1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát sự thay đổi độ cong giác mạc trên bệnh nhân đã phẫu thuật LASIK sau 5 năm

6 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 297,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát sự thay đổi độ cong giác mạc trên bệnh nhân đã phẫu thuật LASIK sau 5 năm bằng máy Orbscan II. Độ cao mặt sau giác mạc cao hơn sau phẫu thuật LASIK 5 năm, chứng tỏ có sự dịch chuyển về phía trước của mặt sau giác mạc sau phẫu thuật LASIK.

Trang 1

KHẢO SÁT SỰ THAY ĐỔI ĐỘ CONG GIÁC MẠC TRÊN BỆNH NHÂN

ĐÃ PHẪU THUẬT LASIK SAU 5 NĂM

Nguyễn Thiện Trung*, Trần Hải Yến**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát sự thay đổi độ cong giác mạc trên bệnh nhân đã phẫu thuật LASIK sau 5 năm bằng máy

Orbscan II

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015,

nghiên cứu hồi cứu trên 347 bệnh nhân, gồm 685 mắt đã được phẫu thuật LASIK tại Bệnh viện Mắt TP.HCM

Kết quả: Độ cao mặt trước giác mạc giảm hơn sau phẫu thuật LASIK 5 năm Độ cao mặt sau giác mạc cao

hơn sau phẫu thuật LASIK 5 năm, với trung bình độ cao giác mạc sau mổ là 36,37 ± 11,782 µm Nghiên cứu không ghi nhận bất kỳ trường hợp nào có dãn phình giác mạc sau mổ Khi áp dụng mô hình đánh giá nguy cơ dãn phình giác mạc của Randleman vào nghiên cứu chúng tôi ghi nhận có 28,2% trường hợp được đánh giá là nguy

cơ cao, 25,8% trường hợp được đánh giá trung bình, 46% được đánh giá thấp Như vậy khi sử dụng mô hình thì

có 28,2% bệnh nhân bị đánh giá quá mức nguy cơ dãn phình

Kết luận: Độ cao mặt sau giác mạc cao hơn sau phẫu thuật LASIK 5 năm, chứng tỏ có sự dịch chuyển về

phía trước của mặt sau giác mạc sau phẫu thuật LASIK Khi sử dụng mô hình nguy cơ của Randleman có 28.2% bệnh nhân bị đánh giá quá mức nguy cơ dãn phình, điều này chứng tỏ có một số yếu tố được đánh giá chưa phù hợp, hay còn bị chi phối bởi một yếu tố nguy cơ khác (như đặc tính cơ sinh học giác mạc)

Từ khóa: dãn phình giác mạc, đặc tính cơ sinh học giác mạc, máy Orbscan II

ABSTRACT

INVESTIGATION OF CORNEAL CURVATURE CHANGES ON FIVE-YEAR LASIK TREATED

PATIENTS

Nguyen Thien Trung, Tran Hai Yen

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - Supplement of No 1 - 2016: 116 - 121

Objective: Investigate corneal curvature changes on five-year LASIK treated patients by using Orbscan II Materials and methods: Study from 5/2014 to 5/2015, retrospective study on 347 patients, include 685

eyes under 5-year LASIK treatment at HCMC eye hospital

Results: Anterior surface height decreases after 5-year LASIK treatment Posterior surface height is higher

after 5-year LASIK treatment, with mean value is 36.37 ± 11.782 µm There aren’t any cases of keratecteasia Using ectasia risk factor score system of Randleman, there are 28.2% of high risk, 25.8% of moderate risk, and 46% low risk So 28.2% of patient was overestimated

Conclusion: Posterior surface height is higher after 5-year LASIK treatment, so there is a forward shift of

posterior surface after 5-year LASIK treatment 28.2% of patient was overestimated when using Randleman’s ectasia risk factor score system, so some factors were evaluated inappropriately, or adding by other factors (such as biomechanical properties of the cornea)

