Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân tăng huyết áp (BN THA) sau 3 tháng điều trị ngoại trú. Đối tượng và phương pháp: 137 BN THA nguyên phát được hướng dẫn điều trị tại Khoa Khám bệnh theo khuyến cáo ESH/ESC - 2013, đánh giá lại kết quả sau 3 tháng.
Trang 1KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP SAU 3 THÁNG THEO DÕI TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Đình Thanh*
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân tăng huyết áp (BN THA) sau 3 tháng điều
trị ngoại trú
Đối tượng và phương pháp: 137 BN THA nguyên phát được hướng dẫn điều trị tại Khoa Khám bệnh
theo khuyến cáo ESH/ESC - 2013, đánh giá lại kết quả sau 3 tháng
Kết quả: BN có HA bình thường hoặc độ 1 tăng lên Tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị 66,4% Giá trị trung
bình chỉ số HA giảm Bệnh nhân tuân thủ điều trị có tỷ lệ đạt kiểm soát HA mục tiêu cao hơn so với BN tuân thủ chauw tốt
Kết luận: Điều trị BN THA chế độ ngoại trú tại Khoa Khám bệnh đạt kết quả cao
Từ khóa: Tăng huyết áp, kiểm soát huyết áp, huyết áp đạt mục tiêu
ABSTRACT
RESULTS OF TREATMENT OF HYPERTENSIVE PATIENTS AFTER THREE-MONTH
FOLLOW-UP AT OUTPATIENT DEPARTMENT OF THONG NHAT HOSPITAL
Le Dinh Thanh, * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 2 - 2017: 313 - 317
Objectives: To evaluate treatment results of hypertensive patients after three-month outpatient care Candidates and method: the sample consisted of 137 patients with essential hypertension in the
outpatient department were re-assessed following a three-month therapeutic course based on the ESH/ESC -
2013 Guidelines for the management of arterial hypertension
Results: The number of patients with normal blood pressure or stage 1 hypertension were increased
The percentage of achieving treatment target was 66.4% The mean value of blood pressure level was decreased The compliant patients obtained a higher percentage of controlled target blood pressure in comparison with the non-compliants
Conclusion: Treatment of hypertensive patients on an outpatient basis gets the good results
Keywords: Hypertension, blood pressure control, target blood pressure
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh nhân THA cần được theo dõi, điều
trị thường xuyên, liên tục Các BN THA chủ
yếu được điều trị ngoại trú tại Khoa Khám
bệnh của các bệnh viện Tuy vậy do nhiều
nguyên nhân khác nhau nên kết quả đạt được
cũng chưa đáp ứng như mong muốn Các yếu
tố ảnh hưởng đến kết quả và tiến triển của
bệnh phụ thuộc vào giai đoạn, mức độ bệnh, vào cả 2 phía bác sĩ chỉ định, theo dõi điều trị
và mức độ tuân thủ của người bệnh Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu: Khảo sát kết quả điều trị BN THA sau 3 tháng theo dõi tại Khoa Khám bệnh của Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh
* Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ chí Minh
Tác giả liên lạc: TS BS Lê Đình Thanh ĐT: 0913634383 Email: ledinhthanhvmc@yahoo.com.vn
Trang 2ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Tiêu chuẩn lựa và loại trừ BN:
Tăng huyết áp nguyên phát, tuổi từ 45 – 81
Đã được hướng dẫn điều trị > 3 tháng
Có thể có một số bệnh kết hợp, biến chứng
cơ quan đích
Loại trừ: THA thứ phát, suy tim, suy thận
nặng hoặc đang có biến chứng hoặc bệnh cấp
