Kiểm soát và giảm lượng máu mất trong mổ là một trong những yếu tố then chốt trong phẫu thuật cắt gan nhằm đảm bảo an toàn và hạn chế biến chứng sau mổ, đặc biệt là suy gan sau mổ. Bài viết trình bày tổng quan các phương pháp kiểm soát mạch máu hiện đang được áp dụng trong cắt gan.
Trang 1TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT MẠCH MÁU TRONG CẮT GAN
Ninh Việt Khải 1 ; Chu Minh Phúc 1
TÓM TẮT
Kiểm soát và giảm lượng máu mất trong mổ là một trong những yếu tố then chốt trong phẫu thuật cắt gan nhằm đảm bảo an toàn và hạn chế biến chứng sau mổ, đặc biệt là suy gan sau
mổ Cặp kiểm soát mạch máu của gan giúp giảm lượng máu mất trong mổ Hạn chế chính thường gặp của cặp kiểm soát mạch máu gan là tổn thương nhu mô gan do thiếu máu và tái tưới máu sau cặp Đặc biệt ở những bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ, xơ gan và có thời gian cặp mạch kéo dài có thể dẫn đến suy gan sau mổ, một biến chứng chính gây tử vong sau mổ Cặp kiểm soát mạch máu gan có thể thực hiện với việc chỉ cặp mạch máu vào gan hoặc cặp cả mạch máu vào và ra khỏi gan Mỗi phương pháp cặp kiểm soát mạch máu gan cần áp dụng phù hợp theo từng tổn thương, tình trạng nhu mô gan và bệnh lý tim mạch nếu có của bệnh nhân trong mối quan tâm đến lợi ích kiểm soát mất máu với nguy cơ tổn thương nhu mô gan do thiếu máu khi cặp kiểm soát mạch Nắm bắt được các kỹ thuật kiểm soát mạch máu gan trong cắt gan rất hữu ích cho phẫu thuật viên khi tiến hành cắt gan Bài viết này chúng tôi trình bày tổng quan các phương pháp kiểm soát mạch máu hiện đang được áp dụng trong cắt gan
* Từ khóa: Cắt gan; Kiểm soát mạch máu
CƠ SỞ SINH LÝ VÀ GIẢI PHẪU CỦA CẶP
KIỂM SOÁT MẠCH MÁU TRONG CẮT GAN
Gan là một tạng giàu mạch máu, được
cấp máu bởi hai nguồn mạch là tĩnh mạch
(TM) cửa và động mạch (ĐM) gan Lưu
lượng máu qua gan chiếm 1/4 lượng máu
của tim, khoảng 1.500 ml/phút Máu từ
TM cửa vào gan chiếm khoảng 75%, còn
từ ĐM gan chiếm 25%, tuy nhiên lượng
oxy cung cấp cho gan lại bằng nhau giữa
hai nguồn này là 50% Máu từ ĐM gan
và TM cửa được trộn với nhau ở trong
gan tại các xoang gan, từ đó dẫn về TM
trung tâm tiểu thuỳ, vào tiểu TM và cuối
cùng ra khỏi gan qua TM gan Có 3 TM
gan: đó là TM gan phải, TM gan giữa và
TM gan trái, tất cả đều tận cùng và đổ
vào TM chủ dưới ngay sát dưới cơ
hoành, trong đó TM gan giữa thường hợp
với TM gan trái thành thân chung trước
khi đổ vào TM chủ dưới Ngoài ra, còn có
TM gan ngắn hoặc TM gan phải phụ dẫn máu từ gan vào TM chủ dưới Như vậy, cặp kiểm soát mạch máu (KSMM) trong cắt gan là cặp kiểm soát mạch vào hoặc kiểm soát cả mạch vào và mạch ra khỏi gan
CÁC KỸ THUẬT KIỂM SOÁT MẠCH MÁU TRONG CẮT GAN
1 Kiểm soát mạch máu đi vào gan
* Kiểm soát toàn bộ cuống gan:
1 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
Người phản hồi (Corresponding): Ninh Việt Khải (drninhvietkhai@gmail.com)
Ngày nhận bài: 20/06/2019; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 28/07/2019
Ngày bài báo được đăng: 05/08/2019
Trang 2Kiểm soát toàn bộ cuống gan còn
được gọi là thủ thuật Pringle, nhằm tạm
thời không cho máu của TM cửa và ĐM
gan đi vào gan trong lúc cắt nhu mô gan