Key words: keratectasia, corneal biomechanical properties, Orbscan II

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật khúc xạ hiện nay rất phổ biến

trong chuyên ngành nhãn khoa nhằm giải quyết

nhu cầu điều trị và thẩm mỹ cho bệnh nhân

Ngày nay, với sự tiến bộ trong khoa học cũng

như lĩnh vực y khoa, nhiều nghiên cứu cho ra

đời các phương pháp mổ tối tân, chính xác trong

phẫu thuật khúc xạ, nhằm khắc phục nhược

điểm của các phương pháp trước và nâng cao

tính an toàn của phẫu thuật Tuy nhiên, bất cứ

một phẫu thuật nào cũng có những biến chứng

với một tỉ lệ xuất hiện nhất định, đối với phẫu

thuật LASIK điều đáng quan ngại cho phẫu

thuật viên cũng như bệnh nhân là tình trạng dãn

phình giác mạc, khô giác mạc, lóa đèn, sau phẫu

thuật LASIK Biến chứng dãn phình giác mạc là

một biến chứng trầm trọng xuất hiện muộn có

khả năng ảnh hưởng rất nhiều đến thị lực của

bệnh nhân, do nguy cơ giảm thị lực đáng kể và

phương thức điều trị còn chưa triệt để, hiệu quả

điều trị không cao Bên cạnh đó, những thay đổi

về hình thái giác mạc sau phẫu thuật vẫn còn

nhiều tranh cãi

Phẫu thuật LASIK tác động trực tiếp lên giác

mạc, cụ thể là bóc bay lớp nhu mô Điều này đặt

ra giả thuyết liệu rằng giác mạc còn lại có đủ khả

năng chịu lực như khi còn nguyên vẹn, và liệu

rằng có một sự thay đổi nào ở độ cong giác mạc

sau phẫu thuật hay không, là hệ quả của dãn

phình giác mạc Theo Meghpara và cộng sự(6) ghi

nhận, giác mạc có thể dãn phình sớm sau phẫu

thuật LASIK 1 tuần hay có thể bị trì hoãn sau

nhiều năm Những giả thuyết gần đây cho rằng

2 nguyên nhân chính gây nên tình trạng dãn

phình giác mạc sau LASIK là tình trạng bệnh lý

có trước của giác mạc (giác mạc chóp, giác mạc

chóp không điển hình), và cơ chế mất bền vững

do sự suy yếu của lớp nhu mô nền còn lại gây ra

bởi quá trình tạo vạt, ảnh hưởng của laser, và có

thể do dụi mắt(9) Tuy nhiên, dãn phình giác mạc

vẫn xảy ra trên mắt sau phẫu thuật LASIK

không có biến chứng, mắt không có yếu tố nguy

cơ trước phẫu thuật, và độ dày nhu mô nền trên

300µm(5,3,1,11) Do đó việc đánh giá tình trạng ổn định của giác mạc sau một thời gian là cần thiết

và mối tương quan giữa yếu tố nguy cơ trước

mổ và sự thay đổi độ cong giác mạc cũng cần được tìm hiểu rõ hơn

Măc dù khả năng gây biến chứng dãn phình giác mạc sau phẫu thuật là không nhiều, theo các nghiên cứu trước tỉ lệ này thay đổi từ 0,04%-0,6%(10) Nhưng khả năng gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân là rất lớn

Do đó, biến chứng dãn phình giác mạc được xem là một biến chứng rất nghiêm trọng liên quan mật thiết đến sự thay đổi độ cong giác mạc Phẫu thuật LASIK đã được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam trong nhiều năm, tuy nhiên vẫn chưa

có một nghiên cứu đánh giá biến chứng dãn phình giác mạc hay nguy cơ dẫn đến biến chứng, và đánh giá tính ổn định của giác mạc sau một thời gian dài dựa trên sự thay đổi của giác mạc sau phẫu thuật Vì thế chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Khảo sát sự thay đổi độ cong giác mạc trên bệnh nhân đã phẫu thuật LASIK sau 5 năm”

Mục tiêu

-Khảo sát sự thay đổi độ cong mặt trước và mặt sau giác mạc sau phẫu thuật LASIK sau 5 năm

-Khảo sát hình thái bản đồ giác mạc trước và sau phẫu thuật LASIK 5 năm

-Đánh giá các yếu tố nguy cơ dãn phình giác mạc trước phẫu thuật LASIK

-Khảo sát mối tương quan giữa sự thay đổi

độ cong mặt trước và mặt sau giác mạc với các yếu tố như: yếu tố nguy cơ trước mổ, độ dày giác mạc trước mổ, độ dày nhu mô nền còn lại, đặc tính cơ sinh học giác mạc sau phẫu thuật LASIK

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được chọn vào mẫu khi thỏa các điều kiện sau

