1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa nội hô hấp Bệnh viện Thống Nhất

6 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 631,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc xác định tỉ lệ và sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Gr (-) gây đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) tại khoa Hô Hấp bệnh viện Thống Nhất từ tháng 1- 2014 đến tháng 6- 2015.

Trang 1

SỰ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN GÂY ĐỢT CẤP

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI KHOA NỘI HÔ HẤP BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

Ngô Thế Hoàng*, Đặng Thị Anh Khoa*

TÓM TẮT

Mục tiêu: xác định tỉ lệ và sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Gr (-) gây đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính (BPTNMT) tại khoa Hô Hấp bệnh viện Thống Nhất từ tháng 1- 2014 đến tháng 6- 2015

Phương pháp: Mô tả cắt ngang, tiến cứu

Kết quả: 152 bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp BPTNMT phân lập được vi khuẩn Gr (-), trong đó P

aeruginosa 31,6%, A baumannii 30,3%, K pneumonia 28,9%, tiếp theo E coli 7,2% và Enterobacter 1,9% P aeruginosa và K pneumoniae kháng Imipenem 12,8-21,7%, Colistin 13,2-24,1% P aeruginosa kháng Meropenem 10,8% A baumannii kháng gần như toàn bộ với các loại kháng sinh, kháng Imipenem 60%,

Meropenem 8,3% và Colistin 16,7%

Kết luận: Các vi khuẩn Gr (-) thường gặp gây đợt cấp BPTNMT đề kháng cao với kháng sinh nhóm

Carbapenem

Từ khóa: đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, vi khuẩn Gr (-), đề kháng kháng sinh

ABSTRACT

ANTIBIOTIC RESISTANCE OF BACTERIA CAUSE OF ACUTE EXACEBATION

OF CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASE

AT PULMONARY DEPARTMENT, THONG NHAT HOSPITAL

Ngo The Hoang, Dang Thi Anh Khoa

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 123 - 128

Objective: To determine the rate and antibiotic resistance of bacteria Gr (-) causing AECOPD at

Pulmonary department, Thong Nhat hospital from January 2014 to June 2015

Methods: Prospective, descriptive

Results: 152 patients were diagnosed AECOPD isolated bacteria Gr (-), in which P aeruginosa 31.6%, A

baumannii 30.3%, K pneumoniae 28.9%, and E coli 7.2%, Enterobacter 1.9% P aeruginosa and K pneumoniae resistance Imipenem from 12.8 to 21.7%, Colistin from 13.2 to 24.1% P aeruginosa resistance Meropenem 10.8% A baumannii resistant to almost all antibiotics, including Imipenem 60%, Meropenem 8.3% and Colistin 16.7%

Conclusion: The mainly bacteria Gr (-) cause AECOPD were high resistance to carbapenem antibiotics Keywords: Gram-negative bacteria, antibiotic resistance

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thập kỷ qua, tỉ lệ mắc BPTNMT tăng

lên 1,2 lần Các đợt cấp BPTNMT làm tăng bệnh

suất và tử vong, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc

sống, tiên lượng của bệnh nhân Nguyên nhân chủ yếu của các đợt cấp là do nhiễm khuẩn Tác nhân gây bệnh thay đổi tùy theo số lượng bệnh nhân tại mỗi khoa phòng, thời gian nằm viện,

Trang 2

điều trị kháng sinh trước đó Đã có nhiều nghiên

cứu cho thấy sự gia tăng đề kháng kháng sinh

của vi khuẩn gây đợt cấp BPTNMT làm giảm

hiệu quả điều trị là thách thức lớn trong thực

hành lâm sàng, đặc biệt đối với các khoa Nội Hô

Hấp Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm:

1 Tỉ lệ các vi khuẩn Gr (-) gây đợt cấp

BPTNMT

2 Đánh giá sự đề kháng kháng sinh của các

vi khuẩn này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Bệnh nhân ≥ 60 tuổi được chẩn đoán đợt cấp

