quả, đau không thuyên giảm → Đến khám và nhập viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Trong quá trình bệnh, bệnh nhân ăn uống được, tiêu tiểu bình thường, không khàn tiếng, không nuốt nghẹn.
Tiền căn
Tăng huyết áp phát hiện cách nhập viện khoảng 6 – 7 năm, điều trị không thường xuyên, không khai thác được huyết áp cao nhất và huyết áp bình thường của bệnh nhân.
Khám lâm sàng
Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, thể trạng trung bình.
M: 88 lần/phút, Huyết áp: 150/90 mmHg, nhịp thở: 12 lần/phút, nhiệt độ: 37oC.
Tim đều, rõ 88 lần/phút, không âm thổi. Phổi âm phế bào hai bên rõ, không ran. Bụng mềm.
Kết quả cận lâm sàng quan trọng
CT Scan ngực – bụng có cản quang: Phình động mạch chủ ngực đoạn quai xa và đầu động mạch chủ ngực xuống, đường kính tối đa 65
mm. Khoảng cách từ cổ túi phình đến chỗ xuất phát của động mạch thân cánh tay đầu là 18 – 20
mm. Đường kính động mạch chủ ngực lên trước túi phình là 28 – 30 mm. Đường kính động mạch chủ ngực xuống sau túi phình là 23 – 25 mm. Đường kính động mạch chậu ngoài và đùi chung hai bên là 7,6 mm.
Siêu âm tim: Chức năng tâm thu thất trái tốt,
EF =%
Chụp động mạch vành: Hệ động mạch vành
Trang 4Chụp động mạch cảnh hai bên và đa giác
Willis: Không hẹp, đa giác Willis thông nối tốt.
Công thức máu, đông máu toàn bộ, chức
năng gan, thận, ion đồ và các xét nghiệm khác
trong giới hạn bình thường.
Hình 1: Xác định các kích thước và tương quan của
túi phình với các mạch máu lớn
Chẩn đoán
Phình động mạch chủ ngực đoạn quai xa và
đầu động mạch chủ ngực xuống – Tăng huyết
áp IIC (JNC VII).
Điều trị
Hướng điều trị
Vì bệnh nhân lớn tuổi, có nhiều nguy cơ lớn
khi thực hiện phẫu thuật mở, chúng tôi quyết
định đặt giá đỡ có phủ qua vùng túi phình. Với
khoảng cách từ cổ túi phình đến động mạch
thân cánh tay đầu ở mức 18 – 20 mm, chúng tôi
sử dụng chiến lược tái tạo toàn bộ các nhánh của
quai động mạch chủ không qua mở ngực giữa
xương ức như sau: Thực hiện cầu nối bên – bên
từ động mạch cảnh chung bên phải sang động
mạch cảnh chung bên trái, cầu nối tận – tận từ
động cảnh chung trái sang động mạch dưới đòn
trái. Đặt giá đỡ có phủ vào động mạch chủ, cùng
lúc đó đặt giá đỡ có phủ vào động mạch thân cánh tay đầu theo kỹ thuật ống khói.
Phương pháp phẫu thuật
Phẫu thuật được chia thành hai thì, thực hiện cách nhau 24 giờ.
Thì 1 được thực hiện tại phòng mổ Khoa Phẫu thuật tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh, bệnh nhân được gây mê nội khí quản, theo dõi tưới máu não liên tục bằng hệ thống đo độ bão hòa oxy não, theo dõi áp lực động mạch cảnh trực tiếp sau kẹp nhằm đảm bảo huyết áp đầu xa động mạch cảnh sau khi kẹp > 50 mmHg. Bộc lộ động mạch cảnh chung phải bằng đường mở dọc theo bờ trước cơ ức đòn chũm phải, bộc lộ động mạch cảnh chung trái và động mạch dưới đòn trái bằng đường mở dọc theo bờ trước cơ ức đòn chũm trái kéo dài dọc theo bờ trên xương đòn đến 1/3 ngoài xương đòn trái. Thực hiện cầu nối bên – bên bằng ống ghép Gore‐Tex số 8, ống ghép được đặt phía sau khối khí – thực quản, phía trước cột sống. Cắt rời động mạch cảnh chung bên trái và động mạch dưới đòn bên trái, đóng chỗ xuất phát của hai động mạch trên bằng chỉ Prolene 6.0, thực hiện cầu nối tận – tận giữa động mạch cảnh chung trái và động mạch dưới đòn trái. Đóng vết mổ theo lớp. Bệnh nhân được chuyển
ra phòng hồi sức để theo dõi tri giác và các dấu hiệu thần kinh, các dấu hiệu sinh tồn. Sau phẫu thuật, bệnh nhân tỉnh, không có dấu hiệu thần kinh khu trú mới xuất hiện, mạch, huyết áp ổn định, không sốt.