tính phối hợp
Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Tiến cứu, mô tả, theo dõi dọc trước và sau
điều trị
Nội dung nghiên cứu
Khai thác bệnh sử, biện pháp đã và đang
điều trị
Khám lâm sàng các cơ quan
Xét nghiệm hóa sinh máu
Chỉ định điều trị thuốc chống THA theo
khuyến cáo của ESH/ESC – 2013 Sử dụng
thuốc đơn độc hoặc phối hợp
Đánh giá kết quả sau 3 tháng
Đo huyết áp theo phương pháp Corotkoff
Các tiêu chuẩn chẩn đoán, phân loại sử
dụng trong nghiên cứu
Phân loại THA theo JNC VI
Phân chia giai đoạn theo WHO/ISH – 2003
Khuyến cáo của ESH/ESC – 2013 về sử dụng thuốc chống tăng huyết áp
Tiêu chuẩn kiểm soát HA đạt mục tiêu
Huyết áp < 140/90 mmHg
Huyết áp < 130/80 trên bệnh nhân có đái tháo đường
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
KẾT QUẢ
Bảng 1: So sánh tỷ lệ bệnh nhân giữa 2 lần khám
(n=137)
Độ HA Lần khám 1 Lần khám 2 p
< 0,05
Tỷ lệ BN sau 3 tháng điều trị kiểm soát HA đạt mục tiêu cao hơn so với lần 1
Tỷ lệ BN THA độ 1 sau điều trị giảm có ý nghĩa
Bảng 2: So sánh GTTB chỉ số HA trước và sau
điều trị (n = 137)
HA (mmHg) Trước Sau
Biến đổi sau điều trị (%) p
HATT 135,2 ± 13,7 129,9 ± 19,1 -3,9 < 0,05 HATTr 82,1 ± 8,2 76,4 ± 8,1 - 6,9 < 0,05
Giá trị trung bình chỉ số HATT và HATTr sau điều trị đều giảm có ý nghĩa
Mức giảm HATT, HATTr tương ứng 3,9%
và 6,9%
Bảng 3: Biến đổi chỉ số huyết áp sau điều trị (n-137)
Mức biến đổi
HA (mmHg)
Ổn định trong giới hạn bình thường (Bình thường) n (%)
Điều chỉnh từ chưa kiểm soát sang kiểm soát (Tốt) n (%)
Biến đổi từ kiểm soát thành chưa kiểm soát (Kém) n (%)
Bệnh nhân có chỉ số HA trong giới hạn
bình thường chiếm tỷ lệ cao
Số trường hợp trong điều trị HA được
điều trị từ chưa kiểm soát sang kiểm soát được
chiếm tỷ lệ tiếp theo
Có một số trường hợp biến đổi ngược lại,
từ kiểm soát được thành chưa kiểm soát được
Bảng 4: Mức độ kiểm soát chỉ số huyết áp ở lần
khám thứ 2 (n = 137)
Chỉ số HA (mmHg) Mức độ n %
Trang 3Nếu dựa vào HATT, HATTr riêng rẽ thì tỷ
lệ đạt mức kiểm soát cao
Nếu tính chung cả 2 chỉ số HA thì tỷ lệ đạt
kiểm soát mục tiêu là cao nhất
Bảng 5: Mối liên quan mức độ kiểm soát với tuân
thủ điều trị (n=137)
Chỉ số HA
(mmHg)
Tuân thủ tốt
(n = 108)
Tuân thủ chưa tốt (n = 29) p
HATT
< 0,05 Chưa
HATTr
< 0,05 Chưa
HA
< 0,05 Chưa
BN tuân thủ điều trị tốt có tỷ lệ kiểm soát
HA đạt mục tiêu cao hơn so với tuân thủ chưa
tốt dựa vào HATT, HATTr và đồng thời cả 2
chỉ số
Bảng 6: Mức độ kiểm soát THA ở các giai đoạn
tổn thương cơ quan đích (n=137)
Giai đoạn
HA(mmHg) 1 n (%) 2 n (%) 3 n (%) p
Tỷ lệ BN đạt kiểm soát HA mục tiêu liên
quan chưa có ý nghĩa với giai đoạn bệnh
Bảng 7: So sánh mức độ kiểm soát HA ở BN đã
được chẩn đoán tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu
(n = 107)
Chỉ số HA
(mmHg) Mức độ
Khám lần 1 Khám lần 2
p
Chưa đạt 55 51,4 28 26,2
Chưa đạt 47 43,9 24 22,4
Chưa đạt 62 57,9 35 32,7
Những BN đã được chẩn đoán và hướng
dẫn điều trị tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu
thì sau 3 tháng do điều chỉnh biện pháp điều trị phù hợp đã đạt được mức kiểm soát chỉ số
HA cao hơn
BÀN LUẬN
Các BN được hướng dẫn điều trị ngoại trú sau 3 tháng kiểm tra, đánh giá lại nhận thấy có
sự biến đổi Theo đó số trường hợp kiểm soát
HA đạt mục tiêu tăng lên đáng kể (56,3% so với 66,4%) Mặc dù sau điều trị tỷ lệ BN THA