Cận và/hoặc loạn cận

Trang 3

Phẫu thuật với phương pháp LASIK, tối

thiểu được 5 năm

Chưa được chiếu LASER bổ sung lần nào

Đồng ý tham gia nghiên cứu

Có địa chỉ và/hay số điện thoại rõ ràng trong

hồ sơ bệnh án

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Phương pháp tiến hành

- Hồ sơ bệnh án được lọc tại kho hồ sơ, chọn

các hồ sơ đủ tiêu chuẩn chọn mẫu

- Liên lạc với bệnh nhân theo địa chỉ và số

điện thoại theo hồ sơ bệnh án, mời bệnh nhân

đến khám

- Sắp xếp lịch hẹn để bệnh nhân đến tái

khám

- Khi bệnh nhân đến tái khám:

Đo thị lực không kính và thị lực tối đa khi

đeo kính

Đo độ khúc xạ, công suất giác mạc bằng

khúc xạ kế tự động

Đo khúc xạ chủ quan bằng hộp thử kính để

đạt thị lực tối đa

Đo bề dày giác mạc trung tâm bằng Visante

OCT

Khám mắt tổng quát phần trước và phần sau

nhãn cầu bằng kính sinh hiển vi

Chụp bản đồ giác mạc bằng máy Orbscan II

(Bausch & Lomb)

- Thu thập số liệu

- Xử lý số liệu

- Báo cáo đề tài

KẾT QUẢ

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5/2014

đến tháng 5/2015, có tổng cộng 347 bệnh nhân,

gồm 685 mắt trong đó 344 (50,2%) mắt phải và

341 mắt trái (49,8%) Trong nhóm nghiên cứu

gồm 88 nam (chiếm 25,4%) và 259 nữ (chiếm

74,6%) Về độ tuổi phẫu thuật, có trung bình là

26,26 ± 7,054 Độ cầu tương đượng sau mổ (5

năm và trên 5 năm) nằm trong giới hạn ±0,5D chiếm 70,2%, trong giới hạn ±1D chiếm 85,7%

Kết quả đánh giá mức độ nguy cơ dãn phình giác mạc trước mổ

Biểu đồ 1 Mức độ nguy cơ dãn phình giác mạc trước

mổ

Sự thay đổi ABFS (Anterior Best Fit Sphere) trước và sau mổ (5 năm và trên 5 năm)

Bảng 1: ABFS trước và sau mổ

Trước mổ Sau mổ

Trung bình ±SD (mm) 7,83±0,24 8,08±0,27 Thấp nhất (mm) 7,16 7,31 Cao nhất (mm) 8,58 8,89 Sau phẫu thuật (5 năm và trên 5 năm) có sự tăng ABFS là 0,25 mm Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (paired samples t-test, t684 =-55,372, p<0,001)

Sự thay đổi PBFS (Posterior Best Fit Sphere) trước và sau mổ (5 năm và trên 5 năm)

Bảng 2: Thay đổi PBFS trước và sau mổ

Trước mổ Sau mổ

Trung bình±SD (mm) 6,369±0,224 6,3612±0,235 Thấp nhất (mm) 5,71 5,66 Cao nhất (mm) 7,27 7,22 Sau mổ (5 năm và trên 5 năm) PBFS có giảm trung bình 0,008 mm Sự khác biệt này có ý

Trang 4

nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 95% (paired

sample T-test, t684=2,773, p=0,006>0,05

Sự thay đổi độ cao mặt sau giác mạc trước

và sau mổ (5 năm và trên 5 năm)

Bảng 3: Thay đổi độ cao mặt sau giác mạc trước và

sau mổ

Trước mổ Sau mổ

Trung bình ± SD (µm) 23,87 ± 8,328 36,37 ± 11,782

Sau mổ (5 năm và trên 5 năm) độ cao mặt

sau giác mạc có tăng lên so với trước mổ là

12,505 µm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

(Paired sample T-test, t684=28,444, p<0,001) Độ

cao mặt sau giác mạc sau mổ 5 năm có mối

tương quan nghịch mức độ tương quan yếu với

độ dày giác mạc trước mổ, hệ số tương quan

Pearson là -0,327 (p<0,001) Và có mối tương

quan nghịch mức độ trung bình với độ dày nhu

mô nền còn lại sau mổ 5 năm, hệ số tương quan

Pearson là -0,514 (p<0,001) Có mối tương quan

thuận mức độ yếu với độ cầu tương đương trước

mổ, hệ số tương quan Pearson là 0,497 (p<0,001)

