1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ảnh hưởng của tình trạng hoạt động chức năng cơ bản và chuyên khoa điều trị đến tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông trên bệnh nhân cao tuổi có rung nhĩ không do bệnh van tim tại Bệnh viện Trưng

6 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 329,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát mối liên quan giữa tình trạng hoạt động chức năng cơ bản và chuyên khoa điều trị đến tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông trên bệnh nhân cao tuổi có rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh viện Trưng Vương.

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA TÌNH TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHỨC NĂNG CƠ BẢN

VÀ CHUYÊN KHOA ĐIỀU TRỊ ĐẾN TỈ LỆ SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG ĐÔNG TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI CÓ RUNG NHĨ KHÔNG DO BỆNH VAN TIM

TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG

Trần Thanh Tuấn * , Nguyễn Văn Tân ** , Nguyễn Văn Trí **

TÓM TẮT

Cơ sở: Việc dự phòng đột quị bằng thuốc kháng đông trên bệnh nhân cao tuổi có rung nhĩ không do bệnh van

tim đã được chứng minh và khuyến cáo chính thức bởi các hiệp hội uy tín Tuy nhiên, trên thực tế, tỉ lệ sử dụng thuốc khác đông trên dân số có nguy cơ đột quị cao rất thay đổi qua từng nghiên cứu, từng địa phương Ngoài yếu tố nguy cơ đột quị, còn yếu tố nào khác ảnh hưởng đến tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông hay không?

Mục tiêu: Khảo sát mối liên quan giữa tình trạng hoạt động chức năng cơ bản và chuyên khoa điều trị

đến tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông trên bệnh nhân cao tuổi có rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh viện Trưng Vương

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến cứu trên bệnh nhân được chẩn đoán rung nhĩ

không do bệnh van tim điều trị tại khoa Tim Mạch, Hô Hấp, Nội Tiết, Thần Kinh và khoa Khám bệnh của bệnh viện Trưng Vương từ 07/2015 đến 4/2016 Bệnh nhân được ghi nhận điểm Katz, chuyên khoa điều trị và toa thuốc sử dụng

Kết quả: Trong 207 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu, tuổi trung bình là 72,8±8,3 tuổi, nữ giới chiếm

59,9% Tỉ lệ bệnh nhân được điều trị với bác sĩ Tim Mạch là 76,3% Tỉ lệ bệnh nhân có điểm Katz ≤3 là 23,2%.Tỉ

lệ sử dụng thuốc kháng đông ở bác sĩ Tim Mạch cao hơn hẳn khi so với tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông ở bác sĩ chuyên khoa khác (78,5% so với 28,6%, p<0,0001) Bệnh nhân giảm nặng hoạt động chức năng cơ bản (Katz ≤3)

có tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông thấp hơn so với nhóm còn lại (43,8% so với 78,9%, p<0,0001) Phân tích đa biến ghi nhận: bệnh nhân có điểm Katz >3 có khả năng được sử dụng kháng đông nhiều hơn (OR là 3,285; 95%

CI 1,252-8,622;p=0,016) Bệnh nhân được điều trị bởi bác sĩ ngoài chuyên khoa Tim Mạch làm tăng nguy cơ không được sử dụng kháng đông(OR là 0,084; 95% CI 0,036-0,194; p<0,0001)

Kết luận: Tình trạng hoạt động chức năng cơ bản và chuyên khoa điều trị có ảnh hưởng đến tỉ lệ sử dụng

thuốc kháng đông trong dự phòng đột quị trên bệnh nhân cao tuổi có rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh viện Trưng Vương

Từ khóa: người cao tuổi, rung nhĩ không do bệnh van tim, kháng đông, chuyên khoa, hoạt động cơ bản

hàng ngày

ABSTRACT

THE EFFECT OF BASIC ACTIVITIES OF DAILY LIVING AND SPECIALIST TO THE RATE

OF USING ANTICOAGULATION DRUGS IN ELDERLY PATIENTS WITH NONVALVULAR ATRIAL FIBRILLATION AT TRUNG VUONG HOSPITAL

Tran Thanh Tuan, Nguyen Van Tan, Nguyen Van Tri

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 1 - 2017: 246 - 251

Backgrounds: The use of anticoagulation drug for stroke prevention in elderly patients with nonvalvular

* Bệnh viện Trưng Vương Tp HCM ** Bộ môn Lão Khoa, Đại học Y Dược TP HCM

Trang 2

atrial fibrillation is proved and recommended by reputable associations However, in practice, the use of anticoagulation drugs in patients with high risk of stroke is different from place to place, hospital to hospital Beside of risk factors for stroke, are there any factors that effect the rate of using anticoagulation drugs?