BPTNMT nhập điều trị tại khoa Nội Hô hấp

bệnh viện Thống Nhất từ tháng 01/2014 đến

tháng 06/2015, theo tiêu chuẩn của GOLD 2009,

có kết quả cấy định lượng đàm (+) với vi khuẩn

Gr (-)

Tiêu chuẩn loại trừ

Hen phế quản, cơn suy tim cấp, tràn khí

màng phổi, tràn dịch màng phổi, thuyên tắc

phổi

Phương pháp

Mô tả cắt ngang, tiến cứu

Xử lý số liệu

Sử dụng bệnh án mẫu, thu thập số liệu từ các

bảng theo dõi bệnh nhân, các xét nghiệm có

trong bệnh án Xử lý số liệu bằng phần mềm

SPSS 16.0 for Window

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu

dung được 152 bệnh nhân có kết quả cấy đàm

dương tính với vi khuẩn Gr (-): Nam chiếm

90,8% (138/152), nữ 9,2% (14/152)

Tuổi trung bình 77,4 ± 7,1 (61 đến 99 tuổi),

nhóm tuổi hay gặp nhất từ 70-79 (58,6%, 89/152)

(biểu đồ 1)

Biểu đồ 1: Phân bố theo nhóm tuổi

Vi khuẩn Gr (-) gây đợt cấp BPTNMT

Bảng 1: Tỉ lệ vi khuẩn Gr (-) gây đợt cấp BPTNMT

Vi khuẩn Số lần phân lập %

P aeruginosa 48 31,6

A baumannii 46 30,3

K pneumoniae 44 28,9

Nhận xét: Trong 152 bệnh nhân cấy đàm

định lượng dương tính với vi khuẩn Gr (-): P

aeruginosa 31,6%, A baumannii 30,3%, K pneumonia 28,9%, E coli 7,2% và Enterobacter

1,9% (bảng 1)

Phân bố vi khuẩn gây đợt cấp BPTNMT được trình bày trong ở biểu đồ 2

Biểu đồ 2: Phân bố vi khuẩn theo mức độ tắc nghẽn

Nhận xét: Giai đoạn tắc nghẽn nặng và rất

nặng tỉ lệ cấy khuẩn dương tính cao (p < 0.05)

Trang 3

Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Bảng 2: Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Gr(-)

gây đợt cấp BPTNMT

Kháng sinh P a

%, n

A b

%, n

K p

%, n

Amoxicillin/

a.clavulanic

93,3 43/45 100 44/44 83,3 35/42 Piperacillin/

Tazobactam

68,9 31/45 100 44/44 83,3 35/42 Ticarcillin/

a.clavulanic

75,5 34/45 100 44/44 76,2 32/42 Amikacin 66,7 30/45 88,6 39/44 57,1 24/42

Gentamycin 77,8 35/45 93,2 41/44 57,1 24/42

Imipenem 21,7 10/46 60,0 27/45 12,8 5/39

Meropenem 10,8 5/46 8,3 3/36 0

Cefoperazone 75,5 34/45 100 35/35 64,3 27/42

Cefoperazon/

Sulbactam

75,5 34/45 100 35/35 64,3 27/42 Cefotaxime 81,3 39/48 100 44/44 64,3 27/42

Cefepime 70,8 34/48 100 44/44 54,8 23/42

Ceftazidime 62,5 30/48 93,2 41/44 40,5 17/42

Ceftriaxone 62,5 30/48 93,2 41/44 40,5 17/42

Ofloxacin 81,3 39/48 93,2 41/44 100 42/42

Ciprofloxacin 81,3 39/48 93,2 41/44 100 42/42

Pefloxacin 77,1 37/48 93,2 41/44 92,9 39/42

Levofloxacin 10,8 5/46 88,6 39/44 73,8 31/42

Azithromycin 100 42/42 100 44/44 100 39/39

Trimethoprim/Sulfa-methoxazon

100 42/42 100 44/44 100 39/39 Colistin 13,2 5/38 16,7 6/36 24,1 7/29

Nhận xét: P aeruginosa kháng Cephalosporin

thế hệ 3, 4 từ 62,5- 81,3%; kháng Colistin 13,2%,

kháng Piperacillin/ Tazobactam 68,9%;