Có mối tương quan thuận mức độ yếu với nguy

cơ trước mổ, hệ số tương quan là 0,304 (p<0,001)

Khi so sánh độ cao giác mạc giữa sau mổ 5 năm,

6 năm, 7 năm ghi nhận không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê (Kruskal-Wallis test,

Chi-Square= 2,638, p=0,267>0,05)

BÀN LUẬN

Máy Orbscan phản ánh một cách chính xác

các thông số của mặt trước giác mạc nhờ sự kết

hợp của đĩa Placido và hình ảnh tán xạ từ các tia

quét đi qua bề mặt giác mạc(8) Vì LASER tác

động vào mặt trước giác mạc nên sự thay đổi

mặt trước là khá rõ ràng ABFS có tăng sau phẫu

thuật 5 năm là 0.25mm, sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê (p<0,001), với trung bình trước mổ là

7,83±0,24mm, sau mổ 5 năm là 8,08±0,27mm

Chứng tỏ dưới tác động bóc bay của Laser làm

mặt trước giác mạc dẹt hơn trước mổ Khi so

sánh ABFS sau mổ theo nhóm 5 năm, 6 năm, và

7 năm ghi nhận không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê (p>0,05)

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện chứng

tỏ mặt sau giác mạc có dịch chuyển về phía trước sau phẫu thuật LASIK bằng máy Orbscan Phẫu thuật LASIK chỉ tác động lên nhu mô ở mặt trước giác mạc nên mặt sau giác mạc không bị ảnh hưởng Do đó sự thay đổi mặt sau giác mạc

có ý nghĩa trong việc khảo sát sự thay đổi độ cong giác mạc Trong giai đoạn lành sẹo sau phẫu thuật, xuất hiện sẹo thô ít tế bào tại bề mặt phân cách vạt, làm giảm đặc tính cơ sinh học tại trung tâm và cạnh trung tâm giác mạc, nhu mô không được tái lập theo thời gian Ngược lại, sẹo

xơ nhu mô giàu tế bào xuất hiện ở rìa vết mổ dần dần làm tăng sức căng kéo dài 3 đến 5 năm sau LASIK(4) Phát hiện trên phù hợp với sự dịch chuyển về phía trước của mặt sau giác mạc sau LASIK Với giác mạc vùng trung tâm yếu hơn ngoại biên, càng thay đổi vùng trung tâm dẫn đến trung tâm mặt sau càng dốc Khi khảo sát PBFS sau mổ, chúng tôi ghi nhận PBFS có giảm sau phẫu thuật LASIK 5 năm là 0,008mm (mức ý nghĩa 95%), với trung bình PBFS trước mổ là 6,369 ± 0,224 mm, trung bình PBFS sau mổ là 6,3612 ± 0,235mm Do đó, mặt sau giác mạc sau

mổ cong hơn mặt sau giác mạc trước mổ, điều này chứng tỏ có sự dịch chuyển về phía trước của mặt sau giác mạc sau phẫu thuật LASIK 5 năm Khi so sánh với các tác giả trước nghiên cứu của chúng tôi có sự tương đồng

Độ cao mặt sau giác mạc cao hơn sau phẫu thuật LASIK 5 năm, với trung bình độ cao giác

mạc sau mổ là 36,37 ± 11,782 µm.Kết quả của

chúng tôi cũng tương tự các nghiên cứu trước Điều này cho thấy có một sự dịch chuyển về phía trước của mặt sau giác mạc sau phẫu thuật LASIK Tuy nhiên, sự dịch chuyển này ổn định

và không tiến triển thành dãn phình giác mạc sau khoảng thời gian 5 năm Theo tác giả Miyata(7) trên hồi cứu 1 năm tác giả nhận thấy có

sự dịch chuyển về phía trước của mặt sau giác mạc sau phẫu thuật khúc xạ Mặc dù sự tiến triển có khuynh hướng ổn định sau 6 tháng, thay đổi nhiều nhất được khảo sát trong khoảng thời gian 1 đến 6 tháng Cũng có xuất hiện sự tiến

