1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tính hiệu quả, an toàn của phương pháp cấy máy phá rung trong điều trị loạn nhịp thất

7 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 573,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loạn nhịp thất nguy hiểm là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân mắc bệnh tim mạch. Cấy máy phá rung trong cơ thể là phương pháp tỏ ra rất có hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ đột tử do loạn nhịp thất. Do đó, ACC/AHC/HRS năm 2008 đã đưa ra chỉ định cấy máy phá rung nhằm mục đích phòng ngừa tiên phát và thứ phát đột tử do tim.

Trang 1

PHÁ RUNG TRONG ĐIỀU TRỊ LOẠN NHỊP THẤT 

 Tôn Thất Minh*, Nguyễn Văn Yêm*  

TÓMTẮT 

Mở đầu: Loạn nhịp thất nguy hiểm là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân 

mắc bệnh tim mạch. Cấy máy phá rung trong cơ thể là phương pháp tỏ ra rất có hiệu quả trong việc làm giảm  nguy cơ đột tử do loạn nhịp thất. Do đó, ACC/AHC/HRS năm 2008 đã đưa ra chỉ định cấy máy phá rung nhằm  mục đích phòng ngừa tiên phát và thứ phát đột tử do tim. Ở Việt Nam, có khoảng gần 300 bệnh nhân được cấy  máy phá rung.Tuy nhiên rất ít nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả cũng như tính an toàn của phương pháp này. 

Đối tượng và phương pháp: Báo cáo hàng loạt ca, thực hiện trên 87 BN được cấy máy phá rung tại Viện 

tim thành phố Hồ Chí Minh và bệnh Viện tim Tâm Đức, từ tháng 5/2005 đến tháng 5/2013. 

Kết quả: Biến chứng chung do cấy máy phá rung là 43,7%. Biến chứng sớm xảy ra sau cấy máy là 11,5%: 

1 ca thủng tim mổ cấp cứu, 2 ca nhiễm trùng vết mổ, 1 ca nhiễm trùng huyết, 1 ca viêm phổi bệnh viện, 1 ca bị  xoắn  dây,1  ca  bị  hội  chứng  máy  tạo  nhịp.  Biến  chứng  muộn  32,2%,với  biến  chứng  sốc  lầm  chiếm  tỷ  lệ  cao  (27,5%), loại loạn nhịp gây ra sốc lầm nhiều nhất là rung nhĩ (54,2%). Có 3 ca bị bão điện thế với 1 ca do diễn  tiến bệnh và 2 ca do bị đứt dây điện cực. Hiệu quả của máy phá rung: Tỷ lệ tử vong trong nhóm bệnh nhân suy  tim là 9,4%.Trong nhóm không suy tim, không ghi nhận bệnh nhân nào bị tử vong. Tần suất hoạt động của máy  phá rung là 57,5%, cắt nhịp nhanh thất thành công bằng kích thích vượt tần số (overdriving) là 86,5%, cắt nhịp  nhanh thất thành công bằng lập trình chống cơn nhịp nhanh (ATP One Shot) là 76,4%, đánh sốc thành công là  94,5%. Tính an toàn của máy phá rung: có 2 bệnh nhân bị sốc trong khi đang lái xe (2,3%),1 bệnh nhân bị sốc  khi đang tập tạ (1,1%). 

Kết luận: Máy phá rung chứng tỏ rất có hiệu quả trong phòng ngừa đột tử do loạn nhịp thất và an toàn cho 

bệnh nhân trong sinh hoạt hàng ngày. 

Từ khóa: cắt cơn nhịp nhanh thất bằng kích thích tim vượt tần số, lập trình chống  cơn nhịp nhanh, biến 

chứng sớm, biến chứng muộn, sốc lầm, bão điện thế  

ABSTRACT 

EFFICACY, SAFETY OF IMPLANTABLE CARDIOVETER DEFIBBRILATOR IN THREATENING 

ARRHYTHMIAS VENTRICULAR TREATMENT 

Ton That Minh, Nguyen Van Yem  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 – 2014: 193 – 199  

Background:  Threatening  ventricular  arrhythmia  is  one  of  most  important  reason  causes  cardiac  death. 