Ticarcillin/ a.clavulanic 75,5% Kháng Imipenem

21,7%, Meropenem 10,8% và kháng Colistin

13,2%

A baumannii kháng gần như toàn bộ với các

loại kháng sinh: kháng Cephalosporin thế hệ 3, 4

từ 93,2 - 100%, kháng 100% với Piperacillin/

Tazobactam và Ticarcillin/ a.clavulanic, kháng

Aminosides và Quinolones từ 88,6 - 93,2% Tỉ lệ

kháng với Imipenem 60%, Meropenem 8,3% và

kháng Colistin 16,7%

K pneumoniae kháng với cephalosporin thế

hệ 3 - 4 từ 40,5 - 64,3%; kháng Amikacin 57,1%;

kháng Piperacillin/ Tazobactam 83,3% và

hợp, cả 5 trường hợp K pneumoniae sinh ESBL)

Kháng colistin 24,1%

BÀN LUẬN

Nhóm tuổi hay gặp nhất là từ 70-79 (58,6%, 89/152), tuổi trung bình 77,4 ± 7,1 tuổi (61 đến 99 tuổi) (biểu đồ 2), tương tự với kết quả của một số nghiên cứu trước đây, đợt cấp BPTNMT thường gặp ở lứa tuổi 70 - 79 tuổi, ở Châu Á tỉ lệ nhập viện vì đợt cấp BPTNMT của bệnh nhân trên 75 tuổi cao hơn so với nhóm 65 - 74 tuổi(4,12,14)

Vi khuẩn gây đợt cấp BPTNMT

Trong 152 bệnh nhân cấy đàm định lượng dương tính với vi khuẩn Gr (-), tỉ lệ P aeruginosa 31,6%, A baumannii 30,3%, K

pneumonia 28,9%, E coli 7,2% và Enterobacter

1,9% (bảng 1) Tương tự với kết quả của một số nghiên cứu trước đây(2,12), A baumannii và K pneumonia 26,2%, P aeruginosa 19,8%, E coli

11,1% Bệnh nhân lớn tuổi, bệnh mãn tính lâu ngày, có bệnh cơ bản nặng thì khả năng đáp ứng miễn dịch ban đầu giảm tạo điều kiện cho vi khuẩn tồn tại và phát triển gây ra đợt cấp Theo

y văn, gần 50% đợt cấp BPTNMT là do nhiễm khuẩn, bệnh nhân có giai đoạn tắc nghẽn nặng thường nhiễm các vi khuẩn gram âm Phù hợp với các nghiên cứu trước đây tại bệnh viện Thống Nhất vi khuẩn gram âm cũng chiếm đa số trong nhiễm khuẩn hô hấp dưới (1) BPTNMT có tắc nghẽn giai đoạn 3 hoặc 4, thời gian nằm viện dài dễ có những đợt cấp do nhiễm khuẩn, thường do vi khuẩn gram âm, đặc biệt P

aeruginosa, A baumannii và K pneumoniae khi

FEV1 < 41% (2,12,6) Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy giai đoạn tắc nghẽn nặng và rất nặng tỉ lệ cấy khuẩn dương tính cao (p < 0.05)

(biểu đồ 3) P aeruginosa trong nghiên cứu của

chúng tôi là vi khuẩn có tỉ lệ cao đứng hàng đầu chiếm tỷ lệ 31,6%, cao hơn so với các nghiên cứu trong nước (12), có lẽ trong mẫu nghiên cứu chúng tôi có nhiều bệnh nhân BPTNMT do xơ phổi, dãn phế quản nên khả năng thường trú của vi khuẩn cao và gây bệnh khi có điều kiện thuận