độ 1 giảm đi, độ 2 tăng lên song số lượng cũng không đáng kể Chỉ có 1 trường hợp sau điều trị chuyển sang THA độ 3 Nếu phân tích sự biến đổi dựa vào HATT và HATTr riêng rẽ thì
sự biến đổi cũng theo chiều hướng tốt hơn Tỷ
lệ HATT, kiểm soát đạt mục tiêu tương đương
so với trước điều trị song HATTr lại tăng lên đáng kể Nếu trước điều trị có 62,8% trường hợp có HATTr < 90 mmHg tương ứng với mức đạt mục tiêu thì sau điều trị tỷ lệ đó tăng lên 86,9% Như vậy thấy rằng nếu tính chung đồng thời cả HATT và HATTr hoặc tính riêng
rẽ thì kết quả đạt mục tiêu đều cao hơn Tuy vậy vẫn còn 27,7% trường hợp chỉ số HA vẫn còn ở các độ 1, 2, 3 Đây là những BN chưa đạt được mục tiêu điều trị Nếu so sánh với những trường hợp BN đã được chẩn đoán, điều trị tại thời điểm T0 thì sau 3 tháng kết quả đã được cải thiện đáng kể Trong những năm gần đây việc kiểm soát HA đạt mục tiêu điều trị đã được cải thiện rõ rệt qua các nghiên cứu Tuy
có thời gian đánh giá kết quả sau điều trị khác nhau, ngắn nhất là 2 tuần, dài nhất là sau 6 tháng song đa số đều nhận thấy tỷ lệ kiểm soát HA đạt mục tiêu tăng lên mặc dù các kết quả cũng có sự khác biệt nhau Trần Minh Trí, Huỳnh Văn Minh năm 2013 sử dụng losartan cho 125 BN THA sau 4 tuần nhận thấy GTTB các chỉ số HA 24 giờ bao gồm HATT, HATTr
và HATB đều giảm có ý nghĩa(7) Cao Trường Sinh và cs năm 2013 nhận thấy khi sử dụng lercanidipine ở BN THA có nhồi máu não có tác dụng hạ HA tương đương với amlodipine nhưng khắc phục được sự xuất hiện của cơn THA vào buổi sáng sớm và ít tác dụng phụ
Trang 4hơn(1) Đôn Thị Thanh Thúy năm 2013 theo dõi
510 BN THA được điều trị nội trú tại Bệnh
viện Trưng Vương nhận thấy tỉ lệ đạt HA mục
tiêu không cao, dao động trong khoảng 60,5 -
83,1% tùy theo đối tượng có yếu tố nguy cơ
hoặc biến chứng kết hợp Đa số BN đạt HA
mục tiêu phải phối hợp ≥ 2 thuốc(4) Hà Thanh
Yến Trang năm 2014 theo dõi kết quả điều trị
BN THA sau 2 tuần dùng thuốc nhận thấy: tỷ
lệ HA đạt mục tiêu 76,1% Tỷ lệ và mức HA
đạt mục tiêu khác nhau tùy thuộc vào sự phối
hợp yếu tố nguy cơ, bệnh kèm theo hoặc biến
chứng của BN(5) Trần Nam Hải năm 2015
khảo sát thực trạng kiểm soát HA được điều
trị tại khoa khám bệnh Bệnh viện Quân y 7A
nhận thấy: tỷ lệ HA đạt mục tiêu 44,03% Tỷ lệ
đạt kiểm soát HA mục tiêu ở BN tuân thủ điều
trị, không có ĐTĐ cao hơn Tỷ lệ đạt HA mục
tiêu giữa đơn trị liệu và đa trị liệu khác biệt
không có ý nghĩa(7)
Các tác giả nước ngoài cũng khảo sát kết
quả điều trị BN THA theo nhiều khía cạnh và
cũng nhận thấy có sự khác nhau Đã có rất
nhiều nghiên cứu về nhiều khía cạnh ở BN
THA Kawada T năm 2002 nghiên cứu mối
liên quan giữa chỉ số khối cơ thể với tiến triển,
tiên lượng ở BN THA cho thấy: BN không có
dư cân, béo phì thì HA dễ kiểm soát hơn, ít
biến chứng nguy hiểm(6) Coleman C I và cs
năm 2012 khảo sát BN THA đã đưa ra nhận
xét: sự lựa chọn loại thuốc dễ kiếm uống ít lần/
ngày, ít tác dụng không mong muốn sẽ giúp
người bệnh dễ tuân thủ điều trị hơn(2)
Nếu đánh giá kết quả điều trị dựa vào so
sánh giá trị trung bình chỉ số HA trước và sau
điều trị cũng đều nhận thấy có sự khác biệt có ý
nghĩa Mặc dù tỷ lệ % chỉ số HATT và HATTr
giảm sau điều trị không nhiều trong đó chỉ số
HATTr giảm nhiều hơn Tuy vậy khi phân tích
chi tiết sự biến đỏi tỷ lệ BN dựa vào các mức
kiểm soát trước và sau điều trị lại nhận thấy
một kết quả tốt hơn Tỷ lệ BN được kiểm soát
đạt mục tiêu trước và sua điều trị đều ổn định
(64,2% và 66,4%) Đặc biệt xuất hiện những BN
kiểm soát đạt mục tiêu từ những trường hợp
mà trước đây chưa đạt song cũng có một số BN trước đây đã đạt mục tiêu kiểm soát HA thì sau
3 tháng lại chuyển sang chưa đạt mục tiêu Như vậy sự biến đổi của chỉ số HA cũng theo nhiều phía bao gồm mức vẫn duy trì kiểm soát HA đạt mục tiêu, chuyển từ không đạt mục tiêu và
có cả những trường hợp lại chuyển ngược lại từ
đã đạt đạt mục tiêu trước đây nay lại trở thành không đạt mục tiêu Diễn biến và kết quả trên đây cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Có thể biện pháp điều trị được áp dụng được đưa ra không phù hợp với
BN Bên cạnh đó BN THA theo thời gian sẽ xuất hiện kháng với thuốc điều trị, do vậy kết quả điều trị theo nhiều chiều hướng cũng phù hợp với lý thuyết cơ bản và logic của bệnh(3) Nếu tính riêng rẽ mức độ kiểm soát HA của chỉ
số HATT và HATTr nhận thấy tỷ lệ đạt mục tiêu kiểm soát ở mức cao (58,4% và 65,7%), tuy vậy nếu tính chung cả 2 chỉ số thì tỷ lệ đạt mục tiêu lại thấp hơn, tương ứng chỉ có 33,6% Để đánh giá kết quả điều trị dựa vào chỉ số HA thì phải đáp ứng đồng thời cả HATT và HATTr Với cách tính đó thì tỷ lệ huyết áp đạt mục tiêu điều trị chỉ ở mức thấp Nhưng nếu mang so sánh kết quả giữa 2 lần thì vẫn dễ dàng nhận thấy kết quả sau điều trị tốt hơn Tỷ lệ đạt mục tiêu từ 42,1% đã tăng lên 67,3% có ý nghĩa thống kê
KẾT LUẬN
Theo dõi 137 BN THA được điều trị ngoại trú sau 3 tháng có kết luận sau:
Bệnh nhân được sử dụng phối hợp thuốc chiếm tỷ lệ cao (67,2%)
Số BN phân bố ở mức bình thường, THA
độ 1 tăng lên
Giá trị trung bình chỉ số HA giảm có ý nghĩa
Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu: 66,4%
Bệnh nhân tuân thủ điều trị có tỷ lệ đạt kiểm soát HA mục tiêu cao hơn so với BN tuân thủ chưa tốt
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO
(2013), “Đánh giá hiệu quả của lercanidipine so với
amlodipine ở bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp
bằng theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ”, Tạp chí Tim mạch
học Việt Nam, số 65, tr 149-155
frequency and medication adherence in chronic disease”,
Journal of Managed Care Pharmacy, 18(7), pp 527-529
giảm độ lọc cầu thận ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối
loạn lipid máu”, Tạp chí y học Tp Hồ Chí Minh, số 1 (15), tr
484 - 489
trị tăng huyết áp nguyên phát tại bệnh viện cấp cứu Trưng
Vương”, Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Học viện quân y
áp bằng máy đo huyết áp lưu động 24 giờ ở bệnh nhân tăng
huyết áp nguyên phát sau hai tuần điều trị”, Luận văn bác sĩ
chuyên khoa II, Học viện Quân y
of hypertension and hyperlipidemia in a rural Japanese
population”, Nature Publishing Group, pp 725 - 729
áp và lipid máu ở bệnh nhân được khám và điều trj tại Bệnh viện 7A - quân khu 7”, Luận văn chuyên khoa cấp 2, Học
viện Quân y
động của thuốc ức chế thụ thể angiotensin II (LOSARTAN) trên biến thiên nhịp tim theo phổ tần số ở
bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát”, Tạp chí Tim mạch
học Việt Nam, số 65, tr 81-90
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/02/2017