Pringle mô tả thủ thuật này lần đầu tiên
vào năm 1908 [1] Mạc nối nhỏ được mở
ở phần gần cuống gan, luồn dây vòng
quanh cuống gan qua khe Winslow hoặc
dùng clamp mạch máu để cặp cuống gan
Đôi khi ĐM gan trái phụ hoặc thay thế,
bắt nguồn từ ĐM vị trái, do đó cần kiểm
tra cẩn thận để kiểm soát nhánh mạch
này Có thể thực hiện theo 3 cách:
- Cặp cuống gan liên tục cho đến khi
cắt xong nhu mô gan
- Cặp cách quãng - cặp cuống trong
15 - 20 phút rồi mở cặp trong 5 phút trước
khi cặp tiếp lần sau
- Cặp cuống theo cách thức tạo thích
nghi (preconditioning), đó là cặp cuống
10 phút rồi mở cặp trong 10 phút, tiếp đó
cặp cuống liên tục cho đến khi cắt xong
nhu mô gan [2]
Thủ thuật này gây ứ máu ruột và thiếu
máu gan dẫn đến tổn thương tái tưới
máu, gây tổn thương tế bào gan Do đó
vấn đề đặt ra là thời gian cặp cuống
Thời gian cặp toàn bộ cuống gan liên tục
đối với gan bình thường ở điều kiện
thường có thể lên tới 60 - 70 phút mà vẫn
an toàn Tuy nhiên, theo Belghiti, nên ít
hơn 35 phút ở những trường hợp xơ gan
Thời gian cặp toàn bộ cuống gan cách
quãng: cặp 15 - 20 phút rồi mở cặp 5 phút,
cho phép tổng thời gian cặp cuống lên đến
120 phút, thậm chí tối đa lên đến 322 phút
đối với gan bình thường và 202 hoặc
204 phút với gan xơ [3] Không có khác
biệt có ý nghĩa thống kê về số lượng máu
mất trong mổ giữa cặp cuống liên tục và
cách quãng, nhưng gan chịu đựng với cặp cuống cách quãng tốt hơn so với cặp liên tục, nên cặp cuống cách quãng hay được sử dụng hơn, nhất là ở những bệnh nhân (BN) có gan bệnh lý
* Kiểm soát chọn lọc cuống gan:
- Kiểm soát chọn lọc cuống mạch gan phải hoặc trái:
riêng để kiểm soát
(Nguồn: Theo Malassagne B, 1998)
kiểu en bloc cả 3 thành phần
(Nguồn: Theo Takasaki K, 2007 [4])
Có hai kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống mạch gan phải hoặc trái thường được áp dụng:
Trang 3+ Phẫu tích, cặp riêng ĐM gan, TM
cửa phải hoặc trái ở ngoài gan mà không
cặp vào đường mật trong quá trình cắt
gan được Henry Bismuth (1982) và
Makuuchi (1987) đề xuất Phẫu tích để
kiểm soát ĐM gan, TM cửa phải bằng
cách mở phúc mạc nửa trên bờ phải
cuống gan Để bộc lộ và phẫu tích ĐM và
TM cửa phải được thuận lợi, nên cắt túi
mật ĐM gan phải và TM cửa phải được
phẫu tích từ phía sau bên ống mật chủ,
luồn dây riêng thành từng phần để cặp
Phẫu tích để kiểm soát ĐM gan, TM cửa
trái bằng cách mở phúc mạc bên trái
cuống gan sát đáy dây chằng tròn Khi
kiểm soát chọn lọc cuống gan trái thấy
ĐM gan trái phụ hoặc thay thế, bắt nguồn
từ ĐM vị trái cần kiểm soát cả nhánh
mạch này
+ Phẫu tích, cặp en bloc cuống Glisson
gan phải hoặc trái:
Takasaki phẫu tích hạ mảng rốn gan
khỏi nhu mô gan ngay trên và dưới cuống
Glisson gan phải hoặc trái rồi luồn dây
quanh cuống [4]
Galperin, Launois và Machado rạch
mở nhu mô sát rốn gan để phẫu tích kiểm
soát en bloc cuống Glisson gan phải hoặc
trái Đặc biệt, khi phẫu tích kiểm soát
cuống Glisson gan phải, Machado lo ngại
nguy cơ chảy máu khi rạch nhu mô gan
chỗ củ đuôi (kỹ thuật của Launois) nên đã
đề xuất đường rạch ở chỗ nối giữa hạ
phân thuỳ 7 và củ đuôi khi kiểm soát
cuống Glisson gan phải [5, 6, 7] Trong