Trang 4

khuẩn mà theo một số các tác giả nước ngoài cho

rằng thường gặp ở bệnh nhân có giai đoạn tắc

nghẽn nặng và tần suất có thể gia tăng trong

những năm tới(6) Kết quả phân lập được K

pneumoniae của chúng tôi (26,2%) cao hơn kết

quả của các tác giả khác Theo các tác giả nước

ngoài thì K pneumoniae cũng là vi khuẩn thường

gặp trong đợt cấp BPTNMT ở những bênh nhân

có giai đoạn tắc nghẽn nặng Cũng giống như

Acinetobacter spp, tỷ lệ nhiễm K pneumoniae có xu

hướng tăng nhanh và là điều đáng báo động cho

các bác sĩ lâm sàng

Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Pseudomonas aeruginosa

Tình hình đề kháng đa kháng sinh của P

aeruginosa được ghi nhận trong một số nghiên

cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy sự gia

tăng về tình hình nhiễm khuẩn do P aeruginosa

cũng như khả năng kháng lại kháng sinh của vi

khuẩn này gây nên, làm tăng tỉ lệ bệnh tật, tăng

tỉ lệ tử vong và tăng chi phí điều trị Trong

nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ kháng thuốc của

P aeruginosa là khá cao: kháng Cephalosporin

thế hệ 3, 4 từ 62,5- 81,3%; kháng Colistin 13,2%,

kháng Piperacillin/ Tazobactam 68,9%;

Ticarcillin/ a.clavulanic 75,5% (bảng 3) Kết quả

của chúng tôi có sự đề kháng cao hơn so với tổng

kết của Bộ Y Tế (2004), P aeruginosa kháng

Ceftriaxone 62%, Ceftazidime 46%, kháng

Amikacin 33%, Gentamycine 64% và

Ciprofloxacine 45% (10) So với kết quả trong vài

nghiên cứu gần đây được thực hiện tại các bệnh

viện lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, tình hình

kháng thuốc của P aeruginosa trong nghiên cứu

của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu tại

bệnh viện Thống Nhất nhưng cao hơn kết quả

nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy(14,1) Chúng tôi

ghi nhận tỉ lệ kháng Imipenem là 21,7%, trong

khi đó tình hình kháng Imipenem rất cao trong

nghiên cứu khác từ 40-80%(8) P aeruginosa có

hàng rào ngăn cản tính thấm ở màng ngoài

lipopo-lysaccharide nên có khả năng kháng

thuốc tự nhiên Vì vậy, rất dễ đề kháng với nhiều

loại kháng sinh Một số nghiên cứu còn cho thấy

Pseudomonas còn mang các plasmid kháng kháng

sinh và các yếu tố di truyền này có thể được lan truyền trong quần thể thông qua hiện tượng tải nạp và giao nạp, tạo ra những dạng đột biến kháng thuốc mới Các kháng sinh ưa nước vẫn đi

qua được các kênh dẫn nước (porin), nhưng P aeruginosa không có kênh dẫn nước có tính thấm

cao, nên kháng thuốc đối với hầu hết kháng sinh Một số nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy tỉ lệ đề kháng của P aeruginosa khác nhau giữa các nước Trong nghiên cứu của chúng tôi, mức độ

nhạy cảm của P aeruginosa với Imipenem còn

78,3%, Meropenem 89,2% và Colistin 86,8% (bảng 3) Nghiên cứu Pseudomonas phân lập được tại khoa cấp cứu BV Bệnh Nhiệt Đới có mức đề kháng thấp với ceftazidim và họ carbapenem so với các nghiên cứu trong nước(13) Theo nghiên cứu của Phạm Hùng Vân và nhóm Midas, tỉ lệ kháng với imipenem và meropenem lần lượt là 20,7% và 15,4%(13) Pseudomonas tại

bệnh viện Trưng Vương có tỉ lệ đề kháng Imipenem cao đến 50%(4) Theo Kathrin Engler,

nhiễm P aeruginosa làm gia tăng tần suất và mức

độ nặng của đợt cấp BPTNMT, P aeruginosa

kháng aminosides từ 36 - 48%, penicillin phổ rộng 24 - 28%, carbapenem 24% và fluoroquinolon 20 - 28%(14)

Acinetobacter baumannii

Vi khuẩn Acinetobacter gây bệnh cơ hội ở

những người bị suy giảm sức đề kháng và những bệnh nhân lớn tuổi Trong nghiên cứu

của chúng tôi, tỉ lệ kháng kháng sinh của A baumanii là rất cao: kháng Cephalosporin thế hệ

3, 4 từ 93,2 - 100%, kháng 100% với Piperacillin/ Tazobactam và Ticarcillin/ a.clavulanic, kháng Aminosides và Quinolones từ 88,6 - 93,2% Tỉ lệ kháng với Imipenem 60%, Meropenem 8,3% và kháng Colistin 16,7% (bảng 3) Trong hơn một

thập niên gần đây, A baumanii ngày càng chứng

tỏ là một tác nhân hàng đầu gây đợt cấp BPTNMT, đặc biệt ở những bệnh nhân có FEV1

thấp Một số nghiên cứu cho thấy A baumannii

có tốc độ kháng thuốc nhanh và mức độ kháng

Trang 5

thuốc rất cao Do dùng kháng sinh phổ rộng, đặc

biệt là họ cephalosporin III đã được ghi nhận

làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn Acinetobacter và

Pseudomonas đa kháng trong đường hô hấp Hai

lọai vi khuẩn này đã xuất hiện kháng với nhiều

họ kháng sinh, ngay cả với các kháng sinh phổ

rộng mới Tỉ lệ A baumanii kháng Imipenem

trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với

kết quả của một số nghiên cứu trong thập niên

trước từ 4,4-24,7%, nhưng tương tự với một số

nghiên cứu khác gần đây từ 51-88,6%(11,14)

Klebsiella pneumoniae

Trong nghiên của chúng tôi, K pneumoniae

kháng với cephalosporin thế hệ 3 - 4 từ 40,5 -

64,3%; kháng Amikacin 57,1%; kháng

Piperacillin/ Tazobactam 83,3% và

Ticarcillin/a.clavulanic 76,2%; kháng Quinolone

từ 73-100% Kháng colistin 24,1% (bảng 3) Theo

báo cáo của chương trình theo dõi sự đề kháng

kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh thường

gặp ở Việt Nam: ASTS năm 2004 và 2005, tình

hình đề kháng kháng sinh của các chủng K

pneumoniae phân lập được tại các tỉnh thành

trong cả nước đang ở mức báo động, kháng với

các Penicillin từ 42,3 - 96,5%, kháng với

Cephalosporin từ 24,2-66,5%, kháng Quinolone

xấp xỉ 32%(10) Hiện nay K pneumoniae là vi khuẩn

đang được quan tâm trên toàn thế giới do khả

năng sản xuất men kháng β lactamase phổ rộng

(ESBLs), trên lâm sàng carbapenem thường được

sử dụng để điều trị, Trong nghiên cứu này,

chúng tôi ghi nhận có 5 trường hợp K

pneumoniae sinh ESBL và cả 5 trường hợp này

đều kháng với Imipenem, chiếm 12,8% Một số

nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy

tỉ lệ K pneumonia kháng Imipenem từ 25-53,5%,

có lẽ trong dân số nghiên cứu có tỉ lệ K

pneumonia sinh ESBL cao Các nghiên cứu khác

cũng ghi nhận tỉ lệ K pneumoniae kháng với

carbapenem ở bệnh nhân BPTNMT (47,1%) cao

hơn so với nhóm chứng (28,3%), với p=0,04(6)

Nhìn chung, 3 vi khuẩn gram âm thường

các tác nhân thường gặp gây nhiễm khuẩn bệnh viện Cả 3 vi khuẩn này đều đề kháng cao với các kháng sinh phổ rộng và với các kháng sinh chuyên biệt nhóm Carbapenem Một kết quả

khảo sát gần đây cho thấy E.Coli và Klebsiella

vẫn duy trì độ nhạy cảm ở MIC rất thấp đối với Meronem, trong khi MIC đối với Imipenem đã tăng cao nhiều lần Hơn thế nữa, đối với các

chủng đa kháng hiện nay, Pseudomonas vẫn

nhạy cảm tốt hơn rõ rệt với Meronem, trong khi

đó, kết quả chung của Châu Á Thái Bình Dương cho thấy MIC của Acinetobacter đối với các carbapenem đã cao đáng báo động riêng tại Việt Nam, MIC của Meronem hiện là 64, trong khi đó MIC đối với Imipenem đã cao gấp đôi,

128 mg/L(8)

KẾT LUẬN

Tác nhân gram âm gây đợt cấp BPTNMT chủ yếu là P aeruginosa 31,6% Tiếp theo A baumannii và K pneumoniae lần lượt 30,3% và 28,9%

Cephalosporine và Fluoroquinolones bị đề kháng trên 60% với tất cả các chủng vi khuẩn gây bệnh P aeruginosa và K pneumoniae kháng thấp với Imipenem, nhưng A baumannii

kháng 60%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 ATS (2005) Guidelines for the management of adult with hospital required, ventilator-associated, and healthcare-associated pneumonia 2004 Am J Respir Crit Care Med Vol

171, pp 388–41

2 Cao Văn Hội (2008) "Vi trùng học trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương" Luận án

Thạc sỹ y học, (Đại học Y dược TP.HCM), tr.45-111

3 Chawla K, et al (2008) "Bacteriological Profile and their Antibiogram from Cases of Acute Exacerbations of Chronic Obstructive Pulmonary Disease: A Hospital Based Study"

Journal of Clinical and Diagnostic Research, 2, pp.612-616

4 Đỗ Quyết và cs (2009) “Nguyên nhân VK giai đoạn đầu và

sau đợt bùng phát BPTNMT” Tạp chí nội khoa, báo cáo khoa học

lần thứ VI Hội nội khoa Việt Nam, số 2/2014, tr 216-20

5 Đoàn Mai Phương (2011) Đánh giá mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập tại Bệnh viện Bạch

Mai trong 3 năm 2008-2009-2010 Y học lâm sàng: 193-199

6 Engler K, et al (2012) "Colonisation with Pseudomonas aeruginosa and antibiotic resistance patterns in COPD

patients" Swiss Med Wkly, 142, pp.1-9

Trang 6

8 Kiratisin et al (2012) Results of Asia-Pacific surveillance from

the COMPACT II study Int J Antimicrob Agents: 39; 311-6

9 Lê Tiến Dũng (2007) "Khảo sát đặc điểm và sự đề kháng

invitro của vi khuẩn gây viêm phổi trong đợt kịch phát COPD

tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2005-2006" Y học TP

Hồ Chí Minh, 11, (1), tr.188-192

10 Nguyễn Đức Hiền và cs (2006) “Báo cáo sự đề kháng kháng

sinh của VK thường gặp tại Việt Nam” Bộ Y Tế ASTS, tr

123-31

11 Nguyễn Phú Hương Lan và cs (2010) “Đánh giá sự đề kháng

kháng sinh của Acinetobacter và Pseudomonas phân lập được

tại BV Bệnh Nhiệt Đới năm 2010” Thời sự Y học 3/2012 - Số 68,

tr 9-12

12 Nguyễn Thị Ngọc Hảo (2009) "Đặc điểm vi khuẩn học trên

bệnh nhân nhập viện vì đợt kịch phát cấp tính của bệnh phổi

tắc nghẽn mãn tính" Luận văn tốt nghiệp BS nội trú, ĐHYD

TpHCM

13 Phạm Thị Phương Oanh và cs (2012) “Khảo sát tình hình

nhiễm khuẩn trên bệnh nhân đợt cấp BPTNMT tại khoa A2

bệnh viện Thồng Nhất từ 7/2010-7/2011” Y Học TP Hồ Chí

Minh, 16, (1), tr.254-59

14 Vũ Thị Kim Cương, Lê Thị Kim Nhung (2012) "Tính kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp dưới từ

1/2011-31/12/2011 tại bệnh viện Thống Nhất." Y học TP Hồ Chí

Minh- chuyên đề lão khoa, số 2, tr.89-93

15 Xiang LL, Ying Z (2010) "Antibiotic Resistance and Clinical

Characteristics of Pulmonary Infection Induced by Acinetobacter baumannii in Patients with Chronic Obstructive

Pulmonary Disease" Chinese Journal of Nosocomiology, 6, pp

12-16

Ngày nhận bài báo: 01/07/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/07/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2015

Ngày đăng: 14/01/2020, 22:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w