Bài viết trình bày việc đánh giá tỷ lệ sạch sỏi, tỷ lệ các tai biến, biến chứng và xác định các yếu tố ảnh hưởng lên tỷ lệ sạch sỏi nhằm đánh giá hiệu quả của năng lượng tán sỏi siêu âm bằng một đường vào trong tán sỏi thận qua da.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA TÁN SỎI THẬN QUA DA
BẰNG SIÊU ÂM TRONG SỎI BÁN SAN HÔ
Trương Phạm Ngọc Đăng*, Nguyễn Văn Ân*, Nguyễn Ngọc Châu*, Đỗ Anh Toàn*, Phạm Hữu Đoàn*,
Hoàng Thiên Phúc*
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá tỷ lệ sạch sỏi, tỷ lệ các tai biến, biến chứng và xác định các yếu tố ảnh
hưởng lên tỷ lệ sạch sỏi nhằm đánh giá hiệu quả của năng lượng tán sỏi siêu âm bằng một đường vào trong tán sỏi thận qua da
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các trường hợp bệnh nhân có sỏi bán san hô được phẫu thuật tán
sỏi thận qua da tại Bệnh viện Bình Dân từ 03/2013 đến 05/2014 trong một nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt
ca
Kết quả: Trong 38 bệnh nhân, 5 trường hợp sỏi phân nhánh vào nhóm đài trên chiếm 13,2%, 33 trường hợp
sỏi phân nhánh vào nhóm đài dưới chiếm 86,8% Tất cả 5 trường hợp phân nhánh vào đài trên đều là góc tù, sỏi phân nhánh vào nhóm đài dưới gồm 14 trường hợp góc tù chiếm 36.8% và 19 trường hợp góc nhọn chiếm 50%
Số trường hợp sạch sỏi là 24 chiếm 64,9%, sót sỏi là 13 chiếm 35,1% Tỷ lệ sạch sỏi ở nhóm đài dưới có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,006 giữa nhóm góc tù là 92,9% và nhóm góc nhọn là 44,4% Kích thước sỏi trung bình là 32 ± 7 mm Thời gian phẫu thuật trung bình là 98 ± 26,58 phút Mức độ sụt giảm Hgb sau mổ trung bình là 1,9 ± 1,02 g/dL Có sự tương quan thuận giữa mức độ sụt giảm Hgb sau mổ và thời gian phẫu thuật với R = 0,407 và sự tương quan này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Tỷ lệ chảy máu phải truyền máu là 5,4%, 1 trường hợp giả phình động mạch chiếm 2,7%, 2 trường hợp sỏi xuống niệu quản chiếm 5,4% và 1 trường hợp rách bể thận chiếm 2,7%
Kết luận: Đối với nhóm đài dưới, tỷ lệ sạch sỏi của nhóm góc tù cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm góc
nhọn Thời gian mổ kéo dài sẽ làm lượng Hemoglobin sụt giảm nhiều hơn có ý nghĩa thống kê
Từ khóa: Tán sỏi thận qua da, sỏi bán san hô, góc phân nhánh
ABSTRACT
EVALUATE THE EFFICIENCY OF PERCUTANEOUS NEPHROLI THOTOMY
WITH ULTRASONIC LI THOTRIPTER ON PARTIAL STAGHORN CALCULUS
Truong Pham Ngoc Dang, Nguyen Van An, Nguyen Ngoc Chau, Do Anh Toan, Pham Huu Doan,
Hoang Thien Phuc * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 17 - 23
Objectives: Evaluate stone free rate, complications and identify factors which effect on stone free rate Materials and Methods: The prospective, case series study of patient’s undergone percutaneous
nephrolithotomy to remove partial stag horn calculus in Binh Dan hospital form March 2013 to May 2014
Results: In serial 38 patients, there were 5 cases with upper calices branched stones (13.2%), all of them were