Trang 5

triển tuy nhiên không phải tất cả đều có Có 60%

có khuynh hướng tiến triển dịch chuyển về phía

trước còn 40% thì không Các trường hợp ghi

nhận tiến triển đều có giác mạc trước mổ mỏng

và độ cận cao Theo nghiên cứu của chúng tôi,

khi xét mối tương quan giữa độ cong giác mạc

sau mổ LASIK với độ cầu tương đương trước

mổ Chúng tôi ghi nhận ABFS có mối tương

quan thuận mức độ yếu với độ cầu tương đương

trước mổ với r= 0,264, khi độ cầu tương đương

càng cao thì ABFS càng cao, điều này có thể lý

giải khi độ cầu tương đương càng cao thì độ dày

nhu mô cần bị bóc bay càng cao làm cho mặt

trước giác mạc càng dẹt Ngược lại, PBFS lại có

mối tương quan nghịch với r=-0,133, khi độ cầu

tương đương càng cao thì PBFS càng thấp, hay

khi độ cầu tương đương càng cao thì mặt sau

giác mạc càng cong Điều này chứng tỏ có một

sự dịch chuyển về phía trước của mặt sau giác

mạc sau phẫu thuật LASIK Độ cao mặt trước và

mặt sau giác mạc sau mổ có tương quan thuận với độ cầu tương đương trước mổ với hệ số tương quan r lần lượt là 0,485; 0,508 Và độ cao mặt sau giác mạc sau mổ 5 năm có tương quan nghịch với độ dày giác mạc trước mổ với mức tương quan yếu r=-0,327; theo Baek(2) r = -0,176 Tóm lại, trên nghiên cứu của chúng tôi khi đánh giá độ cong giác mạc dựa trên máy Orbscan II nhận thấy có sự dịch chuyển về phía trước của mặt sau giác mạc sau phẫu thuật trong khoảng thời gian 5 năm Tuy nhiên, sự dịch chuyển này ổn định và không phát hiện trường hợp nào có dãn phình giác mạc sau mổ

Chúng tôi áp dụng mô hình đánh giá yếu tố nguy cơ gây dãn phình giác mạc sau phẫu thuật LASIK của Randleman vào nhóm nghiên cứu (nhóm nghiên cứu của chúng tôi chưa ghi nhận trường hợp nào có dãn phình thực sự) ghi nhận:

Bảng 4: Bảng so sánh yếu tố nguy cơ với nghiên cứu của Randleman

Nhóm dãn phình (n=86) Nhóm chứng (n=133) Nguyễn Thiện Trung (N= 685)

Khi áp dụng mô hình đánh giá nguy cơ của

Randleman vào nghiên cứu chúng tôi ghi nhận

có 28,2% trường hợp được đánh giá là nguy cơ

cao, 25,8% trường hợp được đánh giá trung bình,

46% được đánh giá thấp Như vậy khi sử dụng

mô hình thì có 28,2% bệnh nhân bị đánh giá quá

mức nguy cơ dãn phình Điều này chứng tỏ có

một số yếu tố được đánh giá chưa phù hợp, hay

còn bị chi phối bởi một yếu tố nguy cơ khác (như

đặc tính cơ sinh học giác mạc)

Khi xem xét riêng lẻ từng yếu tố được

xem là có liên quan đến dãn phình giác mạc

sau mổ, các tác giả nhận thấy có nhiều trường

hợp sai biệt

KẾT LUẬN

- Độ cao mặt trước giác mạc giảm hơn sau

phẫu thuật LASIK 5 năm Độ cao mặt sau giác

mạc cao hơn sau phẫu thuật LASIK 5 năm,

chứng tỏ có sự dịch chuyển về phía trước của

mặt sau giác mạc sau phẫu thuật Tuy nhiên, chúng tôi không ghi nhận bất kỳ trường hợp nào

có dãn phình giác mạc sau mổ

- Hình thái bản đồ giác mạc được ghi nhận: bản đồ độ chênh mặt trước giác mạc có hình thái kiểu đảo chiếm đa số (chiếm 32,4%),

và hình thái bản đồ độ chênh mặt sau giác mạc chiếm đa số là kiểu bờ đều bất qui tắc (chiếm 49,8%) Sau khi thực hiện phẫu thuật LASIK, ghi nhận hình thái bản đồ độ chênh mặt trước giác mạc phần lớn có dạng hồ lõm (chiếm 68%) Hình thái của bản đồ độ chênh mặt sau giác mạc sau phẫu thuật LASIK 5 năm chiếm đa số là dạng kiểu đảo (44,1%)