trường hợp kiểm soát chọn lọc cuống trái
theo kiểu en-bloc, cần rạch mở một
đường nhỏ ngay trên rốn gan gần bờ phải
đáy rãnh rốn (gốc của dây chằng tròn) để
hạ mảng rốn gan và cuống gan trái khỏi
nhu mô gan, mở mạc nối nhỏ và phẫu
tích cắt dây chằng TM Aratius ở gần cuống gan nằm ở mặt trên thuỳ Spiegel Dùng dissector phẫu tích giữa hai đường rạch này luồn dây sẽ kiểm soát được cuống trái [7] Cách cặp theo kiểu en-bloc thường khá hữu ích khi BN đã mổ trước
đó, vùng cuống gan dính nhiều
Cặp kiểm soát cuống gan chọn lọc cuống Glisson gan phải hoặc trái cũng có thể thực hiện liên tục hoặc cách quãng, đặc biệt cặp liên tục sẽ được thực hiện một cách thoải mái mà không cần quan tâm đến thời gian cặp khi cuống gan phải hoặc trái được cặp tương ứng với phần gan phải hoặc trái sẽ cắt bỏ Cặp cách quãng có thể cặp 15 phút thả 5 phút hoặc cặp đến 30 phút thả 5 phút [8]
Khi tiến hành cặp kiểm soát chọn lọc cuống Glisson gan phải hoặc trái gần như không có biến đổi nào về mặt huyết động của BN Không gây tổn thương thiếu máu
ở nửa gan còn lại, không gây ứ máu ruột Kiểm soát chảy máu hiệu quả như cặp cuống toàn bộ khi phần gan cắt nhỏ hơn vùng chi phối của cuống Glisson được cặp kiểm soát chọn lọc như cặp cuống Glison gan phải trong cắt phân thuỳ sau Đồng thời, khi cắt gan phải hoặc trái, với việc cặp cuống Glisson gan phải hoặc trái tương ứng sẽ tạo ra đường thiếu máu rõ, đây là mốc để cắt gan Tuy nhiên, nếu trong cắt gan phải hoặc trái mà cặp cuống Glisson gan phải hoặc trái chọn lọc tương ứng, chảy máu vẫn xảy ra ở diện gan đối diện và từ TM gan Malassagne (1998) thực hiện cặp kiểm soát cuống Glisson gan phải hoặc trái (phẫu tích riêng ĐM gan, TM cửa) cho 43 BN được cắt gan lớn nhận thấy kỹ thuật này an toàn và giúp giảm lượng máu mất trong mổ một cách hiệu quả ở 79% BN
Trang 4- Kiểm soát chọn lọc cuống mạch phân
thùy gan:
bóng chèn dưới siêu âm
(Nguồn: Theo Castaing D, 1989)
phân thuỳ của gan phải kiểu en bloc
(Nguồn: Theo Takasaki K, 2007 [4])
Có 3 kỹ thuật kiểm soát cuống mạch
phân thuỳ thường áp dụng, đó là:
+ Sử dụng đầu dò siêu âm để nhận
diện TM cửa của phân thuỳ gan định cắt
Sau đó luồn catheter có bóng vào lòng
nhánh TM cửa phân thuỳ để làm tắc TM
cửa bằng cách bơm bóng Nhánh ĐM
tương ứng được phẫu tích ở cuống gan
+ Phẫu tích cặp kiểm soát chọn lọc
cuống Glisson phân thuỳ gan được Takasaki
và Launois thực hiện hay còn gọi là phẫu
tích kiểm soát cuống Glisson trong nhu
mô gan từ phía sau [4, 5] Việc cặp chọn
lọc cuống mạch phân thuỳ gan là cặp
chung ba thành phần của cuống Glisson
theo kiểu en bloc, do khi vào trong gan các thành phần này được bọc trong bao Glisson chắc và dai
+ Machado mô tả các mốc mở nhu mô sát rốn gan để phẫu tích kiểm soát cuống Glisson phân thuỳ và nhận thấy việc cặp kiểm soát giúp làm giảm lượng máu mất, đây là kỹ thuật cải tiến của Launois [6, 7] + Yamamoto mô tả lại cấu trúc bao Laenec nằm giữa nhu mô gan và bao Glisson, tác giả cho rằng phẫu tích cuống Glisson phân thuỳ theo Takasaki dựa vào bao Laenec ở rốn gan khá thuận lợi,
an toàn [9]
+ Ngoài ra cũng có thể phẫu tích riêng
ĐM và TM cửa phân thuỳ ở ngoài gan để cặp Tuy nhiên, việc phẫu tích này đôi khi
có thể gây tổn thương nhánh mạch do các mạch này được bọc trong bao Glisson dai
và chắc
Phương pháp này thường thực hiện với mục đích xác định chính xác phạm vi phân thuỳ gan định cắt dựa vào ranh giới vùng thiếu máu và không thiếu máu hơn là mục đích kiểm soát lượng máu mất khi cắt gan
2 Kiểm soát đồng thời mạch máu vào và ra khỏi gan
* Kiểm soát loại trừ toàn bộ mạch máu của gan:
máu gan
(Nguồn: Bismuth H, 1989)
Trang 5Cặp loại trừ toàn bộ mạch máu của
gan là sự kết hợp cặp đồng thời các
mạch máu vào gan và đi ra khỏi gan, do
đó đã cô lập gan hoàn toàn khỏi hệ tuần
hoàn Gan được giải phóng hoàn toàn cả
bên phải và trái bằng việc cắt dây chằng,
mặt sau của gan phải được giải phóng để
bộc lộ rõ bờ phải TM chủ dưới TM chủ
dưới trên và dưới gan được bộc lộ và
luồn dây quanh Cuống gan được luồn
dây để cặp toàn bộ Trước khi tiến hành
cặp loại trừ toàn bộ mạch máu gan cần
thông báo cho bác sỹ gây mê bù dịch thật
tốt Việc cặp lần lượt theo thứ tự sau:
Cuống gan ⇒ TM chủ dưới vị trí dưới gan
⇒ TM chủ dưới vị trí trên gan
Phải cặp thử khoảng 5 phút sau khi đã
truyền đủ dịch, nếu huyết áp ĐM trung
bình giảm > 30% hoặc huyết áp tâm thu
giảm < 80 mmHg hoặc lưu lượng tim
giảm > 50% cần xem xét mở clamp do
BN không chịu đựng được thủ thuật [10]
Sau khi cắt qua nhu mô gan xong, mở
clamp theo thứ tự: TM chủ dưới trên gan
⇒ TM chủ dưới dưới gan ⇒ cuống gan
Có thể cặp loại trừ toàn bộ mạch máu
gan trong 70 phút đối với gan bình
thường Không thể thực hiện cặp loại trừ
toàn bộ mạch máu gan cách quãng vì TM
chủ dưới không thể cặp rồi lại thả luân
phiên Mặc dù theo dõi sát huyết động và
bù dịch đủ, cặp loại trừ mạch máu gan
toàn bộ không thực hiện được trong
10 - 15% trường hợp Cặp loại trừ toàn
bộ mạch máu của gan thường thực hiện
khi cắt gan lớn khi tổn thương sát gần
hoặc dính vào TM chủ dưới
* Kiểm soát loại trừ chọn lọc toàn bộ mạch máu của gan:
bộ mạch máu của gan
(Nguồn: Smyrniotis V, 2004 [11])
Cặp loại trừ chọn lọc mạch máu của gan là sự kết hợp giữa cặp cuống gan toàn bộ với cặp kiểm soát TM gan ngoài gan, nhờ đó đạt được cặp loại trừ các mạch máu của gan nhưng không gây gián đoạn lưu thông TM chủ dưới
- Để bộc lộ và kiểm soát TM gan phải: cần giải phóng gan đến bờ phải TM chủ dưới sau gan, có thể buộc và cắt vài nhánh TM gan ngắn Ở phần trên đoạn
TM chủ dưới sau gan chỗ gần với TM gan phải đổ vào TM chủ dưới có dây chằng gan TM chủ dưới, cần phẫu tích và cặp cắt dây chằng này Trong dây chằng gan TM chủ dưới có thể có các nhánh TM nhỏ, cần khâu buộc cẩn thận Sau khi cắt dây chằng, TM gan phải đã lộ ra, dùng dissector phẫu tích vào phần giữa TM gan phải và thân chung TM gan giữa và trái đổ vào TM chủ dưới sẽ luồn dây quanh để kiểm soát TM gan phải
- Đối với thân chung TM gan giữa và trái: cần mở mạc nối nhỏ, phẫu tích và cắt phần trên dây chằng TM (dây chằng Aratius)
Trang 6sát chỗ dây chằng này bám vào mặt
trước TM chủ dưới - ngang mức cực trên
thuỳ Spiegel Sau khi cắt dây chằng TM,
một phần thân chung TM gan giữa và gan
trái sẽ hiện ra Dùng dissector phẫu tích
nhẹ nhàng giữa vùng này và vùng giữa
TM gan phải và thân chung TM gan giữa
và gan trái đổ vào TM chủ dưới sẽ luồn
dây quanh để kiểm soát thân chung TM này
Cặp loại trừ chọn lọc mạch máu của
gan có thể thực hiện cặp liên tục hoặc cặp
cách quãng (cặp trong khoảng 15 - 20 phút,
thả cặp 5 phút rồi cặp tiếp lần sau)
* Kiểm soát loại trừ chọn lọc một phần
mạch máu của gan:
phần mạch máu gan
(Nguồn: Smyrniotis V, 2004 [11])
Là sự kết hợp của cặp cuống gan
chọn lọc hoặc toàn bộ cuống gan với cặp
kiểm soát chỉ TM gan phải hoặc thân
chung TM gan giữa và trái Ví dụ: trong
cắt phân thùy sau, việc cặp chọn lọc
cuống gan phải kết hợp với cặp TM gan phải đủ để loại trừ mạch máu của phần gan cắt
Thủ thuật này có thể thực hiện theo các cách sau
- Cặp kiểm soát toàn bộ cuống gan hoặc cặp kiểm soát chọn lọc cuống gan phải kết hợp với cặp kiểm soát TM gan phải áp dụng đối với cắt phân thuỳ,
hạ phân thuỳ gan ở gan phải
- Tương tự, cặp kiểm soát toàn bộ cuống gan hoặc kiểm soát chọn lọc cuống trái kết hợp với cặp kiểm soát thân chung
TM gan giữa và gan trái áp dụng cho cắt gan ở gan trái
CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT MẠCH MÁU KHÁC KHI CẮT GAN
1 Kiểm soát làm giảm áp lực TM trung tâm
Khi áp lực TM trung tâm giảm sẽ dẫn đến áp lực TM gan cũng giảm theo, do đó giảm áp lực máu chảy từ các nhánh của
TM gan trong khi cắt gan Như vậy, áp lực
TM trung tâm giảm sẽ kiểm soát được lượng máu chảy ra (tỷ lệ thuận với áp lực)
từ TM gan Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy giảm áp lực TM trung tâm < 5 cm
H2O giúp làm giảm lượng máu mất trong
mổ [11, 12] Có hai cách kiểm soát áp lực
TM trung tâm:
a Giảm áp lực TM trung tâm qua gây
mê hồi sức:
Trong gây mê hồi sức có thể giảm áp lực TM trung tâm bằng một số phương pháp như: hạn chế truyền dịch, dịch truyền vào với tốc độ thấp 0,5 - 1 ml/kg/giờ cho đến khi cắt gan hoàn thành Sử dụng thuốc mê như isoflurane có đặc tính gây giãn mạch toàn thân nhưng ít ảnh hưởng
Trang 7đến tim hoặc sử dụng các thuốc có tác
dụng giãn mạch [13] Thông khí dung tích
thấp cũng giúp giảm áp lực TM trung tâm [14]
Tuy nhiên, giảm áp lực TM trung tâm
qua gây mê hồi sức có những hạn chế
như nguy cơ tắc mạch khí tăng và giảm
thể tích tuần hoàn có thể ảnh hưởng đến
chức năng thận sau mổ Để đề phòng
nguy cơ tắc mạch khí, nhiều tác giả cho
rằng nên để BN ở tư thế đầu thấp 150
(Trenderlenburg) và đặc biệt sử dụng đầu
dò siêu âm tim qua thực quản để phát
hiện khí trong TM chủ, buồng tim nhằm
xử lý kịp thời
b Cặp kiểm soát TM chủ dưới dưới gan:
Thủ thuật này làm giảm lượng máu về
tim từ TM chủ dưới, do đó làm giảm áp
lực TM trung tâm và làm giảm áp chảy
máu từ TM gan khi cắt gan Với thủ thuật
này, việc làm giảm áp lực TM trung tâm
sẽ thực hiện trong tình huống kỹ thuật
gây mê hồi sức thất bại khi giảm áp lực
TM trung tâm hoặc khi không có bác sỹ
gây mê hồi sức có kinh nghiệm [15]
Thủ thuật này thường kết hợp với cặp
cuống gan toàn bộ hoặc cặp cuống gan
chọn lọc TM chủ dưới được cặp ở vị trí
dưới gan và trên hai TM thận, có thể
phẫu tích TM chủ dưới để cặp hoặc
không cần phẫu tích Có thể cặp TM chủ
dưới hoàn toàn hoặc bán phần
Khi thực hiện thủ thuật cặp TM chủ
dưới dưới gan, áp lực TM trung tâm
giảm trung bình 70%, trung bình giảm từ
13 - 4 mmHg, huyết áp ĐM giảm < 10%
Đây là thủ thuật đơn giản, không đòi hỏi
nhiều về mặt kỹ thuật, BN chịu đựng tốt
với thủ thuật và không cần phải theo dõi
đặc biệt về gây mê hồi sức Với thủ thuật
này có thể kiểm soát chảy máu từ TM gan khi cắt gan mà không cần phải kiểm soát các TM gan này
2 Cặp kiểm soát TM cửa
TM cửa cung cấp 75% lượng máu cho gan, còn ĐM gan cung cấp 25% lượng máu cho gan, tuy nhiên O2 cung cấp cho gan bằng nhau ở hai nguồn mạch này Cặp kiểm soát TM cửa đơn thuần sẽ ngăn lượng máu chính vào gan từ TM cửa, còn ĐM gan không bị cặp sẽ vẫn cung cấp O2 cho gan, nhờ đó giảm hoặc thậm chí không gây tình trạng thiếu máu gan ở phần gan còn lại Tuy nhiên, thủ thuật này vẫn gây tình trạng ứ máu tạng, cặp TM cửa gây tăng adenosine theo con đường dịch thể dẫn đến giãn ĐM gan và làm tăng lưu lượng máu vào ĐM gan nên nguồn máu chảy từ ĐM gan tăng lên khi cắt gan Thủ thuật này thường áp dụng ở những BN xơ gan hoặc gan nhiễm mỡ
KẾT LUẬN
Có nhiều phương pháp kiểm soát mạch máu trong cắt gan nhằm giảm lượng máu mất trong mổ Nắm bắt được các kỹ thuật này cũng như áp dụng phù hợp vào từng dạng tổn thương khi cắt gan rất hữu ích trong kiểm soát mất máu và hạn chế ảnh hưởng không có lợi cho BN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
hepatic hemorrhage due to trauma Annals of Surgery 1908, 48 (4), pp.541-549
randomized study in 100 consecutive patients undergoing major liver resection with versus without ischemic preconditioning Ann Surg
2003, 238 (6), pp.843-850; discussion 851-852
Trang 83 Yoichi Ishizaki J.Y, Ken Miwa, Hiroyuki
maneuver during hepatic resection Arch
Surg 2006, 141 (7), pp.649-653
method for hepatic resection Tokyo: Springer
2007
approach to liver resection Surgery of the
Liver and Biliary Tract F.Y Blumgart L H,
Editor W.B Saunders 2000, pp.1698-1703
6 Machado M.A, P Herman, M.C
segmental liver resections Archives of Surgery
2003, 138 (8), pp.918-920
7 Machado M.A, P Herman M.C
segments Archives of Surgery 2004, 139 (12),
pp.1346-1349
inflow for complex central liver resections in
cirrhotic patients: A randomized comparison
of hemihepatic and total hepatic occlusion
techniques Arch Surg 2002, 137 (12),
pp.1369-1376
hepatectomy for hepatocellular carcinoma by
the Glissonean pedicle approach (with videos)
J Hepatobiliary Pancreat Sci 2014, 21 (8), pp.E53-56
selective hepatic vascular exclusion in major liver resections American Journal of Surgery
2002, 183 (2), pp.173-178
venous pressure and type of vascular control
in blood loss during major liver resections American Journal of Surgery 2004, 187 (3), pp.398-402
pressure reduces blood loss in hepatectomy World Journal of Gastroenterology WJG
2006, 12 (6), pp.935-939
postoperative effects of halothane versus isoflurane on hepatic artery and portal vein blood flow in humans Anesthesia and
Analgesia 2003, 96 (3), pp.740-745
hypoventilation on bleeding during hepatic resection: A randomized controlled trial Archives of Surgery 2002, 137 (3), pp.311-315
hepatectomy can be reduced by clamping the inferior vena cava below the liver Surgery
2004, 135 (1), pp.67-73