obtuse angles 33 cases with lower calices branched stones (86.8%) in which 14 cases contented obtuse angles (36.8%), 19 cases contented acute angles (50%) Stone free was identified at 64.9%, there was significant correlation between acute angles and stone free rate (p = 0.006) The mean stones size was 32 ± 7 mm The mean operating time and degree of Hemoglobin's decreasing were 98 ± 26.58 minutes and 1.9 ± 1.02 g/dL, we identified
* Khoa Niệu A, Bệnh viện Bình Dân
Trang 2that there was significant linear correlation between them (R = 0.407, p < 0.05) Some other complications identified include: bleeding with blood transfusion 5.4%, 1 case of renal pseudo aneurysm (2.7%), moving renal fragment stones into ureters (5.4%) and 1 case with renal pelvis injured (2.7%)
Conclusions: In lower calicyx stones, the obtuse angle released higher stone free rate than acute angle with
differential significant The longer operating time caused Hemoglobin's level decreased faster with significant correlation
Key words: Percutaneous nephrolithotomy, partial stag horn calculus, calices branched stone's angles
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi thận là bệnh lý phổ biến chiếm khoảng
1% đến 15% dân số Số liệu tại bệnh viện Bình
Dân trong thời gian từ 12/2006 đến 3/2010, có
324 bệnh nhân bị sỏi san hô thận được phẫu
thuật, trong đó tán sỏi thận qua da là 16
trường hợp chiếm 4,9%, mổ mở 308 trường
hợp chiếm 95,1%(8)
Mục tiêu điều trị sỏi thận là lấy sạch sỏi với
phương pháp xâm lấn tối thiểu và tai biến, biến
chứng thấp Qua 30 năm kể từ khi Fernstrom và
Johansson tán sỏi thận qua đường mở thận ra da
vào năm 1976, cùng với phương pháp tán sỏi
ngoài cơ thể, tán sỏi thận qua da trở nên là
phương pháp điều trị chính yếu của bệnh sỏi
thận do tỷ lệ sạch sỏi cao và tai biến, biến chứng
thấp Hiện nay khuynh hướng chung trên thế
giới là áp dụng tán sỏi thận qua da ngay cả trên
các trường hợp sỏi san hô, trong khi ở Việt Nam
đa số các trường hợp này vẫn còn phải mổ mở
Năm 2001, bệnh viện Việt Pháp Hà Nội triển
khai tán sỏi thận qua da và cho thấy tính khả thi
và hiệu quả của phương pháp này, tuy nhiên kết
quả đạt được trên nhóm sỏi san hô còn khiêm
tốn(5) Tỷ lệ sạch sỏi đối với sỏi san hô khi lấy
bằng phương pháp tán sỏi thận qua da thay đổi
rất lớn theo các tác giả qua các công trình nghiên
cứu: dao động từ 23 - 86%(13), và có sự khác biệt
có ý nghĩa giữa sỏi san hô bán phần và toàn
phần lần lượt là 75% và 65%(6)
Hiện nay sỏi bán san hô được hiểu là sỏi
bể thận phân nhánh vào một hoặc hai đài thận
và gây tắc nghẽn một phần hệ thống ống góp,
trong khi sỏi san hô toàn phần là sỏi bể thận
phân nhánh vào tất cả đài thận và gây tắc nghẽn gần như hoàn toàn hệ thống đài thận(9) Như vậy sỏi bán san hô có thể từ bể thận phân nhánh vào các đài khác nhau, do đó khả năng sạch sỏi ứng với mỗi vị trí phân nhánh sẽ khác nhau Bên cạnh đó, sỏi bán san hô còn có thể giải quyết chỉ bằng một đường vào thích hợp Nghiên cứu này nhằm khảo sát tỷ lệ sạch sỏi trong phẫu thật lấy sỏi thận qua da đối với các trường hợp sỏi san hô bán phần, trong đó đánh giá tỷ lệ sạch sỏi chung và xét một số yếu