Implantable cardioverter defibrillator (ICD) is effective to prevent sudden cardiac arrest caused by threatening  ventricular  arrhythmia.  Hence,  from  2008,  ACC/AHC/HRS  have  indicated  ICD  to  prevent  primary  and  secondary sudden cardiac arrest. In VietNam, nearly 300 of patients have been inplanted ICD. However, efficacy  and safety of this method have to study continously. 

Subjects and method: Multi cases report, study has been performed on 87 patients implanted ICD at Ho 

Chi Minh Heart Institute và Tam Duc Cardiac hospital from May 2005‐ May 2013. 

* Bệnh Viện Tim Tâm Đức 

Tác giả liên lạc: BS Trần Van Yêm   ĐT: 0913765504   Email: yemvientim@yahoo.com 

Trang 2

patients  were  infected  incision,  1  sepsis,  1  hospital  acquired  pneumonia,  1  twister  syndrome,  1  pacemaker  syndrome. Late complicatios was 32.2%, including: inappropriate shock (27.5%) and most frequently cause was  atrial fribrillation(54.2%). 3 patients had  voltage storm caused by lead rupture (2 cases) and progresstive heart  failure  (1  case).  Efficacy  of  ICD  :  mortality  in  heart  faillure  and  non  heart  faillure  groups  is  9.4%  and  0%.  Tachycardia  treatment  frequency  was  57.5%,  overdriving  was  86.5%,  ATP  One  Shot  was  76.4%,  shock  are  94.5%. Safety of ICD: there are two patients with  shock  when they are driving (2.3%) and other one when he is  weight lifting (1.1%). 

Conclusion:  ICD  provide  efficacy  and  safety  to  prevent  sudden  cardiac  death  caused  by  threatening 

ventricular arrhythmias  

Keyword:  implantable  cardioveter  defibrilator,  overdriving,  ATP  one  shot,  shock,  inappropriate  shock, 

voltage storm 

ĐẶTVẤNĐỀ 

Bệnh  lý  tim  mạch  là  nguyên  nhân  gây  tử 

vong hàng đầu ở các nước phát triển, cũng như 

các nước đang phát triển. Theo thống kê của Tổ 

Chức Y tế Thế Giới, mỗi năm có khoảng 17 triệu 

người tử vong do bệnh tim mạch, chiếm 1/3 các 

trường hợp tử vong trên toàn thế giới(8). Ở Mỹ, 

mỗi năm có khoảng 350.000 trường hợp bị loạn 

nhịp thất nặng, 2/3 số bệnh nhân tử vong trước 

khi  đến  bệnh  viện(5).  Từ  thập  niên  1980,  Michel 

Mirowski  và  các  cộng  sự  là  người  tiên  phong 

trong  việc  cắt  cơn  loạn  nhịp  thất  bằng  thiết  bị 

cấy  vào  cơ  thể,  gọi  là  ICD  (implantable 

cardioveter defibrilation). Chiếc máy này là công 

cụ đắc lực giúp bảo vệ bệnh nhân trước những 

cơn  loạn  nhịp  thất  nguy  hiểm,  với  năng  lượng 

đánh  sốc  thấp  hơn  máy  phá  rung  ngoài  cơ  thể 

đến 10 lần(9,11). Đầu thế kỷ 21, trên toàn thế giới, 

mỗi  năm  có  khoảng  100  ngàn  bệnh  nhân  được 

cấy  máy  phá  rung(5).  Nhiều  nghiên  cứu  đã 

chứng minh được máy phá rung cắt cơn rối loạn 

nhịp thất hiệu quả đến 98%(17). Hiệu quả phòng 

ngừa  đột  tử  tiên  phát  hoặc  thứ  phát  do  loạn 

nhịp thất của ICD ngày càng có nhiều công trình 

nghiên cứu chứng minh như: nghiên cứu CASH, 

CIDS,  AVID,  MADIT  1,  MUSTT,  SCDHeFT  …, 

vượt  trội  so  với  nhóm  bệnh  nhân  chỉ  sử  dụng 

thuốc chống loạn nhịp(3,5,7,9,12). Do đó, khuyến cáo 

của  ACC/AHA/HRS  năm  2008  đã  chỉ  định  cấy 

máy phá rung nhằm mục đích phòng ngừa tiên 

phát và thứ phát đột tử do tim(1). Ở Việt Nam, có 

khoảng  gần  300  bệnh  nhân  đã  được  cấy  máy 

phá  rung,  nhưng  các  đề  tài  nghiên  cứu  về  tính  hiệu quả và an toàn của phương pháp này còn  rất ít. Vì vậy, đó là động lực thúc đẩy chúng tôi  làm đề tài nghiên cứu này.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Khảo  sát  các  biến  chứng  sớm,  biến  chứng  muộn, tính hiệu quả, tính an toàn của máy phá  rung trong điều trị loạn nhịp thất.  

ĐỐITƯỢNG‐PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chuẩn nhận bệnh 

Tất cả bệnh nhân được cấy máy phá rung tại  Viện tim Thành Phố Hồ Chí Minh và Bệnh Viện  tim Tâm Đức, từ tháng 5/2005 đến tháng 5/2013. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh nhân mất theo dõi. 

Phương pháp nghiên cứu 

Báo cáo hàng loạt ca. 

Phương  pháp  tiến  hành:  Lấy  mẫu  liên  tục  dựa vào hồi cứu hồ sơ bệnh án và tham khảo dữ  liệu  lưu  trữ  từ  máy  phá  rung.  Phỏng  vấn  bệnh  nhân,  thân  nhân,  bác  sĩ  khám  theo  dõi  và  cấy  máy, chuyên viên lập trình máy. 

KẾTQUẢ 

Trong  thời  gian  từ  tháng  5/2005  đến  tháng  5/2013,  chúng  tôi  đã  đưa  vào  nghiên  cứu  tổng  cộng  87  đối  tượng  cấy  máy  phá  rung  tại  Viện  Tim Tp.HCM và Bệnh viện tim Tâm Đức.  Thời  gian theo dõi trung bình là: 36,2 ± 2,6 tháng. 

Trang 3

Tuổi trung bình là 52,3 ± 14 tuổi, thấp nhất là 

15 tuổi và cao nhất là 86 tuổi. 

Tuổi trung bình của nam là 50,6 ± 13,8 tuổi, 

thấp nhất là 15 tuổi và cao nhất là 85 tuổi. 

Tuổi  trung  bình  của  nữ  là  60,3  ±  12,8  tuổi, 

thấp nhất là 41 tuổi và cao nhất là 86 tuổi. 

Nhóm  tuổi  có  tỷ  lệ  cấy  máy  phá  rung  cao  nhất  là  50  –  59  tuổi  (34,5%),  nhóm  tuổi  có  tỷ  lệ  cấy máy phá rung thấp nhất là ≥ 80 tuổi (3,4%). 

Tỷ lệ nam : nữ là 4,8 : 1 

Đặc điểm lâm sàng  

< 60 tuổi

≥ 60 tuổi

Mẫu NC

5.80% 

10.30% 

16.10% 

6.90% 

12.60% 

19.50% 

15% 

3.40% 

18.40% 

39% 

5.80% 

44.80% 

Khác Nhịp nhanh thất vô căn Loạn sản thất phải

HC QT dài

HC Brugada BCTDN BCTTMCB Sau NMCT

 

Biểu đồ 1: Bệnh lý nền gây nên loạn nhịp thất 

Bệnh  nhân  với  bệnh  lý  nền  là  hội  chứng  Brugada nhiều nhất trong mẫu nghiên cứu 

Siêu âm tim 

Bảng 1: Chỉ số trung bình trên siêu âm tim 

BCTTMCB và BCTDN Nhóm bệnh còn lại Toàn bộ mẫu nghiên cứu

Đường kính thất trái cuối tâm trương

Phân  xuất  máu  trung  bình  của  nhóm  bệnh 

nhân suy tim < 35%. 

Đường kính thất trái cuối tâm trương trung  bình của nhóm bệnh nhân suy tim >60 mm. 

Chỉ định cấy máy phá rung 

Bảng 2: Chỉ định cấy máy phá rung theo mục tiêu phòng ngừa 

Chỉ định Mục tiêu phòng ngừa Tổng cộng

Trang 4

Chỉ định Mục tiêu phòng ngừa Tổng cộng

Nhóm  bệnh  nhân  >60  tuổi,  bệnh  nhân  với 

bệnh lý nền là hội chứng Brugada chiếm tỉ lệ cao 

(35,6%). 

Nhóm bệnh nhân > 60 tuổi, bệnh nhân  với 

bệnh lý nền là BCTTMCB nhiều nhất (11,5%). 

Biến chứng 

Bảng 3: Biến chứng sớm 

Biến chứng sớm Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)

Thủng tim mổ cấp cứu 1 1,1

Hội chứng máy tạo nhịp 1 1,1

Tụ máu túi máy là biến chứng sớm  thường 

gặp nhất sau khi cấy máy 

Bảng 4: Biến chứng muộn 

Biến chứngmuộn Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)

Sốc lầm 24 27,5

Biến  chứng  muộn  thường  gặp  nhất  là  sốc 

lầm. 

Bảng 5: Phân bố loại loạn nhịp trên thất gây sốc lầm 

Loạn nhịp trên thất Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)

Nhịp nhanh kịch phát trên thất 6 25

Loại loạn nhất gây ra sốc lầm nhiều nhất là 

rung nhĩ, kế đến là nhịp nhanh xoang  Không có mối tương  quan  giữa  biến  chứng  sớm, biến chứng muộn với các yếu tố: tuổi, giới  tính, phân suất tống máu, mục tiêu phòng ngừa,  tính chất máy, phương pháp và vị trí túi máy.  Hiệu quả của máy phá rung: hiệu suất hoạt 

động của máy phá rung 57,5%. 

Bảng 6: Hiệu quả của máy phá rung 

Số lần Thành công Thất bại Tổng cộng

Kích thích tim vượt tần số (Overdriving) 96 (86,5%) 15 (13,5%) 111 Lập trình kháng cơn

nhịp nhanh thất (ATP One Shot)

136 (76,4%) 42 (23,6%) 178

Sốc phá rung 120 (94,5%) 7 (5,5%) 127 Tổng hợp 352 (84,6%) 64 (15,4%) 416

Máy phá rung cắt cơn nhịp nhanh thất bằng  ATP One Shot thành công thấp 

Máy phá rung    cắt  cơn  loạn  nhịp  thất  bằng  đánh sốc rất hiệu quả(94,5%) 

Không có mối tương quan giữa hiệu quả của  máy  phá  rung  với  các  yếu  tố:  tuổi,  giới  tính,  phân suất tống máu và bệnh lý nền. 

Tính an toàn của máy phá rung: 

Có  2 bệnh nhân máy đánh sốc khi đang lái 

xe (2,3%). 

Có 1 bệnh nhân  máy đánh sốc khi đang tập 

tạ. 

Tử vong: kết quả nghiên cứu ghi nhận có 3  trường hợp tử vong  

Bảng 7: Tử vong sau cấy máy phá rung 

Tử vong Bệnh nền PXTM Nguyên nhân Loại máy Mục tiêu phòng ngừa Thời gian sau đặt máy

Nguyên  nhân  tử  vong  là  do  suy  tim  tiến 

triển  ở  bệnh  nhâncó  bệnh  lý  nền  BCTTMCB, 

BCTDN 

Các bệnh nhân đều có PXTM thấp, thất trái 

dãn quá nặng 

BÀNLUẬN 

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung 

Trang 5

14  tuổi,  tương  tự  của  tác  giả  Nguyễn  Thanh 

Huân, cao hơn của tác giả Charles và cộng sự(4). 

Tỉ  lệ  bệnh  nhân  được  cấy  máy  phá  rung  nhiều 

nhất trong nhóm tuổi từ 50‐59 tuổi (34,5%). Bệnh 

nhân  trên  60  tuổi  chiếm  25,3%.  Bệnh  nhân  cấy 

máy phá rung ở nam cao hơn ở nữ, tỉ lệ này là 

4,8: 1, tỉ lệ nam cũng luôn chiếm tỉ lệ cao hơn nữ 

trong từng nhóm tuổi, kết quả này tương tự các 

tác giả khác(4,12). Đa số bệnh nhân nằm viện sau 

cấy máy dưới 7 ngày (62,1%), tuy nhiên số ngày 

nằm viện này quá lâu, theo y văn, nếu không có 

tai biến, bệnh nhân có thể xuất viện sau 24 giờ. 

Bệnh  nhân  được  chỉ  định  cấy  máy  đa  số  là  do 

loạn nhịp thất gây ngất (39,1%) cao hơn của tác 

giả  Moss(12),  kế  đến  là  đột  tử  được  cứu  sống 

(19,5%). Bệnh nhân được cấy máy phá rung với 

bệnh lý nền là suy tim trong nhóm nghiên cứu 

của chúng tôi là 37,9%, kết quả này thấp hơn tác 

giả  Kuck(9),  nghiên  cứu  của  họ  có  phòng  ngừa 

tiên phát trên bệnh nhân suy tim chiếm tỉ lệ cao, 

điều  kiện  bệnh  nhân  Việt  nam  với  kinh  tế  khó 

khăn,  chỉ  định  cấy  máy  chủ  yếu  là  để  phòng 

ngừa  thứ  phát  (73,6%).  Bệnh  nhân  có  bệnh  lý 

nền là hội chứng Brugada chiếm tỉ lệ 44,8%, kế 

đến là BCTTMCB và BCTDN, mỗi nhóm chiếm 

18,4%, còn lại là các bệnh lý nhịp nhanh thất sau 

nhồi  máu  cơ  tim,  nhịp  nhanh  thất  vô  căn,  hội 

chứng QT dài, hội chứng QT ngắn, loạn sản thất 

phải gây loạn nhịp…Máy phá rung phòng ngừa 

đột tử tập trung vào nhóm bệnh nhân  suy tim 

và  bệnh  nhân  bị  hội  chứng  Brugada.  Trong 

nhóm  bệnh  nhân  suy  tim,  phân  xuất  tống  máu 

trung bình là 25,8± 7,9, đường kính thất trái cuối 

tâm trương trung bình là 65,8 ±77 mm, tương tự 

với tác giả Bardy(2). Biến chứng sớm sau cấy máy 

phá rung chiếm tỉ lệ 11,5% gồm: thủng tim phải 

mổ  cấp  cứu  (1,1%),  nhiễm  trùng  vết  mổ(2,3%), 

tụ máu túi máy(3,4%)…kết quả này tương tự các 

tác  giả  khác(2,5,9),  ngoại  trừ  biến  chứng  nhiễm 

trùng và tụ máu túi máy của nghiên cứu này cao 

hơn. Chúng ta cần xem xét lại vấn đề vô trùng, 

kháng sinh phòng ngừa cũng như vấn đề chăm 

sóc  hậu  phẫu.  Biến  chứng  muộn  của  máy  phá 

rung như sốc lầm chiếm tỉ lệ 27, 5%, theo các tác 

giả khác tỉ lệ thường trong khoảng 10‐27,5%(2,8,9).  Loạn  nhịp  trên  thất  gây  sốc  lầm  nhiều  nhất  là  rung nhĩ 54,2%, kế đến là nhịp nhanh nhĩ, nhịp  nhanh  xoang.  Vì  vậy,  để  hạn  chế  biến  chứng  này,  cần  phối  hợp  điều  trị  nội  khoa  tối  ưu  với  các  thuốc  kháng  loạn  nhịp  như  Cordaron,  Digoxin, ức chế beta… nhằm kiểm soát tốt tần sồ  thất.  Bão  điện  thế  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi có 3 trường hợp, chiếm tỉ lệ 3,4%, theo y văn  thế  giới,  tỉ  lệ  này  là  từ  6‐10%(1).  Nguyên  nhân  gây  ra  bão  điện  thế  là  do  có  2  bệnh  nhân  với  bệnh  lý  nền  là  suy  tim    diễn  tiến  nặng,  và  1  trường  hợp  bị  đứt  dây  điện  cực  ở  vị  trí  gần  xương  đòn,  làm  máy  phá  rung  hoạt  động  bất  thường. 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  hiệu  suất  hoạt động của máy phá rung cắt cơn loạn nhịp  thất  là  57,5%,  tương  tự  với  tác  giả  Wathen  và  Bardy(3,16). Cắt cơn nhịp nhanh thất bằng phương  pháp  kích  thích  tim  vượt  tần  số  (overdriving)  thành công là 86,5%, tương  tự  Wathen  và  cộng 

sự(16). Cắt cơn nhịp nhanh thất thành công bằng  lập trình chống cơn nhịp nhanh (ATP One Shot)  thành  công  là  76,4%,  thấp  hơn  rất  nhiều  so  với   tác giả Schaumann(15). Chúng ta cần xem lại cách  lập  trình  máy  để  hoạt  động  ATP  One  Shot  của  máy phá rung đạt được hiệu quả cao hơn nhằm  giảm được số lần  sốc  cho  bệnh  nhân  cũng  như  giữ cho pin có tuổi thọ dài hơn. Hiệu quả đánh  sốc  để  phá  cơn  loạn  nhịp  thất  thành  công  là  94,5%, tương tự các tác giả khác ( 95‐98%)(3,15,16). 

Có 3 trường hợp đánh sốc thất bại, trong đó có 2 

ca do ngưỡng phá rung tăng bất thường do diễn  tiến bệnh, 1 ca bị đứt dây điện cực, may mắn là 2  bệnh nhân có cơn loạn nhịp thất tự chấm dứt, 1  bệnh nhân phải dùng máy đánh sốc ngoài cơ thể  thành công. Về tính an toàn của máy phá rung: 

có  2  bệnh  nhân  bị  đánh  sốc  khi  đang  lái  xe(2,3%),  và  1  bệnh  nhân  bị  đánh  sốc  do  đang  tập  tạ  (1,1%).    Vậy  bệnh  nhân  mang  máy  phá  rung  thì  an  toàn  trong  sinh  hoạt  cũng  như  các  môn  thể  thao  không  đối  kháng,  cần  thận  trọng  khuyên  bệnh  nhân  cấy  máy  phá  rung  phòng  ngừa  thứ  phát  không  nên  lái  xe  trong  vòng  6  tháng sau khi cấy(1). 

Trang 6

Có  3  trường  hợp  bị  tử  vong  trong  nghiên 

cứu của chúng tôi. Tuy nhiên số bệnh nhân bị tử 

vong là do có bệnh lý nền là suy tim  diễn tiến 

nặng,  các  bệnh  nhân  này  có  PXTM  <  20%  và 

đường  kính  thất  trái  cuối  tâm  trương>  90  mm. 

Cần  cân  nhắc  chỉ  định  cấy  máy  phá  rung  cho 

nhóm bệnh nhân này vì tỉ lệ tử vong cao. 

Khảo  sát  mối  tương  quan  giữa  biến  chứng 

với các yếu tố khác: chúng tôi nhận thấy: không 

có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  biến 

chứng  với  tuổi  (p=  0,67),  giới(  p=0,14),  chỉ  định 

phòng  ngừa  (p=  0,64),  tính  chất  máy(  p=  0,9), 

PXTM  (p=  0,54),  phương  pháp  cấy(  p=  0,82),  vị 

trí  túi  máy  (p=0,33).  Tương  tự  hiệu  quả  hoạt 

động của máy phá rung, không có sự khác biệt 

có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  hiệu  quả  với  tuổi 

(p=0,93), giới (p= 0,54), PXTM (p=0,42)  Kết quả 

náy tương tự như tác giả Bardy, Hohnloser(2,8). 

KẾTLUẬN 

Qua nghiên cứu 87 trường hợp cấy máy phá 

rung để phòng ngừa đột tử do loạn nhịp thất tại 

Viện tim thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện 

tim  Tâm  Đức,  từ  tháng  5/2005‐  5/2013,  với  thời 

gian  theo  dõi  trung  bình  là  36,2±  2,6  tháng. 