Thì 2 được thực hiện tại phòng DSA Khoa Nội Tim Mạch. Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, bộc lộ bó mạch đùi trái, đặt sheath 6
F tại động mạch đùi phải. Luồn pigtail vào qua động mạch đùi phải, luồn dây dẫn vào động mạch đùi trái theo kỹ thuật Seldinger, dùng hệ thống nong để nong rộng lỗ vào động mạch đùi trái đến kích thước 24 F. Bộc lộ động mạch nách phải, luồn dây dẫn vào động mạch nách theo kỹ thuật Seldinger, dùng hệ thống nong
để nong rộng lỗ vào động mạch nách phải. Luồn hệ thống giá đỡ có phủ của động mạch
Trang 5giá đỡ có phủ của động mạch thân cánh tay
đầu qua động mạch nách phải. Chúng tôi sử
dụng giá đỡ có phủ Valiant (Medtronic) 40 x
40 x 200 mm cho động mạch chủ ngực và giá
đỡ có phủ Endurant (Medtronic) 16 x 16 x 95
mm cho động mạch thân cánh tay đầu.
Xác định các mốc thả giá đỡ, sau đó đưa cả hai dụng cụ vào đúng vị trí. Cần có hai phẫu thuật viên thả đồng thời hai giá đỡ cùng một lúc: khi thả hai vòng giá đỡ Valiant, điều chỉnh lại vị trí giá đỡ lần cuối cùng, và giá đỡ Endurant được thả toàn bộ, sau đó thả phần còn lại của giá đỡ Valiant.
Hình 2: Hình ảnh thả giá đỡ động mạch chủ ngực cùng lúc với giá đỡ động mạch thân tay đầu theo kỹ thuật ống
khói
Hình 3: Kết quả chụp kiểm tra sau xuất viện một tuần cho thấy không có dò cạnh giá đỡ và sự thông thương của
hệ thống nối tắt các động mạch nuôi não.
Chụp kiểm tra thấy không có di lệnh các
giá đỡ, không có dò cạnh giá đỡ. Tưới máu lên
não và động mạch dưới đòn trái tốt qua các cầu nối.
Sau phẫu thuật đặt giá đỡ có phủ, bệnh nhân
Trang 6Phẫu thuật tim mạch bệnh viện Đại học Y Dược.
Tiến trình hồi sức ổn định, không có biến chứng,
bệnh nhân được chuyển sang hậu phẫu sau 2
ngày nằm hồi sức và được cho xuất viện vào
ngày thứ 6 sau phẫu thuật.
Tái khám sau một tuần: bệnh nhân khỏe,
không còn đau ngực, tự đi lại, ăn uống khá.
BÀN LUẬN
Cho đến ngày nay, phương pháp điều trị
tiêu chuẩn của phình động mạch chủ ngực
đoạn quai vẫn là phẫu thuật mở có sử dụng
tuần hoàn ngoài cơ thể và hạ thân nhiệt ngưng
tuần hoàn. Tuy vậy, trên những bệnh nhân lớn
tuổi, nhiều nguy cơ, phẫu thuật tiêu chuẩn
đang dần dần được thay thế bằng phương
pháp đặt giá đỡ có phủ do mức độ phức tạp,
thời gian phẫu thuật kéo dài, tỉ lệ biến chứng
sau mổ và tỉ lệ tử vong cao(14). Điều trị can
thiệp nội mạch ít xâm lấn hơn, tỉ lệ biến chứng
và tỉ lệ tử vong cũng thấp hơn, được khuyến
cao thực hiện cho các bệnh nhân trên 75
chủ không đòi hỏi mở ngực cũng như sự hỗ
trợ của tuần hoàn ngoài cơ thể nên gần như
không có nguy cơ chảy máu sau mổ, đồng
thời, can thiệp nội mạch cũng không đòi hỏi
phải kẹp động mạch chủ, do đó giảm thiểu
được nguy cơ thiếu máu nuôi não, tủy và các
tạng khác(14). Với những ưu điểm đó, đặt giá
đỡ có phủ để điều trị bệnh lý phình động
mạch chủ được xem như một phương pháp
điều trị thay thể tốt cho phẫu thuật trên bệnh
nhân có nguy cơ cao. Tuy nhiên, bên cạnh
những ưu điểm, phương pháp can thiệp nội
mạch vẫn còn những hạn chế, trong đó, hạn
chế thường gặp nhất là vùng động mạch chủ
bình thường để giá đỡ bám vào không đủ
khoảng cách 20 mm, do vị trí chỗ xuất phát
của các động mạch quan trọng của động mạch
chủ như động mạch thân cánh tay đầu, động
mạch cảnh chung trái, động mạch dưới đòn
trái ở vùng quai hay động mạch thân tạng,
động mạch mạc treo tràng trên và 2 động
mạch thận ở động mạch chủ bụng. Để khắc phục khuyết điểm trên, mô hình phẫu thuật lai (hybrid) là mô hình được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay(13), thực hiện phẫu thuật tái tạo các nhánh động mạch nói trên và đặt giá đỡ có phủ vượt qua những lỗ xuất phát cũ để đảm bảo vùng bám an toàn, tránh biến chứng di chuyển giá đỡ về sau.
Tuy vậy, phẫu thuật tái tạo các nhánh của động mạch chủ vẫn có tỉ lệ nguy cơ cao, nhất là đối với phẫu thuật tái tạo hoàn toàn các nhánh của quai động mạch chủ ở bệnh nhân lớn tuổi
do các biến chứng của mở ngực giữa xương ức: Thở máy kéo dài, viêm phổi, nhiễm trùng vết
mổ và xương ức không lành(2). Để tránh các biến chứng trên, các tác giả trên thế giới đã đưa ra phương pháp tái tạo lại các nhánh của quai động mạch chủ không cần mở ngực, bằng cách đặt giá đỡ có phủ nhỏ hơn vào các nhánh này hoặc đặt một giá đỡ có phủ vào động mạch thân cánh tay đầu và thực hiện các cầu nối giữa động mạch thân cánh tay đầu và các động mạch còn lại(12).
Hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình đánh giá kết quả dài hạn của phương pháp trên, bao gồm sự ăn mòn nơi tiếp giáp của giá đỡ động mạch chủ và giá đỡ nhỏ, di chuyển giá đỡ và dò máu vào túi phình(11). Các nghiên cứu cho thấy biến chứng dò máu vào túi phình loại I có thể tránh được khi để giá đỡ nhỏ đi song song với giá đỡ chính và xa hơn giá đỡ chính ít nhất 7
cm(1). Để tránh hiện tượng di chuyển, chúng tôi chọn kích thước giá đỡ lớn hơn kích thước động mạch chủ khoảng 15 – 20%, nếu chọn kích thước giá đỡ lớn hơn nữa sẽ có nguy cơ gấp nếp hoặc tạo ra các rãnh giữa giá đỡ và động mạch chủ, tăng nguy cơ dò máu vào túi phình(6).
Như vậy, cho đến hiện tại, phương pháp tái tạo các nhánh của động mạch chủ bằng can thiệp nội mạch vẫn còn đang được nghiên cứu
và được khuyến cáo sử dụng trên những bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật rất cao, khi không còn lựa chọn khác. Chưa có khuyến cáo về loại giá đỡ phù hợp để sử dụng cho kỹ thuật này
Trang 7nhằm giảm tối thiểu hiện tượng mỏi của kim
loại. Cần phải có các nghiên cứu đa trung tâm
trong thời gian dài để đánh giá tốt hơn hiệu quả
của phương pháp tái tạo toàn bộ quai động
mạch chủ bằng giá đỡ nhỏ qua các nhánh động
mạch của quai kết hợp với việc đặt giá đỡ chính
trong động mạch chủ.
KẾT LUẬN
Tái tạo toàn bộ quai động mạch chủ không
qua mở ngực phối hợp với đặt giá đỡ có phủ
trong điều trị bệnh lý phình động mạch chủ có
giới hạn an toàn cho giá đỡ ở vùng 0 và vùng 1
là một phương pháp mới, có nhiều hứa hẹn vì ít
gây ra biến chứng, tỉ lệ tử vong ngắn hạn thấp
hơn trên những bệnh nhân có nguy cơ phẫu
thuật cao. Tuy vậy, cần phải có những nghiên
cứu mẫu lớn, đa trung tâm trong thời gian dài
hạn để đánh giá tốt hơn hiệu quả của phương
pháp này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Choi BK, et al (2011). Successful treatment of a ruptured aortic
arch aneurysm using a hybrid procedure. Korean Circ J, 41(8):
469‐73.
2 De Rango P, et al (2013), Aortic arch debranching and thoracic
endovascular repair. J Vasc Surg. 59(1):107‐14.
3 Cooley D, Sundt T (2008). Surgical anatomy. Aortic arch
surgery, Blackwell Publishing Ltd: 12 ‐ 18.
4 Desai ND, et al (2012). Long‐term comparison of thoracic
endovascular aortic repair (TEVAR) to open surgery for the
treatment of thoracic aortic aneurysms. J Thorac Cardiovasc
Surg, 144(3): 604‐9; discussion 609‐11.
5 Goodney PP, et al (2011). Survival after open versus endovascular thoracic aortic aneurysm repair in an observational study of the Medicare population. Circulation, 124(24): 2661‐9.
6 Kolvenbach RR, et al (2011). Urgent endovascular treatment
of thoraco‐abdominal aneurysms using a sandwich technique and chimney grafts‐‐a technical description. Eur J Vasc Endovasc Surg, 41(1): 54‐60.
7 Melissano G, et al (2005). Endovascular treatment of aortic arch aneurysms. Eur J Vasc Endovasc Surg, 29(2): 131‐8.
8 Milewski RK, et al (2010). Have hybrid procedures replaced open aortic arch reconstruction in high‐risk patients? A comparative study of elective open arch debranching with endovascular stent graft placement and conventional elective open total and distal aortic arch reconstruction. J Thorac Cardiovasc Surg, 140(3): 590‐7.
9 Moulakakis KG, et al (2013). A systematic review and meta‐ analysis of hybrid aortic arch replacement. Ann Cardiothorac Surg, 2(3): 247‐60.
10 Saleh HM and Inglese L (2006). Combined surgical and endovascular treatment of aortic arch aneurysms. J Vasc Surg, 44(3): 460‐466.
11 Sugiura K, et al (2009). The applicability of chimney grafts in the aortic arch. J Cardiovasc Surg, 50(4): 475‐81.
12 Vallejo N, et al (2012). Hybrid repair of thoracic aortic lesions for zone 0 and 1 in high‐risk patients. J Vasc Surg, 55(2): 318‐
25.
13 Yoshida RA, et al (2011). Total endovascular debranching of the aortic arch. Eur J Vasc Endovasc Surg, 42(5): 627‐30.
14 Zhou W and Qiu J (2013). Endovascular repair of an aortic arch pseudoaneurysm with double chimney stent grafts: a case report. J Cardiothorac Surg, 8: 80.
Ngày nhận bài báo: 27/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/11/2013 Ngày bài báo được đăng : 05/012014