tố ảnh hưởng lên tỷ lệ sạch sỏi này
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Các trường hợp bệnh nhân có sỏi bán san hô được phẫu thuật lấy sỏi qua da tại Bệnh viện Bình Dân từ 03/2013 đến 05/2014
Tiêu chuẩn nhận bệnh
Bệnh nhân được chẩn đoán sỏi bán san hô qua các phương tiện chẩn đoán hình ảnh: chụp
bộ niệu không sửa soạn (KUB) hoặc chụp niệu
đồ đường tĩnh mạch (IVP) hoặc chụp cắt lớp điện toán (CT-Scan) Sỏi bán san hô được định nghĩa trong nghiên cứu: là sỏi có thân chính nằm
ở bể thận và phân nhánh vào một đài thận(11) Kích thước sỏi > 2cm
Tiêu chuẩn loại trừ
Các trường hợp sỏi trên thận có bất thường
về giải phẫu như thận độc nhất , thận xoay , hẹp khúc nối , bể thận đôi…; nhiễm trùng đường tiết niệu chưa điều trị; các bệnh lý toàn thân không thể tiến hành phẫu thuật được: rối loạn đông
máu nặng, viêm thận - bể thận cấp
Trang 3Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hàng loạt ca
Một số thông số nghiên cứu
1 Tỷ lệ sạch sỏi: xác định là khi không còn
mảnh sỏi hoặc mảnh sỏi ≤ 5mm trên chụp C-arm
sau mổ kết hợp KUB sau mổ 3 ngày, 1 tháng
2 Góc phân nhánh: được xác định là góc
tạo thành giữa trục sỏi bể thận và trục sỏi
nhánh, góc ≤ 900 được xác định là góc nhọn ,
góc > 900 được xác định là góc tù Trục sỏi bể
thận được là đường thẳng qua 2 trung điểm
của chiều rộng đầu gần và đầu xa sỏi bể thận
Trục sỏi nhánh được là đường thẳng qua 2
trung điểm của chiều rộng đầu gần và đầu xa
sỏi phân nhánh từ bể thận
3 Chảy máu: được xác định có chảy máu khi
trường mổ do chảy máu không thể quan sát được
phải ngưng mổ, có hoặc không truyền máu trong
hoặc sau mổ trong thời gian nằm viện
4 Mức độ sụt giảm Hemoglobin sau mổ
(g/dL): xác định bằng: Hgb trước mổ - Hgb sau
mổ
Hgb trước mổ: tại thời điểm được thông qua
khi duyệt mổ Hgb sau mổ: thực hiện sau mổ tại
phòng hồi sức Ngoại
5 Tổn thương mạch máu: xác định bằng
chụp mạch máu có chọn lọc trong hoặc sau mổ
Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý bằng phần mềm SPSS 22 Sự ảnh
hưởng giữa các biến được thực hiện bằng phép
kiểm chi bình phương, xét sự tương quan bằng
phép kiểm Pearson
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ 03/2013 đến 05/2014
chúng tôi đã thu thập 38 bệnh nhân thỏa mãn
các tiêu chuẩn nghiên cứu với kết quả như sau:
Đặc tính quần thể nghiên cứu
1 Tuổi: trung bình là 49 ± 11,84 tuổi (19 - 75)
2 Giới tính: nam 71,1%, nữ 28,9%
3 Thận mổ: bên phải 19 bệnh nhân chiếm 50% Bên trái 19 bệnh nhân chiếm 50%
4 Mức độ ứ nước: Không ứ nước: 3 bệnh nhân (7,9%) Ứ nước độ 1: 11 bệnh nhân (28,9%)
Ứ nước độ 2: 13 bệnh nhân (34,2%) Ứ nước độ 3:
11 bệnh nhân (28,9%)
Đặc tính sỏi
1 Vị trí phân nhánh: nhóm đài trên 5 trường hợp (13,2%) Nhóm đài dưới 33 trường hợp (86,8%)
2 Góc phân nhánh: 5 trường hợp phân nhánh vào đài trên đều là góc tù chiếm 13,2% Sỏi phân nhánh vào nhóm đài dưới gồm 14 trường hợp góc tù (36,8%) và 19 trường hợp góc nhọn (50%)
3 Kích thước sỏi: 32 ± 7 mm (20 – 47,5)
Yếu tố liên quan cuộc mổ
1 Tỷ lệ sạch sỏi: Sạch sỏi: 24 (64,9%) Sót sỏi:
13 (35,1%)
2 Thời gian phẫu thuật: 98 ± 26,58 phút (50 - 165)
3 Mức độ sụt giảm Hemoglobin sau mổ: 1,9
± 1.02 g/dL (0,4 - 5)
4 Tỷ lệ biến chứng
Bảng 1: Tỷ lệ biến chứng
Giả phình động mạch 1 2,7 Sỏi xuống niệu quản 2 5,4
Ảnh hưởng và tương quan
Ảnh hưởng của tiền căn mổ mở Bảng 2: Tiền căn mổ mở cùng bên và tỷ lệ sạch sỏi
Tiền căn mổ mở 42,9 57,1 100
Trang 4Tổng 64,9 35,1 100
p = 0,36
Tỷ lệ sạch sỏi ở nhóm mổ lần đầu cao hơn so
với nhóm có tiền căn mổ mở (70% so với 42.9%)
Ảnh hưởng của mức độ ứ nước
Bảng 3: Mức độ ứ nước và Tỷ lệ sạch sỏi
Không ứ nước 33,3 66,7 100
Ứ nước độ 1 63,6 36,4 100
Ứ nước độ 3 54,5 45,5 100
p = 0,54
Tỷ lệ sạch sỏi ở nhóm không ứ nước thấp
hơn các nhóm còn lại (33,3% so với 63,6%, 75%
và 54,5%)
Ảnh hưởng của vị trí phân nhánh
Bảng 4: Vị trí phân nhánh và tỷ lệ sạch sỏi
Vị trí phân
nhánh
Nhóm đài
dưới
p = 1
Vị trí phân nhánh ảnh hưởng không rõ ràng
lên tỷ lệ sạch sỏi
Ảnh hưởng của góc phân nhánh
Bảng 5: Góc phân nhánh vào đài dưới và tỷ lệ sạch sỏi
Góc phân
nhánh
p < 0,01
*: Tỷ lệ sạch sỏi của đài dưới
Góc phân nhánh có ảnh hưởng rõ ràng lên tỷ
lệ sạch sỏi ở đài dưới Tỷ lệ sạch sỏi ở nhóm góc
tù cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm góc
nhọn (92,9% so với 44,4%)
Ảnh hưởng của kích thước sỏi Bảng 6: Kích thước sỏi và tỷ lệ sạch sỏi
> 3cm 53,6 36,4 100
p = 0,9
Kích thước sỏi ảnh hưởng không rõ ràng lên
tỷ lệ sạch sỏi
Tương quan giữa mức độ sụt giảm Hgb và thời gian phẫu thuật
Có sự tương quan thuận giữa mức độ sụt giảm Hgb sau mổ và thời gian phẫu thuật (R = 0,407) và sự tương quan này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Trong phép kiểm này trị số R thuộc khoảng 0,3 ≤ R ≤ 0,5 nên mức độ quan hệ ở mức trung bình
Biểu đồ 1: Sự phân bố độ sụt giảm Hgb quanh đường
thẳng hồi quy (r 2 = 0.165)
BÀN LUẬN
Tỷ lệ sạch sỏi lần đầu đạt được trong nghiên cứu của chúng tôi là 64,9%, nghiên cứu sử dụng một nguồn năng lượng tán sỏi duy nhất là siêu
âm với một đường vào từ đài dưới Sau khi xét các yếu tố ảnh hưởng, chúng tôi ghi nhận các yếu tố tiền căn mổ mở cùng bên, mức độ ứ nước của thận, vị trí phân nhánh của sỏi, kích thước sỏi không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê lên tỷ
lệ sạch sỏi với p lần lượt là 0,36; 0,54; 1; 0,9
Trang 5Ngoài ra, chúng tôi xét đến một số vấn đề khác
có ảnh hưởng lên hiệu quả tán sỏi như đường
vào thận, năng lượng tán sỏi, góc phân nhánh,
thời gian mổ, mức độ sụt giảm Hemoglobin sau
mổ sẽ được phân tích dưới đây
Vấn đề đường vào thận và năng lượng tán
sỏi: Thực tế lâm sàng cho thấy nếu như đường
vào từ đài dưới an toàn, dễ thực hiện hơn thì
đường vào từ đài trên hoặc nhiều đường vào đòi
hỏi phẫu thuật viên phải có kinh nghiệm và biến
chứng có thể cao hơn Phối hợp với nguồn năng
lượng tán phù hợp có thể giúp nâng cao hiệu
quả của phẫu thuật với đường vào đơn giản hơn
Qua bảng so sánh cho thấy khi kết hợp với
nguồn năng lượng tốt và linh động như
holmium YAG laser hoặc kết hợp máy nội soi
niệu quản mềm (URS), chỉ một đường vào thận
thích hợp cũng cho hiệu quả sạch sỏi rất cao,
sạch sỏi từ 71,4% đến 95%(14,7) Khi sử dụng
nguồn năng lượng tán sỏi cứng như siêu âm
hoặc sung hơi, tăng số lượng đường vào có thể
cải thiện tỷ lệ sạch sỏi tuy nhiên có thể làm gia tăng số lượng biến chứng, loạt 27 trường hợp sử dụng 2 đường vào của tác giả Lê Sĩ Trung có 3 trường hợp thủng đại tràng chiếm 11,1%(6) Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng một đường vào từ đài dưới và năng lượng tán siêu âm có bộ phận hút nước ngược với các ưu điểm: sỏi có khuynh hướng bám sát đầu tán trong khi tán sỏi,
ít giải phóng các mảnh sỏi bị phân tán vào các vị trí khác như đầu tán xung hơi nên cũng thích hợp với các vị trí tán có khuynh hướng "với" amplaz như đài trên, ít gây san chấn chủ mô thận với tỷ lệ chảy máu phải truyền máu thấp là 5,4% Tuy nhiên do sử dụng đầu tán cứng nên chúng tôi ghi nhận một trường hợp rách bể thận khi cố gắng thao tác chiếm 2,7% Theo nhận định của chúng tôi, để nâng cao hiệu quả, một nguồn năng lượng tán sỏi bổ sung nên được sử dụng bên cạnh máy tán sỏi siêu âm hiện có, lý tưởng trong trường hợp này là máy soi thận mềm và năng lượng laser
Bảng 7: Đường vào thận và năng lượng tán sỏi của các nghiên cứu
Wong và Leveillee, 2002 52 San hô toàn phần, 67 mm Đài trên Máy soi thận mềm,
holmium YAG laser
95% Marguet, 2005 9 San hô, 666 mm2 Một đường hầm Phối hợp URS 71,4%
Lê Sĩ Trung, 2012 280 San hô, 55,6 mm Đài dưới; Hai đường hầm:
đài dưới + đài giữa
Xung hơi, Siêu âm 75,4% Nghiên cứu này, 2014 38 Bán san hô, 32,3 mm Đài dưới Siêu âm 64,9%
*: Tỷ lệ sạch sỏi sau lần mổ đầu tiên
Yếu tố góc phân nhánh
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả nhóm
góc tù cho tỷ lệ sạch sỏi cao hơn nhóm góc nhọn
lần lượt là 92,9% và 44,4% và sự ảnh hưởng này
có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 Góc phân
nhánh này có ý nghĩa đối với sỏi bán san hô đài
dưới vì liên quan đến góc dịch chuyển amplaz
để tiếp cận sỏi bể thận sau khi tán sỏi nhánh,
hoặc sỏi dịch chuyển đến vị trí khác do thao tác
khó với góc máy lớn Nếu như ở nhóm góc tù có
phần thuận lợi hơn thì nhóm góc nhọn cũng ghi
nhận một số trường hợp tai biến như rách chủ
mô dẫn đến chảy máu chiếm 5,4%, và rách bể
thận chiếm 2,7% Điều này khá phù hợp với một
số nghiên cứu khác về góc trục bể thận - đài
dưới: tác giả Sampaio và cs(12) kết luận khi góc này là nhọn sẽ cho tỷ lệ sạch sỏi thấp hơn là 34%
so với 66% khi tán sỏi ngoài cơ thể với p <0,01, tác giả Afshar Zomorrodi và cs(3) kết luận có sự liên quan mật thiết giữa sự tạo lập sỏi đài dưới khi góc này là góc nhọn với p < 0,001
Hình 1 Sự tương ứng giữa góc trục bể thận - đài
dưới và góc phân nhánh sỏi bể thận - sỏi đài dưới
Trang 6trong nghiên cứu của chúng tôi Nguồn (hình vẽ bên
phải): Afshar Zomorrodi và cs (2010) (14)
Biến chứng chảy máu
Nghiên cứu của chúng tôi có 3 trường hợp
chảy máu phải ngưng phẫu thuật chiếm 8,1%,
trong đó 2 trường hợp phải truyền máu sau
mổ chiếm 5,4% Các trường hợp này đều có
thời gian phẫu thuật khá dài là 120 phút và
135 phút Bệnh nhân được kẹp thông thận và
tháo ra sau 30 phút, không có trường hợp nào
phải mổ mở cầm máu Một yếu tố khác nhằm
phản ánh mức độ chảy máu trong phẫu thuật
là mức độ sụt giảm Hgb sau mổ với trị số
trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là
1,9 g/dL ± 1,02 Bên cạnh đó chúng tôi ghi
nhận có sự tương quan thuận mang ý nghĩa
thống kê với p < 0,05 giữa yếu tố này và thời
gian phẫu thuật với R = 0,407, do 0,3 ≤ R ≤ 0,5
nên mối quan hệ này ở mức trung bình Như
vậy, khi thời gian phẫu thuật tăng sẽ làm Hgb
sau mổ bị giảm nhiều hơn Kết quả này cũng
phù hợp với nghiên cứu của tác giả Rajesh
Kukreja và cs(4) trên 236 bệnh nhân được tán
sỏi thận qua da, mức độ sụt giảm Hgb trung
bình là 1,68 g/dL ± 1,23, tác giả cũng kết luận
có mối tương quan thuận giữa yếu tố này và
thời gian phẫu thuật ở mức độ quan hệ mạnh
với p < 0,0001
Chúng tôi ghi nhận 1 trường hợp tạo túi giả
phình động mạch thận phải phân nhánh giữa
chiếm 2,7%, bệnh nhân tiểu máu khi xuất viện 1
tuần sau phẫu thuật tán sỏi thận qua da với yếu
tố nguy cơ được ghi nhận là thời gian phẫu thuật
kéo dài là 165 phút, bệnh nhân được điều trị
thành công với thuyên tắc túi giả phình bằng
Spongel Các tác giả Trần Lê Linh Phương(13),
Ballanger và cs(2) Sacha và cs(11) đều thống nhất
rằng thuyên tắc mạch máu có chọn lọc là một
giải pháp hiệu quả và ít xâm lấn trong điều trị
các tổn thương động mạch sau phẫu thuật tán
sỏi thận qua da
KẾT LUẬN
Qua 38 trường hợp tán sỏi thận qua da trên sỏi bán san hô dùng năng lượng tán sỏi siêu âm, chúng tôi có một số kết luận sau:
Tán sỏi thận qua da trong điều trị sỏi bán san
hô bằng đường vào từ đài dưới là một phẫu thuật an toàn, ít xâm hại và hiệu quả với tỷ lệ sạch sỏi đạt được là 64,9% Năng lượng tán siêu
âm cho thấy hiệu quả vỡ sỏi cao, ít tạo mảnh sỏi nhỏ và ít làm phân tán mảnh sỏi
Yếu tố góc phân nhánh của sỏi nhánh có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê lên tỷ lệ sạch sỏi với
p < 0,01 Trong đó nhóm góc nhọn có tỷ lệ sạch sỏi thấp hơn nhóm góc tù là 44,4% so với 92,9% Xác định góc phân nhánh giúp tiên lượng tỷ lệ sạch sỏi và dự trù biện pháp can thiệp bổ sung
Có sự tương quan thuận mang ý nghĩa thống
kê với R = 0,407, p < 0,05 giữa mức độ sụt giảm Hemoglobin sau mổ và thời gian phẫu thuật, sự tương quan này ở mức độ trung bình
Biến chứng tạo túi giả phình động mạch là một biến chứng ít gặp, phương pháp thuyên tắc mạch máu có chọn lọc có thể giúp giải quyết một cách hiệu quả và ít xâm hại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Afshar Z, Abulfazel B, Samad F (2010) "Anatomy of the Collecting System of Lower Pole of the Kidney inPatients with
a Single Renal Stone: A Comparative Study with Individuals
with Normal Kidneys" 11(7), pp 666-672
2 Gremmo E, et al (1999) "Haemorragic complications during percutaneous nephrolothotomy Retrospective Studies of 722
cases" Prog Urol, 9(3), pp 460-463
3 Huang SW, Chang CH, Wang CJ (2005) "Percutaneous Nephrolithotomy for the Treatment of Complete Staghorn
Stones" China Journal of Urology, 11(4), pp 169-172
4 Kukreja R, Desai M, Patel S, Bapat S, and Desai M (2004)."First Prize: Factors Affecting Blood Loss During Percutaneous
Nephrolithotomy: Prospective Study" Journal of Endourology,
18(8), pp 715-722
5 Lê Sĩ Trung (2002) "Đánh giá kết quả bước đầu phương pháp nội soi tán sỏi qua da phối hợp với tán sỏi ngoài cơ thể trong
điều tri ngoại khoa sỏi tiết niệu" Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa
học - Tạp chí ngoại khoa, tr.279
6 Lê Sĩ Trung, Barbe YP, Bire J, Buttin FX, Delorme E, Lienhart J, Lombard M, Mege J ,Mettetal P, Parietti R, Sarkissian J, Schoenahl C, Trackoёn G, Vantherin R (2012) "Nội soi thận qua da điều trị sỏi san hô: 10 năm kinh nghiệm của bệnh viện
Việt Pháp Hà Nội" Y học Tp Hồ Chí Minh, 3(16), tr: 249
Trang 77 Marguet CG, Springhart WP, Tan YH (2005)
"Simultaneouscombined use of flexible ureteroscopy and
percutaneousnephrolithotomy to reduce the number of access
tracts in themanagement of complex renal calculi" 96(7), BJU
Int, pp 1097–1099
Chung Tuấn Khiêm, Vũ Lê Chuyên, Nguyễn Việt Cường
(2011) "Tán sỏi thận qua da trong sỏi san hô" Y học thực hành,
số 769 + 770, tr 168-177
9 Preminger GM (2005) "Background: Staghorn Calculi, AUA
Guideline on the Management of Staghorn Calculi: Diagnosis
and Treatment Recommendations" 25(7), pp 70-79
10 Preminger GM (2005) "Detailed Outcomes Analyses of
Alternative Treatment for Patients With Staghorn Calculi"
AUA Guideline on the Management of Staghorn Calculi, 3(11), pp
145-150
11 Sacha L, Szewezyk W, Bar K (1996) "Massive Haemorrage
nephrolithotomy (PCNL)" Int Urol Mephrol, 28(3), pp
315-318
12 Sampaio FJB (2001) "Renal collecting system anatomy: It's
possible role in the effectiveness of renal stone treatment"
Current opinion in Urology, 11, pp 359-366
13 Trần Lê Linh Phương, Nguyễn Quang Thái Dương, Võ Tấn Đức, Nguyễn Hoàng Đức, Lê Phúc Liên, Vũ Hồng Thịnh, Nguyễn Tân Cương (2011) "Điều trị thương tổn mạch máu
trong nhu mô thận bằng thuyên tắc mạch chọn lọc" Y Học TP
Hồ Chí Minh 2011, 1(15), tr 170-174
14 Wong C, Leveillee RJ (2002) “Single upper-pole percutaneousaccess for treatment of ≥ 5cm complex branched
staghorncalculi is shockwave lithotripsy necessary?” J
Endourol, 16(7), pp.477–481
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/10/2014 Ngày bài báo được đăng: 10/01/2015