Objectives: to evaluate the relationship of basic activities of daily living and treating specialty to the rate of

using anticoagulation drugs in elderly patients with nonvalvular atrial fibrillation at Trung Vuong hospital

Methods: A prospective descriptive cross sectional study was conducted in medical departments of Trung

Vuong Hospital The study population included all patients aged 60 years or older diagnosed with nonvalvular atrial fibrillation, had treatment at Trưng Vương Hospital from July 2015 to April 2016 We recorded Katz score, specialty of doctor, and final prescription of each patient

Results: In 207 patients meeting the research’s criteria, the mean age was 72.8±8.3 years; 59.9% were

women; 76.3% were cardiology-treated patients; 23.2% had Katz’s score ≤3 Anticoagulation drugs use was higher in cardiology-treated vs the other doctors-treated patients (78.5% vs 28.6%, p<0.0001) Anticoagulation drugs use was lower in severely reduced BADL (Katz ≤3) vs the other patients (43.8% vs 78.9%, p<0.0001) After covariate and site-level adjustment, patients with reversed BADL (Katz’s score >3) was significantly associated with anticoagulation drugs use (odds ratio (OR] 3.285; 95% CI 1.252-8.622; p=0.016) Anticoagulation drugs use in non-cardiology-care-only patients declined (odds ratio [OR] 0.084; 95% CI 0.036-0.194; p<0.0001)

Conclusions: In elderly patients with nonvalvular atrial fibrillation at Trung Vuong hospital, the study

showed large differences in anticoagulation drugs use for stroke prevention by treating specialty and basic activities of daily living level

Keywords: elderly, nonvalvular atrial fibrillation, anticoagulation drugs, treating specialty, basic activities

of daily living

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dự phòng đột quị trong điều trị rung nhĩ

(RN) không do bệnh van tim đã được khuyến

cáo chính thức từ Hội Tim Châu Âu, Hội Tim

Mạch Mỹ(1,5) Các phân tích tổng hợp đều cho

thấy thuốc kháng vitamin K làm giảm nguy cơ

đột quị đến 65% so với giả dược và làm giảm

38% nguy cơ tương đối đột quị so với Aspirin(4)

Hiện nay, nhiều bệnh nhân rung nhĩ vẫn

chưa được sử dụng kháng đông Ngay cả tại

các nước đang phát triển, chỉ 55% bệnh nhân

rung nhĩ có nguy cơ thuyên tắc được dùng

kháng đông, và con số này giảm xuống còn

35% ở bệnh nhân trên 85 tuổi(3) Một số nghiên

cứu cũng cho thấy chuyên khoa điều trị có ảnh

hưởng lên tỉ lệ dùng thuốc kháng đông để dự

phòng đột quị trên bệnh nhân rung nhĩ không

do bệnh van tim (RNKDBVT)

Người cao tuổi thường có đa bệnh lý, sử

dụng nhiều loại thuốc cùng lúc và bên cạnh đó,

tình trạng suy yếu về mặt chức năng cũng ảnh hưởng lên tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông Câu hỏi được đặt ra là sự suy giảm hoạt động chức năng của bệnh nhân có liên quan đến việc sử dụng kháng đông hay không? Do đó, để trả lời

và phần nào làm sáng tỏ câu hỏi trên nên nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát mối liên quan giữa tình trạng hoạt động chức năng cơ bản và chuyên khoa điều trị đến tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông trên bệnh nhân cao tuổi có rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh viện Trưng Vương

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân ≥60 tuổi, được chẩn đoán RN, điều trị tại khoa Tim Mạch, Hô Hấp, Nội Tiết, Thần Kinh và khoa Khám Bệnh của bệnh viện Trưng Vương Thành Phố Hồ Chí Minh từ 7/2015

Trang 3

đến 4/2016

Tiêu chuẩn loại trừ

RN do van tim (gồm: RN kèm hẹp 2 lá trung

bình – nặng (dựa trên siêu âm tim), sửa van 2 lá

hoặc van tim nhân tạo); bệnh nhân có chỉ định

kháng đông khác ngoài RN; bệnh nhân đang bị

xuất huyết tiến triển hoặc xuất huyết nặng, đe

dọa tính mạng; bệnh nhân bị nhồi máu não mới

(<3 tuần) hay bệnh nhân không đồng ý tham gia

nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả tiến cứu

Phương pháp lấy mẫu

Chúng tôi chọn mẫu theo phương pháp

thuận tiện: lấy tất cả bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn

chọn bệnh và không có tiêu chuẩn loại trừ đến

hết thời gian nghiên cứu

Sơ đồ nghiên cứu:

Hình 1: Sơ đồ nghiên cứu Định nghĩa biến số

Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên

Bác sĩ chuyên khoa là biến định tính gồm 2 giá trị: ”0” là chuyên khoa Tim mạch và ”1” là chuyên khoa khác

Biến kháng đông gồm hai giá trị: ”0” là không sử dụng kháng đông, ”1” là có sử dụng kháng đông

Biến số hạn chế hoạt động chức năng cơ bản được tính theo điểm Katz

Bảng 1.Chỉ số Katz cho hoạt động hàng ngày (7,6)

(1 điểm) tự làm

Phụ thuộc (0 điểm) cần giúp đỡ

Tắm rửa Hoàn toàn tự tắm, chỉ cần giúp đỡ một phần

nhỏ trên cơ thể (đầu, lưng…)

Cần giúp đỡ nhiều hơn một phần cơ thể, giúp

vào bồn tắm, mở vòi sen Mặc quần áo Tự lấy quần áo từ tủ, mặc quần áo, cài nút Cần giúp đỡ một phần hay hoàn toàn

Vệ sinh Tự đi đến nhà vệ sinh, đi vào và ra, mặc lại quần

áo, tự vệ sinh bộ phận sinh dục

Cần giúp đỡ di chuyển đến nhà vệ sinh, rửa sạch hoặc sử dụng bô, ghế lỗ

Đi lại Tự di chuyển vào và ra khỏi giường hoặc ghế,

có thể sử dụng dụng cụ hỗ trợ Cần giúp di chuyển một phần hoặc hoàn toàn Tiêu tiểu Hoàn toàn kiểm soát việc đi tiêu hay đi tiểu Tiêu tiểu không tự chủ, một phần hay hoàn toàn

Ăn uống Tự múc lấy thức ăn Cần giúp một phần hay hoàn toàn, nuôi ăn qua

ống thông, qua tĩnh mạch Chúng tôi định tính hóa biến Katz gồm 2 giá

trị:”0”là Katz ≤ 3,”1”là Katz >3

Phương pháp xử lý số liệu

Nhập và phân tích số liệu: sử dụng phần

mềm SPSS 20.0

Các biến định tính được tính tỉ lệ và kiểm

định bằng phép kiểm 2 Mối tương quan được

kiểm định bằng hồi qui đơn biến và đa biến Các thống kê y học có ý nghĩa khi p <0,05

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ tháng 07/2015 đến 04/2016 chúng tôi thu thập được 207 bệnh nhân RNKDBVT với kết quả như sau:

Rung nhĩ (điện tâm đồ)

không Tiêu chuẩn loại trừ

Hỏi bệnh – khám bệnh – thu thập dữ liệu từ hồ sơ

Bác sĩ Kháng

đông

Mục tiêu nghiên cứu

Loại

Katz

Trang 4

Bảng 2 Đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu

Tuổi trung bình 72,09±8,4 75,00±7,8 0,032

Nữ giới 90 (57,0%) 34(69,4%) 0,121

Tăng huyết áp 120 (75,9%) 43 (87,8%) 0,078

Suy tim 67 (42,4%) 16(32,7%) 0,224

Bệnh mạch vành 61 (38,6%) 26 (53,1%) 0,073

Đái tháo đường 34 (21,5%) 16 (32,7%) 0,112

Bệnh thận mạn 10 (6,3%) 5 (10,2%) 0,361

Tiền căn đột quị 7 (4,4%) 7 (14,3%) 0,024

Phối hợp ≥2 bệnh 102 (64,6%) 43 (87,8%) 0,002

CHA 2 DS 2 -VASc 3,58±1,46 4,41±1,29 0,0001

HAS-BLED 1,79±0,83 2,81±0,81 0,0001

Bảng 3 Ảnh hưởng của chuyên khoa lên tỉ lệ sử

dụng kháng đông

Bác sĩ

Kháng đông

Chi -

Không sử

Tim Mạch 34 (21,5%) 124 (78,5%)

41,9 0,0001

Khoa khác 35 (71,4%) 14 (28,6%) Tổng 69 (33,3%) 138 (66,7%) Bác sĩ chuyên khoa tim mạch sử dụng kháng đông nhiều hơn chuyên khoa khác

Bác sĩ ngoài chuyên khoa tim mạch ít sử dụng kháng đông hơn, với OR là 2,5 (p=0,004) và khoảng 1/5 dân số nghiên cứu có điểm Katz ≤3

Bảng 4 Hồi qui đơn biến giữa việc sử dụng kháng đông và bác sĩ chuyên khoa

Không kháng đông BS Tim mạch BS khoa khác 2,50 1,345 – 4,646 0,004

0,00%

20,00%

40,00%

60,00%

80,00%

18,40%

1,40% 2,40% 1,00% 0 9,20%

67,60%

Katz

0 1 2 3 4 5 6

Hình 2 Phân tầng hoạt động chức năng của đối

tượng nghiên cứu

Bảng 5 Ảnh hưởng của hoạt động chức năng cơ bản

lên tỉ lệ sử dụng kháng đông

Hoạt động chức năng cơ bản

Kháng đông

Chi -

Không sử

Katz ≤3 27 (56,2%) 21 (43,8%)

14,8 0,0001 Katz >3 4 (21,1%) 15 (78,9%)

Tổng (%) 69 (33,3) 138 (66,7%) Bệnh nhân có điểm Katz ≤3 có tỉ lệ sử dụng kháng đông thấp hơn nhóm còn lại, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

Bảng 6 Hồi qui đơn biến giữa việc sử dụng kháng đông và hoạt động chức năng

Có kháng đông Katz ≤3 Katz >3 1,564 1,327 – 1,843 0,0001 Bệnh nhân có Katz >3 được sử dụng kháng đông nhiều hơn nhóm còn lại với OR là 1,564

Bảng 7 Hồi qui đa biến của biến số kháng đông

Có kháng đông

BS Tim Mạch BS khoa khác 0,000 0,084 0,036 0,194 Không cường giáp Có cường giáp 0,002 0,062 0,011 0,361 HAS-BLED< 3 HAS-BLED ≥ 3 0,977 1,015 0,367 2,811 CHA 2 DS 2 -VASc<2 CHA 2 DS 2 -VASc ≥ 2 0,013 5,836 1,447 23,536

Trang 5

BÀN LUẬN

Ảnh hưởng của chuyên khoa điều trị lên tỉ

lệ sử dụng kháng đông

Bảng 8 Tỉ lệ sử dụng kháng đôngtheo chuyên khoa so

với nghiên cứu khác

Tỉ lệ sử dụng kháng đông (%)

P

Bs tim mạch

Bs khoa khác

Chúng tôi 207 78,5 28,6 0,000

Đặng Thị Thùy Quyên(2) 190 42,5 18,4 0,0003

Turakhia MP(9) 141642 68,6 48,9 0,0001

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh

nhân được bác sĩ tim mạch điều trị chiếm tỉ lệ

76,3% Tỉ lệ sử dụng kháng đông của bác sĩ tim

mạch cao hơn hẳn so với bác sĩ chuyên khoa

khác, sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê Kết

quả này tương tự kết quả của tác giả Đặng Thị

Thùy Quyên, Turakhia MP Tác giả Đặng Thị

Thùy Quyên nghiên cứu 190 bệnh nhân cao

tuổi rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh

viện Thống Nhất cũng ghi nhận tương tự, Tại

khoa Tim Mạch, tỉ lệ sử dụng kháng đông là

42,5% Tại các khoa khác, tỉ lệ này là

18,4%(2).Trong nghiên cứu của tác giả Turakhia

MP, tỉ lệ sử dụng kháng đông của bác sĩ trung

tâm tim mạch và bác sĩ chăm sóc ban đầu là

68,6% và 48,9%, p<0,0001(9) Trong một nghiên

cứu khác ở Novascotia, nhờ có sự phổ biến

kiến thức rộng rãi cho bác sĩ, tỉ lệ sử dụng

kháng đông giữa 2 nhóm bác sĩ tim mạch và

bác sĩ gia đình không khác biệt Tỉ lệ sử dụng

kháng đông thích hợp là 72%, tỉ lệ sử dụng

kháng đông giữa 2 nhóm tuổi dưới và trên 75

đều không khác nhau (không có khuynh

hướng ngại kê đơn cho người cao tuổi)

Các bác sĩ Tim Mạch là những người được

đào tạo bài bản hơn so với các chuyên khoa khác

về việc sử dụng kháng đông trong dự phòng đột

quị Vì thế, kết quả các nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ

sử dụng kháng đông ở chuyên khoa Tim Mạch

cao hơn chuyên khoa khác là điều không lạ Điều

đáng nói là chính tại chuyên khoa Tim Mạch, tỉ

lệ sử dụng kháng đông đang tăng dần theo thời

gian, từ 47,0% và 42,5% trong nghiên cứu của Nguyễn Thế Quyền và Đặng Thị Thùy Quyên năm 2014 lên 78,5% trong nghiên cứu của chúng tôi là điều đáng khích lệ(8,2) Có lẽ kết quả này là

do sự cập nhật kiến thức từ các chương trình đào tạo liên tục và hội nghị chuyên ngành trong lĩnh vực Tim Mạch trong thời gian gần đây và sự đóng góp của nhóm kháng đông mới đường uống

Tuy nhiên, như nghiên cứu đã ghi nhận, không phải tất cả các bệnh nhân bị rung nhĩ đều được điều trị tại khoa Tim Mạch Do đặc điểm đa bệnh lý ở người cao tuổi, bệnh nhân

sẽ được điều trị ở nhiều chuyên khoa khác Nếu như chương trình Bác Sĩ Gia Đình của Bộ

Y Tế triển khai có hiệu quả, trong tương lai, khi tình trạng bệnh của bệnh nhân ổn định, các bác sĩ gia đình sẽ tham gia theo dõi và điều trị bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim Mô hình lý tưởng nhất mô hình của nghiên cứu Novastia: tỉ lệ sử dụng kháng đông thích hợp cao, và không khác nhau giữa bác sĩ Tim Mạch và bác sĩ ngoài chuyên khoa Tim Mạch Để đạt được điều này, trước hết các bác sĩ Tim Mạch phải là những người đi đầu

sử dụng kháng đông đúng khuyến cáo

Ảnh hưởng của tình trạng hoạt động chức năng lên tỉ lệ sử dụng kháng đông

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ đối tượng phụ thuộc nặng chiếm 23,2%, tỉ lệ đối tượng độc lập là 67,6%, số còn lại là phụ thuộc trung bình Trong các đối tượng phụ thuộc nặng, nữ giới có tỉ lệ cao hơn nam giới (p=0,003) Khi khảo sát bằng test Chi bình phương và hồi qui đơn biến, chúng tôi ghi nhận tình trạng hoạt động chức năng có ảnh hưởng đến việc sử dụng kháng đông với p

<0,0001 (bảng 4, bảng 5) Bệnh nhân có Katz >3 – nghĩa là hoạt động hàng ngày tốt hơn nhóm còn lại – sẽ có khả năng được sử dụng kháng đông nhiều hơn với OR là 1,564 (p<0,0001) Chúng ta đã biết quá trình lão hóa của mỗi cá nhân khác nhau, có người già khỏe mạnh, có

Trang 6

người già suy yếu Mặc dù việc sử dụng các

thang điểm đánh giá hoạt động hàng ngày chưa

phổ biến trong thực hành y khoa tại Việt Nam,

bằng con mắt lâm sàng, các thầy thuốc vẫn có sự

đánh giá tổng trạng chung của người bệnh Sự

đánh giá này có ảnh hưởng đến quyết định điều

trị, mặc dù chúng ta chưa có công trình nghiên

cứu để khẳng định chính thức Một bệnh nhân

có tổng trạng khá hơn, có kỳ vọng sống dài hơn

sẽ nhận được điều trị tích cực hơn Một bệnh

nhân có tổng trạng kém, đa bệnh lý, kỳ vọng

sống ngắn sẽ có nhiều khả năng nhận được các

điều trị theo hướng ”nhẹ nhàng” hơn

Phân tích đa biến các yếu tố ảnh hưởng sử

dụng kháng đông

Trong phân tích đa biến, chúng tôi phân tích

mối liên quan giữa biến phụ thuộc là biến sử

dụng kháng đông, nhóm tham khảo là không

kháng đông và biến độc lập chúng tôi quan tâm

gồm bác sĩ chuyên khoa, tình trạng hoạt động

hàng ngày (Katz), nguy cơ thuyên tắc (CHA2DS2

-VASc), nguy cơ chảy máu (HAS-BLED), kiểm

soát ảnh hưởng nhiễu của các yếu tố có thu thập

Kết quả chúng tôi thu được phù hợp với

những phân tích đơn biến và những nhận định ở

phần trước của chúng tôi Việc sử dụng kháng

đông của bệnh nhân cao tuổi có rung nhĩ không

do bệnh van tim có liên quan đến bác sĩ chuyên

khoa và tình trạng hoạt động hàng ngày Cụ thể,

khi được điều trị bởi bác sĩ ngoài chuyên khoa

tim mạch làm giảm khả năng sử dụng kháng

đông của bệnh nhân với OR là 0,084 (p<0001)

Bên cạnh đó, những bệnh nhân có điểm Katz > 3

có khả năng được sử dụng kháng đông nhiều

hơn khi so với nhóm phụ thộc nặng(Katz ≤3) với

OR là 3,285 (p=0,016)

Tuy nhiên, đây là nghiên cứu cắt ngang, mối

liên quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc

chỉ có thể xét ở mức độ thống kê, chưa hoàn toàn

có thể kết luận là mối liên hệ nhân – quả

KẾT LUẬN

Bác sĩ ngoài chuyên khoa tim mạch ít sử dụng kháng đông để dự phòng đột quị cho bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim Những bệnh nhân có chức năng hoạt động hàng ngày tốt hơn được sử dụng kháng đông nhiều hơn Chuyên khoa điều trị và tình trạng hoạt động chức năng của bệnh nhân có ảnh hưởng đến việc

sử dụng kháng đông dự phòng đột quị cho bệnh nhân cao tuổi có rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh viện Trưng Vương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Camm AJ, et al (2010),”Guidelines for the management of atrial fibrillation: the Task Force for the Management of Atrial

Fibrillation of the European Society of Cardiology (ESC)",

Europace 12 (10), pp 1360-1420

2 Đặng Thị Thùy Quyên (2014),”Tỷ lệ điều trị thuốc chống huyết

khối theo thang điểm CHADS2/CHA2DS2-VASc trên người cao tuổi rung nhĩ không do bệnh lí van tim”, Luận văn tốt nghiệp

CK2, Đại học Y Dược, Tp Hồ Chí Minh

3 Go AS, et al (1999),”Warfarin use among ambulatory patients with nonvalvular atrial fibrillation: the anticoagulation and

risk factors in atrial fibrillation (ATRIA) study", Ann Intern

Med 131 (12), pp 927-934

4 Hart RG, et al (2007),”Meta-analysis: antithrombotic therapy

to prevent stroke in patients who have nonvalvular atrial

fibrillation", Ann Intern Med 146 (12), pp 857-867

5 January CT, et al (2014),”2014 AHA/ACC/HRS guideline for the management of patients with atrial fibrillation: executive summary: a report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on

practice guidelines and the Heart Rhythm Society",

Circulation 130 (23), pp 2071-2104

6 Katz S, et al (1963),”Studies of Illness in the Aged The Index

of Adl: A Standardized Measure of Biological and

Psychosocial Function", JAMA 185, pp 914-919

7 Katz S, et al (1976),”12 Index of ADL", Med Care 14 (5 Suppl),

pp 116-118

8 Nguyễn Thế Quyền (2014),”Thực trạng sử dụng thuốc chống

huyết khối trong dự phòng đột quỵ trên bệnh nhân rung nhĩ tại bệnh viện Chợ Rẫy”, Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học, Đại Học Y

Dược Tp Hồ Chí Minh

9 Turakhia MP, et al (2013),”Differences and trends in stroke prevention anticoagulation in primary care vs cardiology specialty management of new atrial fibrillation: The Retrospective Evaluation and Assessment of Therapies in AF

(TREAT-AF) study", Am Heart J 165 (1), pp 93-101 e101

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/12/2016

Ngày đăng: 14/01/2020, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w