- Khi áp dụng mô hình đánh giá nguy cơ của Randleman vào nghiên cứu chúng tôi ghi nhận

có 28,2% trường hợp được đánh giá là nguy cơ cao; 25,8% trường hợp được đánh giá trung bình, 46% được đánh giá thấp Như vậy khi sử dụng

Trang 6

mô hình thì có 28,2% bệnh nhân bị đánh giá quá

mức nguy cơ dãn phình Điều này chứng tỏ có

một số yếu tố được đánh giá chưa phù hợp, hay

còn bị chi phối bởi một yếu tố nguy cơ khác (như

đặc tính cơ sinh học giác mạc)

- Độ cao mặt trước và mặt sau giác mạc có

tương quan thuận với nguy cơ trước mổ với r

lần lượt là 0,189; 0,304 Độ cao mặt sau giác

mạc sau mổ 5 năm có tương quan nghịch với

độ dày giác mạc trước mổ với mức tương

quan yếu r=-0,327 ABFS, PBFS, độ cao mặt

trước, độ cao mặt sau giác mạc sau mổ có mối

tương quan nghịch với CH với r lần lượt là

-0,257; -0,105; -0,361; -0,343 Độ cong giác mạc

có mối tương quan nghịch với CRF với hệ số

tương quan lần lượt là -0,211; -0,371; -0,335

(theo thứ tự ABFS, độ cao mặt trước, độ cao

mặt sau giác mạc) Độ cao mặt sau giác mạc có

mối tương quan nghịch mức độ trung bình với

độ dày nhu mô nền còn lại với r = -0,514

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ambrósio RJr, Dawson DG, Salomão M, Guerra FP, Caiado

AL, Belin MW (2010), “Corneal ectasia after LASIK despite

low preoperative risk: tomographic and biomechanical

findings in the unoperated, stable, fellow eye”, Journal of

refractive surgery, 26(11), pp.906-11

2 Baek T, Lee K, Kagaya F, Tomidokoro A, Amano S, Oshika T

(2001), “Factors affecting the fordward shift of posterior

corneal surface after laser laser in situ keratomileusis”,

Opthalmology, 108(2), pp.317-20

3 Binder PS (2007), “Analysis of ectasia after laser in situ

keratomileusis: risk factors”, J Cataract Refract Surg, 33,

pp.1530–1538

4 Dawson DG, Kramer TR, Grossniklaus HE, Waring GO, Edelhauser HF, (2005), “Histologic, ultrastructural, and immunofluorescent evaluation of human laser-assissted in situ

keratomleusis corneal wounds”, Arch Ophthalmol, 123,

pp.741-756

5 Klein SR, Epstein RJ, Randleman JB, Stulting RD (2006),

“Corneal ectasia after laser in situ keratomileusis in patients

without apparent preoperative risk factor”, Cornea, 25(4),

pp.388-403

6 Meghpara B, Nakamura H, Macsai M (2008), “Keratectasia after laser in situ keratomileusis: a histopathologic and

immunohistochemical study”, Arch Ophthalmol, 126, pp.1655–

1663

7 Miyata K, Kamiya K, Takahashi T, et al (2002), “Time course

of changes in corneal forward shift after excimer laser

photorefractive keratectomy”, Arch Ophthalmol, 120,

pp.896-900

8 O’Keefe M and Kirwan C (2010), “Laser epithelial

keratomileusis in 2010- a review”, Clinical and Experimental

Ophthalmology, vol.38, pp.183-191

9 Said A, Hamade IH, Tabbara KF (2011), “Late onset corneal

ectasia after LASIK surgery”, Saudi Journal of Ophthalmology,

pp 225-230

10 Spadea L, Cantera E, Cortes M, Conocchia NE, Stewart CW(2012), “Corneal ectasia after myopic laser in situ

keratomileusis: a longterm study”, Clinical Ophthalmology, vol

6, no.1, pp 1801-1813

11 Tuli SS, Iyer S (2007), “Delayed ectasia following LASIK with

no risk factors: is a 300-micron stromal bed enough?”, J Refract

Surg, 23(6), pp.620-2

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 01/02/2016

Ngày đăng: 14/01/2020, 22:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm