1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu xây dựng công thức hệ tự nhũ tạo vi nhũ tương phyllanthin sử dụng dầu gấc làm pha dầu

8 99 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 477,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu xây dựng công thức hệ tự nhũ tạo vi nhũ tương chứa phyllanthin (P-SMEDDS) sử dụng dầu Gấc làm tá dược pha dầu và đánh giá các tính chất in vitro của P-SMEDDS.

Trang 1

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÔNG THỨC HỆ TỰ NHŨ TẠO

VI NHŨ TƯƠNG PHYLLANTHIN SỬ DỤNG DẦU GẤC LÀM PHA DẦU

Võ Thị Diệu*, Nguyễn Đức Hạnh*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Phyllanthin là một hoạt chất có độ tan trong nước thấp, dẫn đến sinh khả dụng đường uống thấp

Với khả năng cản thiện độ tan và nâng cao sinh khả dụng đường uống, hệ tự nhũ tạo vi nhũ tương (SMEDDS) ngày càng được nghiên cứu ứng dụng nhiều trong ngành dược Dầu Gấc là một dầu tự nhiên được chiết xuất từ

áo hạt quả Gấc Momordica cochinchinesis lần đầu tiên được sử dụng làm tá dược cho hệ SMEDDS Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu xây dựng công thức hệ tự nhũ tạo vi nhũ tương chứa phyllanthin (P-SMEDDS) sử dụng dầu Gấc làm tá dược pha dầu và đánh giá các tính chất in vitro của P-SMEDDS

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Sàng lọc tá dược hệ P-SMEDDS được tiến hành trên 5 dầu tự

nhiên (dầu Gấc, dầu Mè, dầu Dừa, dầu Đậu nành, dầu Đậu phụng), 3 chất diện hoạt (Cremophor RH40, Cremophor EL, Labrasol) và 2 chất đồng diện hoạt (Lutrol, Transcutol) Công thức hệ P-SMEDDS được xây dựng thông qua việc khảo sát các giản đồ pha của dầu, chất diện hoạt và đồng diện hoạt được chọn lựa và các đặc điểm của vi nhũ tương hình thành P-SMEDDS và vi nhũ tương phyllanthin tạo thành được đánh giá độ bền sau khi pha loãng và ly tâm, thời gian tự nhũ, độ ổn định, dãy phân bố kích thước tiểu phân (PDI), thế zeta Khảo sát

độ hòa tan in-vitro của viên nang P-SMEDDS và so sánh với viên nang tinh thể phyllanthin

Kết quả: Công thức P-SMEDDS được lựa chọn gồm phyllanthin/dầu Gấc/Capryol 90/Cremophor

RH40/Transcutol P với tỷ lệ 1,38:9,86:9,86:59,17:19,73 (kl/kl) P-SMEDDS được nhũ hóa hoàn toàn trong 1,20 phút, hình thành vi nhũ tương phyllanthin có kích thước tiểu phân trung bình là 19,17 nm và PDI là 0,076, không xảy ra hiện tượng tách pha hay kết tủa hoạt chất sau 8 giờ pha loãng hoặc sau thử nghiệm ly tâm Tốc độ phóng thích phyllanthin từ viên nang P-SMEDDS được chứng minh là nhanh hơn so với viên nang tinh thể phyllanthin

Kết luận: Đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng dầu Gấc làm tá dược pha dầu cho hệ SMEDDS Công thức

P-SMEDDS đã được nghiên cứu phát triển P-SMEDDS đã được chứng minh có khả năng cải thiện độ hòa tan của phyllathin và là một giải pháp tiềm năng giúp nâng cao sinh khả dụng đường uống của phyllanthin

Từ khóa: phyllanthin, hệ tự nhũ tạo vi nhũ tương, dầu Gấc, dầu tự nhiên

ABSTRACT

DEVELOPMENT OF PHYLLANTHIN-LOADED SELF-MICROEMULSIFYING DRUG DELIVERY

SYSTEMS USING GAC OIL AS A NATURAL LIPOPHILE

Vo Thi Dieu, Nguyen Duc Hanh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 285 - 292

Objectives: Phyllanthin, a poorly water-soluble active compound, has been reported to exhibit a low oral

bioavailability Nowadays, self-microemulsifying drug delivery systems (SMEDDS) have gained great importance due to their excellent efficiency in improving the water-solubility of drugs and thus enhancing their oral bioavailability Gac oil is common natural oil produced from Momordica cochinchinesis aril and has been used for the first time as a SMEDDS excipient The aim of this study was to develop a phyllanthin-loaded

self-microemulsifying drug delivery system (P-SMEDDS), using Gac oil as a natural lipophile, and evaluate its in

*Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

vitro characteristics

Methods: Excipient screening was carried out with five oils (Gac oil, sesame oil, coconut oil, soybean oil, and

peanut oil), three surfactants (Cremophor RH40, Cremophor EL, Labrasol) and two co-surfactants (Lutrol, Transcutol P) Formulation development was based on several pseudo-ternary phase diagrams of selected oil, surfactant and co-surfactant and characteristics of resultant microemulsions The optimized P-SMEDDS formulation and the resultant microemulsions were characterized by dilution study, self-emulsification performance, stability, droplet size and polydispersity index In vitro dissolution of P-SMEDDS capsules was studied and compared with those of plain phyllanthin

Results: The optimized P-SMEDDS formulation consisted of phyllanthin/Gac oil/Capryol 90/Cremophor

RH 40/Transcutol P (1.38:9.86:9.86:59.17:19.73) in % w/w P-SMEDDS was found to be completely emulsified within 1.20 min and formed microemulsions with a mean droplet size of 19.17 nm and a PDI of 0.076 P-SMEDDS was robust to dilution and the resultant emulsion showed no phase separation or drug precipitation after 8 h dilution and after centrifugation test The release of phyllanthin from P-SMEDDS capsule was significantly faster than that of plain phyllanthin capsule

Conclusion: Our study demonstrated for the first time that Gac oil could be used as a component of oily

phase for SMEDDS P-SMEDDS formulation was successfully developed and could be a promising solution for enhancing not only phyllanthin solubility but also its oral bioavailability

Key words: phyllanthin, self-microemulsifying drug delivery systems, Gac oil, natural lipophile

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phyllanthin (Hình 1) là một hoạt chất

chính của lá Diệp hạ châu đắng Phyllanthus

amarus với nhiều tác dụng dược lý quan trọng

như hoạt tính chống oxy hóa, bảo vệ tế bào

gan, làm giảm acid uric huyết, ức chế

P-glycoprotein và có tác dụng hiệp lực với một

số thuốc kháng ung thư (2,3,5) Tuy nhiên,

phyllanthin có độ tan trong nước thấp (9,5

µg/ml), dẫn tới sinh khả dụng đường uống

thấp (0,62%)(3) Với khả năng cản thiện độ tan

và nâng cao sinh khả dụng đường uống, hệ tự

nhũ tạo vi nhũ tương (SMEDDS) ngày càng

được nghiên cứu ứng dụng nhiều trong ngành

dược(1,4)

CH 3 O

CH 3 O

OCH 3 OCH 3

H H

OCH3 OCH 3

Hình 1: Công thức hóa học của phyllanthin

Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xây dựng

công thức và khảo sát tính chất của hệ tự nhũ

tạo vi nhũ tương chứa phyllanthin (P-SMEDDS) hướng tới mục tiêu cải thiện độ hòa tan của phyllanthin

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Phyllanthin (độ tinh khiết 98,73 %) do ban NCKH – TV, Khoa Dược, Đại học Y Dược TP

Hồ Chí Minh cung cấp Các tá dược, dung môi đạt tiêu chuẩn Dược điển và tiêu chuẩn cơ sở Vỏ nang cứng số 0 (Thái Lan) và màng thẩm tách MWCO (molecular weight cut-off) 3500 – 4000 (Cellu Sep, Mỹ)

Xây dựng và thẩm định phương pháp HPLC định lượng phyllanthin

Chuẩn bị mẫu thử định lượng phyllanthin trong các tá dược và trong P-SMEDDS: Hòa tan hoàn

toàn 50 µl mẫu cần định lượng bằng ethanol trong bình định mức 10 ml, thêm ethanol đến vạch, lắc đều Lọc dung dịch qua màng lọc kích thước lỗ lọc 0,22 µm trước khi phân tích bằng phương pháp HPLC

Chuẩn bị mẫu thử định lượng phyllanthin phóng thích từ thử nghiệm độ hòa tan: Lọc mẫu thu được

Trang 3

từ thử nghiệm khảo sát độ hòa tan qua màng lọc

kích thước lỗ lọc 0,22 µm trước khi phân tích

bằng phương pháp HPLC

Điều kiện HPLC định lượng phyllanthin

Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao Azura

(Knauer, Đức), đầu dò UVD 2.1L Cột sắc ký:

Syncronis C18 (250×4,6 mm; 5 µm) và tiền cột

C18HQ 105 (4x10 mm; 5 µm) Hệ pha động:

acetonitril – nước (75:25) Tốc độ dòng: 0,7

ml/phút Nhiệt độ cột: 25 oC Thể tích tiêm mẫu:

20 µl Thời gian phân tích: 12 phút Bước sóng

phát hiện: 230 nm

Thẩm định phương pháp HPLC định lượng

phyllanthin

Phương pháp HPLC định lượng phyllanthin

được thẩm định về tính tương thích hệ thống,

tính đặc hiệu, tính tuyến tính, độ lặp lại và độ

đúng

Xây dựng công thức P-SMEDDS

Khảo sát độ tan của phyllanthin trong tá dược

Độ tan của phyllanthin trong 5 loại dầu tự

nhiên (dầu Gấc, dầu Mè, dầu Dừa, dầu Đậu

nành, dầu Đậu phụng), 3 chất diện hoạt

(Cremophor RH40, Cremophor EL, Labrasol)

và 2 chất đồng diện hoạt (Lutrol, Transcutol)

được xác định bằng phương pháp quá bão

hòa Lựa chọn dầu có khả năng hòa tan

phyllanthin cao nhất

Khảo sát lựa chọn chất diện hoạt

Phối hợp dầu được lựa chọn với mỗi chất

diện hoạt ở các tỷ lệ khác nhau Pha loãng 100

lần với nước, lắc đều và so sánh độ trong Lựa

chọn chất diện hoạt tạo nhũ tương trong suốt

và bền

Khảo sát lựa chọn chất đồng diện hoạt

Thiết lập các giản đồ pha gồm nước, dầu

được chọn, hỗn hợp chất diện hoạt được chọn/

chất đồng diện hoạt khảo sát (3:1, kl/kl) theo

phương pháp chuẩn độ nước (water titration)

Lựa chọn chất đồng diện hoạt tạo được vùng vi

nhũ tương rộng hơn

Khảo sát lựa chọn công thức tá dược SMEDDS (bl-SMEDDS)

Từ các thành phần đã chọn, thiết lập các giản đồ pha Lựa chọn các bl-SMEDDS có vùng nhũ tương rộng Ly tâm các bl-SMEDDS

ở tốc độc 4000 vòng/phút trong 20 phút, đánh giá độ bền của các bl-SMEDDS và lựa chọn công thức tối ưu

Tải hoạt chất vào bl-SMEDDS

Tải phyllanthin vào bl-SMEDDS với các hàm lượng phyllanthin khác nhau (10, 14, 20, 35 mg/g), tạo thành các SMEDDS Pha loãng P-SMEDDS 10 lần và 100 lần với dịch dạ dày giả định không có ezym (SGFwe) Đánh giá độ bền của vi nhũ tương tại thời điểm ngay sau khi pha loãng và 8 giờ sau pha loãng Lựa chọn công thức P-SMEDDS tối ưu

Đánh giá tính chất của P-SMEDDS

Khảo sát thời gian tự nhũ của P-SMEDDS

Khả năng tự nhũ của P-SMEDDS được đánh giá trong 900 ml SGFwe ở 37oC, sử dụng cá từ với tốc độ quay 50 vòng/phút 1 ml P-SMEDDS được phân tán vào môi trường nhờ một đầu syring nhùng chìm dưới mặt thoáng môi trường

1 cm và tốc độ bơm 5 ml/phút

Kích thước tiểu phân và thế zeta

P-SMEDDS được pha loãng 100 lần với nước cất tạo thành vi nhũ tương Xác định kích thước tiểu phân trung bình, dãy phân bố kích thước (PdI) và thế zeta của vi nhũ tương hình thành

Độ bền của vi nhũ tương phyllanthin

Pha loãng P-SMEDDS 100 lần với SGFwe, ly tâm 15000 vòng/phút trong 15 phút Quan sát sự tách pha, kết tủa hoạt chất (nếu có)

Định lượng phyllanthin trong P-SMEDDS

Áp dụng phương pháp HPLC định lượng phyllanthin nêu trên

Độ hòa tan của viên nang P-SMEDDS

Khả năng phóng thích phyllanthin từ viên nang P-SMEDDS được khảo sát sử dụng phương pháp phóng thích trực tiếp và phương

Trang 4

pháp phóng thích qua màng thẩm tách (MWCO

3500-4000 Da) trong 900 ml SGFwe, sử dụng

thiết bị kiểu cánh khuấy với tốc độ quay 50

vòng/phút Thời gian lấy mẫu là 3, 6, 9, 12, 15, 20,

30 phút đối với viên nang P-SMEDDS và 15, 30,

60, 90, 120, 180 phút đối với viên nang tinh thể

phyllanthin Mẫu được lọc qua màng lọc có kích

thước lỗ lọc 0,22 µm trước khi được định lượng

bằng phương pháp HPLC So sánh kết quả độ

hòa tan của viên nang P-SMEDDS với độ hòa tan

của viên nang tinh thể phyllanthin

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Thẩm định phương pháp HPLC định

lượng phyllanthin

Phương pháp HPLC định lượng phyllanthin

trong tá dược, trong P-SMEDDS, trong mẫu môi

trường thử nghiệm độ hòa tan đạt yêu cầu về

tính tương thích hệ thống, tính đặc hiệu, tính

tuyến tính trong khoảng nồng độ 0,25 – 296,19

µg/ml với phương trình tương quan tuyến tính

x

y  58 , 11 (R2=0,9998); đạt độ lặp lại với RSD =

0,90 %; đạt độ đúng với độ phục hồi từ 97,19 –

101,65 %

Xây dựng công thức P-SMEDDS

Độ tan của phyllanthin trong tá dược

Độ tan của phyllanthin trong các dầu (dầu

Gấc, dầu Dừa, dầu Mè, dầu Đậu nành, dầu Đậu

phụng), chất diện hoạt (Labrasol, Cremophor

RH40, Cremophor EL), chất đồng diện hoạt

(Transcutol P, Lutrol 400) được thể hiện trong

Hình 2

Hệ SMEDDS khi pha loãng trong môi trường

dịch dạ dày có thể xảy ra sự kết tủa hoạt chất (4)

Vì vậy, cần khảo sát độ tan của hoạt chất trong tá

dược, đặc biệt là pha dầu, và lựa chọn tá dược có

khả năng hòa tan hoạt chất tối ưu Phyllanthin

tan rất tốt trong các tá dược khảo sát, cao hơn rất

nhiều lần trong nước (9,5 µg/ml) Trong năm loại

dầu khảo sát, phyllanthin tan tốt nhất trong dầu

Gấc (16,29 mg/ml) Do đó, dầu Gấc được chọn

làm pha dầu cho P-SMEDDS

Hình 2: Độ tan của phyllanthin trong tá dược

Khảo sát lựa chọn chất diện hoạt

Chất diện hoạt được chọn lựa dựa trên khả năng nhũ hóa pha dầu Trong ba chất diện hoạt khảo sát, Labrasol hòa tan phyllanthin nhiều nhất (36,98 mg/ml) nhưng nhũ hóa dầu Gấc rất yếu, tạo nhũ tương thô, không bền Cremophor RH40 nhũ hóa dầu Gấc tốt, hình thành vi nhũ tương trong suốt và bền, kế đến là Cremophor

EL Cremophor RH40 tuy hòa tan phyllanthin ít hơn nhưng nhũ hóa dầu Gấc tốt, tạo vi nhũ tương trong suốt, bền Do đó, Cremophor RH40 được chọn làm chất diện hoạt cho P-SMEDDS

Khảo sát lựa chọn chất đồng diện hoạt

Sự tạo gel làm kéo dài thời gian hình thành

vi nhũ tương Vì vậy, nếu giản đồ pha có vùng tạo gel quá rộng sẽ không được lựa chọn Giản

đồ pha sử dụng hỗn hợp Cremophor RH40/Transcutol P tỷ lệ 3:1 (kl/kl) tuy vùng tạo

vi nhũ tương hẹp (Hình 3b) nhưng không có sự tạo gel trước khi hình thành vi nhũ tương Do

đó, Transcutol P được chọn làm chất đồng diện hoạt cho P-SMEDDS

Hình 3: Giản đồ pha của nước; dầu Gấc; Cremophor

RH40 và chất đồng diện hoạt: (a) Lutrol hoặc (b) Transcutol P Tỷ lệ Cremophor RH40/chất đồng diện

b) a)

Trang 5

hoạt là 3:1 (kl/kl) Vùng chấm bi là vùng tạo vi nhũ

tương, vùng tô màu xám là vùng tạo gel

Vùng vi nhũ tương trong cả hai giản đồ pha

trên đều rất hẹp Điều này có thể được lý giải vì

dầu Gấc là một dầu thiên nhiên, gồm hàm lượng

lớn các acid béo có mạch carbon dài, kém phân

cực, do đó khó phân tán và thường cần một

lượng lớn chất diện hoạt để hình thành vi nhũ

tương Với mục đích mở rộng vùng vi nhũ

tương, dầu Gấc được phối hợp với một số dầu có mạch carbon trung bình Kết quả cho thấy trong

số các dầu có mạch carbon trung bình, Capryol

90 giúp mở rộng vùng vi nhũ tương nhiều nhất

Đề tài tiếp tục khảo sát tỷ lệ phối hợp dầu Gấc/Capryol 90 làm pha dầu cho P-SMEDDS

Khảo sát lựa chọn tỷ lệ phối hợp dầu Gấc và Capryol 90 làm pha dầu

(c)

Hình 4: Giản đồ pha của nước; dầu Gấc/Capryol 90 các tỷ lệ (a) 1:0, (b) 2:1, (c) 1:1 (kl/kl); Cremophor

RH40/Transcutol P tỷ lệ 3:1 (kl/kl) Vùng chấm bi là vùng tạo vi nhũ tương

Sau khi phối hợp dầu Gấc với Capryol 90,

vùng vi nhũ tương được mở rộng đáng kể (Hình

4) Giản đồ pha sử dụng dầu Gấc/Capryol 90 tỷ

lệ 1:1 có vùng vi nhũ tương rộng nhất Do đó,

hỗn hợp dầu Gấc/Capryol 90 tỷ lệ 1:1 (kl/kl)

được chọn làm pha dầu cho P-SMEDDS Đây là công bố đầu tiên trong nước cũng như thế giới

sử dụng dầu Gấc hay hỗn hợp dầu Gấc/Capryol

90 làm tá dược pha dầu cho SMEDDS

Giản đồ pha lựa chọn công thức bl-SMEDDS

Hình 5: Giản đồ pha của nước; dầu Gấc/Capryol 90 tỷ lệ 1:1 (kl/kl); Cremophor RH40/Transcutol P các tỷ lệ (a) 1:0, (b) 4:1,

(c) 3:1, (d) 2:1, (e) 1:1 (kl/kl) Vùng chấm bi là vùng tạo vi nhũ tương Vùng tô màu xám là vùng tạo gel

Trang 6

Giản đồ pha sử dụng Cremophor

RH40/Transcutol P tỷ lệ 4:1 và tỷ lệ 3:1 (Hình

5b, 5c) có vùng vi nhũ tương rộng và vùng tạo

gel hẹp Từ hai giản đồ pha này, một số công

thức bl-SMEDDS (Bảng 1) được chọn để tiếp tục khảo sát

Bảng 1: Các công thức bl-SMEDDS được chọn từ các giản đồ pha

Công thức Giản đồ

pha

Tỷ lệ pha dầu/chất nhũ hóa

Thành phần (kl/kl)

bl-SMEDDS 1

(5b)

4:6 Dầu Gấc/Capryol 90/Cremophor RH40/Transcutol P

20:20:48:12

15:15:56:14 bl-SMEDDS 3

(5c)

3:7 Dầu Gấc/Capryol 90/Cremophor RH40/Transcutol P

15:15:52,5:17,5

10:10:60:20

Đánh giá độ bền của bl-SMEDDS

Các hệ SMEDDS phải bền vững về nhiệt

động học, các thí nghiệm đánh giá độ bền của

SMEDDS rất cần thiết để đảm bảo SMEDDS ổn

định trong quá trình bảo quản và hình thành vi

nhũ tương bền vững trong đường tiêu hóa Các

bl-SMEDDS 1, bl-SMEDDS 2, bl-SMEDDS 3 bị

tách thành hai lớp sau khi ly tâm 4000 vòng/phút

trong 20 phút, trong khi đó, bl-SMEDDS 4 vẫn

trong suốt, đồng nhất, không có hiện tượng tách

lớp Vì vậy, công thức bl-SMEDDS 4 được lựa

chọn để tiếp tục khảo sát

Khả năng tải hoạt chất phyllanthin vào bl-

SMEDDS

Sau khi tải phyllanthin với các hàm lượng 10,

14, 20, 35 mg/g vào bl-SMEDDS 4, tạo thành các

SMEDDS 10, SMEDDS 14, SMEDDS 20,

P-SMEDDS 35 có thể chất trong suốt và đồng nhất

Ở tỷ lệ pha loãng 10 lần trong SGFwe, tất cả bốn

công thức SMEDDS 10, SMEDDS 14,

P-SMEDDS 20, P-P-SMEDDS 35 đều bền vững Ở tỷ

lệ pha loãng 100 lần trong SGFwe, P-SMEDDS

10, P-SMEDDS 14 không có hiện tượng tách pha,

kết tủa hoạt chất tại thời điểm 0 h cũng như 8 h

sau pha loãng Tuy nhiên, công thức P-SMEDDS

20, P-SMEDDS 35 (sau khi pha loãng 100 lần

trong SGFwe) xuất hiện các tinh thể phyllanthin

sau 8 giờ pha loãng Vì vậy, P-SMEDDS 14 được

chọn để tiếp tục khảo sát

Như vậy, công thức P-SMEDDS tối ưu được lựa chọn là: Phyllanthin/Dầu Gấc/Capryol 90/Cremophor RH40/Transcutol P với tỷ lệ 1,38:9,86:9,86:59,17:19,73 (kl/kl)

Đánh giá tính chất P-SMEDDS

Thời gian tự nhũ của P-SMEDDS

P-SMEDDS có khả năng tự nhũ, hình thành

vi nhũ tương trong suốt và bền vững với thời gian tự nhũ trung bình là 1,20 ± 0,17 phút (n=3)

Kích thước tiểu phân và thế zeta

Dãy phân bố kích thước tiểu phân vi nhũ tương hình thành từ P-SMEDDS được trình bày trong Hình 6 Vi nhũ tương phyllanthin hình thành từ P-SMEDDS có kích thước tiểu phân trung bình là 19,17 ± 0,10 nm và dãy phân bố kích thước hẹp, PdI trung bình là 0,076 ± 0,007 (n=3)

Hình 6: Dãy phân bố kích thước tiểu phân của vi nhũ

tương hình thành từ P-SMEDD

Trang 7

Khảo sát độ bền của vi nhũ tương phyllanthin

Kết quả khảo sát cho thấy, không có sự thay

đổi (tách pha, kết tủa hoạt chất) của vi nhũ tương

sau khi pha loãng P-SMEDDS 100 lần với SGFwe

và ly tâm 15000 vòng/phút trong 15 phút (n=6)

Định lượng phyllanthin trong P-SMEDDS

Định lượng phyllanthin trong P-SMEDDS

bằng phương pháp HPLC cho thấy hàm lượng

phyllanthin trong P-SMEDDS trung bình là 13,47

± 0,11 mg/g (n=3)

Độ hòa tan của viên nang P-SMEDDS

Kích thước trung bình của tiểu phân tinh thể

phyllanthin trong viên nang tinh thể phyllanthin

được xác định trong khoảng 100 µm (Dữ liệu

không trình bày trong bài báo này) Kết quả sự

phóng thích phyllanthin từ viên nang

P-SMEDDS và viên nang tinh thể phyllanthin

trong môi trường SGFwe được trình bày trong

Hình 7

Hình 7: Kết quả phóng thích phyllanthin từ viên

nang P-SMEDDS và viên nang tinh thể phyllanthin

trong SGFwe (n=6)

Viên nang P-SMEDDS có khả năng phóng

thích phyllanthin hoàn toàn và nhanh hơn so

với viên nang tinh thể phyllanthin Trong

phương pháp phóng thích trực tiếp, hơn 97%

phyllanthin được phóng thích từ viên nang

P-SMEDDS chỉ trong 15 phút đầu tiên, trong khi

chỉ có 31% phyllanthin được phóng thích từ

viên nang tinh thể phyllanthin sau 120 phút

Sự tăng vượt trội tỷ lệ phóng thích phyllanthin

từ viên nang P-SMEDDS so với viên nang tinh

thể phyllanthin là vì P-SMEDDS có khả năng

tự nhũ hình thành vi nhũ tương chứa phyllanthin ở trạng thái hòa tan trong dầu Vi nhũ tương có kích thước tiểu phân nhỏ, tạo tổng diện tích bề mặt lớn, giúp tăng tốc độ hòa tan phyllanthin trong môi trường

Trong phương pháp thử độ hòa tan của viên nang P-SMEDDS phóng thích trực tiếp, phyllanthin phóng thích được ghi nhận gồm phyllanthin tự do và phyllanthin trong vi nhũ tương có kích thước nhỏ hơn kích thước lỗ lọc

220 nm Trong khi đó, với phương pháp phóng thích qua màng thẩm tách, màng chỉ cho các phần tử có phân tử lượng dưới 3500-4000 Da đi qua, các tiểu phân có phân tử lượng lớn hơn không thể đi qua Vì vậy, kết quả định lượng được chỉ gồm phyllanthin tự do được phóng thích, không bao gồm phyllanthin trong tiểu phân vi nhũ tương Đồng thời, cần có thời gian

để phyllanthin khuếch tán vào túi thẩm tách Đó

là lí do độ hòa tan của viên nang P-SMEDDS trong phương pháp phóng thích qua màng thẩm tách thấp hơn trong phương pháp phóng thích trực tiếp Từ những kết quả trên cho thấy P-SMEDDS giúp cải thiện độ hòa tan của phyllanthin và từ đó, có thể làm tăng sinh khả dụng đường uống của phyllanthin

KẾT LUẬN

Đề tài đã xác định độ tan của phyllanthin trong các dầu, chất diện hoạt, chất đồng diện hoạt khảo sát và đã thiết lập các giản đồ pha với các tỷ lệ tá dược khác nhau Các kết quả này có thể được kế thừa trong các nghiên cứu về sau Đây là nghiên cứu đầu tiên trong nước và của thể giới công bố về việc sử dụng dầu Gấc làm tá dược pha dầu cho hệ SMEDDS Công thức P-SMEDDS được xây dựng thành công với khả năng tự nhũ, tạo vi nhũ tương nhanh, bền vững, kích thước tiểu phân hình thành trong vùng nano và dãy phân bố kích thước hẹp Công thức P-SMEDDS đã được chứng minh có khả năng cải thiện độ hòa tan của phyllanthin

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

promising approach for enhancing the bioavailability of

poorly water-soluble drugs", Acta Pharm, 63(4), 427-445

characterization and antioxidative effect of phyllanthin

against CCl4-induced toxicity in HepG2 cell line", Chem Biol

Interact, 181(3), 351-358

Phyllanthus niruri L in plasma using a simple HPLC method

with fluorescence detection and its application in a

pharmacokinetic study", J Chromatogr B Analyt Technol Biomed

Life Sci, 852(1-2), 138-144

of drugs: non-emulsifying, self-emulsifying and

‘self-microemulsifying’ drug delivery systems", Eur J Pharm Sci,

11(2), 93-98

and hypophyllanthin inhibit function of P-gp but not MRP2 in

Caco-2 cells", J Pharm Pharmacol, 65(2), 292-299

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/02/2016

Ngày đăng: 14/01/2020, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w