Chúng  tôi  nhận  thấy    những  điểm  chính  như 

sau:  bệnh  nhân  cấy  máy  phá  rung  ở  nam  cao 

hơn nhiều so với nữ, đa số bệnh nhân được chỉ 

định cấy máy là để phòng ngừa thứ phát sau khi 

đột tử được cứu sống, sau ngất do loạn nhịp thất 

gây ra. Thời gian nằm viện sau cấy máy đa số là 

<7  ngày.  Biến  chứng  sớm  sau  cấy  máy  ít,  tuy 

nhiên  tỉ  lệ  nhiễm  trùng  và  tụ  máu  túi  máy  còn 

cao.  Biến  chứng  muộn  như  sốc  lầm  cao.  Hiệu 

quả  hoạt  động  của  máy  phá  rung  tốt,  nhưng 

hoạt  động  cắt  cơn  nhịp  nhanh  thất  thành  công 

bằng ATP One Shot còn thấp. Có 2 trường hợp 

bị sốc khi đang lái xe, nên cần tư vấn, theo dõi 

cho bệnh nhân. Các trường hợp tử vong sau cấy 

máy do bệnh lý nền là suy tim nặng với thất trái 

dãn  nhiều  và  phân  xuất  tống  máu  quá  thấp. 

Không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 

giữa  biến  chứng,  hiệu  quả  hoạt  động  của  máy 

với các yếu tố khác.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO  

1 Andrew  E,  et  al  (2008),  “ACC/AHA/HRS  Guidelines  for  Device‐ Based Therapy of Cardiac Rhythm Abnormalities: A  Report  of  the  American  College  of  Cardiology/American  Heart  Association  Task  Force  on  Practice  Guidelines”.  J  Am  Coll Cardiol, (51), pp.1‐62. 

2 Bardy  GH,  Yee  R,  Jung  W  (1996),  “Multicenter  experience  with  a  pectoral  unipolar  implantable  cardioverter‐ defibrillator”,  J Am Coll Cardiol, (28), pp.400‐410. 

3 Buxton  AE,  Lee  DL,  Fisher  JD  et  al  (1999),  “A  randomized  study  of  the  prevention  of  sudden  death  in  patients  with  coronary  artery  disease:  Multicenter  Unsustained  Tachycardia  Trial  (MUSTT)”.  N  Engl  J  Med,  (341),  pp.1882‐

1890. 

4 Corrado  D,  Antzelevitch  C, Brugada P, Borggrefe 

M, Brugada J, Brugada R,  Gussak  I, LeMarec  H, Nademanee 

K, Perez Riera AR,Shimizu W, Schulze‐Bahr E, Tan H, Wilde 

A  (2005),  “Brugada  Syndrome:  Report  of  the  Second  Consensus  Conference:  Endorsed  by  the  Heart  Rhythm  Society  and  the  European  Heart  Rhythm  Association”,  Circulation, (111), pp.659‐670. 

5 Fred  M,  Robert  E  (2008),  “Defibrillator  Function  and  Implantation”,  Cardiac  Pacing  for  the  Clinician  2nded,  Springer, pp. 339‐376. 

6 Gold  MR,  Nisam  S  (2000),  “Primary  prevention  of  sudden  cardiac  death  with  implantable  cardioverter  defibrillators:  lessons  learned  from  MADIT  and  MUSTT”,  Pacing  Clin  Electrophysiol, (23), pp.1981‐1985. 

7 Judith M, et al (2004), “Types of cardiovascular diseas”, The  Atlas  of  Heart  Disease  and  Stroke,  World  Health  Organization, pp.18‐20. 

8 Hohnloser SH, Kuck KH, Dorian P et al (2004), “Prophylactic  use  of  an  Implantable  cardioverter‐defibrillator  after  acute  myocardial  infarction  (DINAMIT)”,  N  Engl  J  Med,  (351),  pp.2481‐2488. 

9 Kuck  K,  Cappato  R,  Siebels  J  et  al  (2000),  “  Randomized  comparison of antiarrhythmic drug therapy with implantable  defibrillators in patients resuscitated from  cardiac  arrest:  the  Cardiac  Arrest  Study  Hamburg  (CASH)”,  Circulation,  (102),  pp.748‐754.  

10 Mirowski  M,  Mower  MM,  Reid  PR  (1980),  “Termination  of  malignant  ventricular  arrhythmias  with  an  implanted  automatic  defibrillator  in  human  beings”,  N  Engl  J  Med,  (303), pp.322‐324. 

11 Mirowski  M,  Mower  MM,  Reid  PR  (1980),  “The  automatic  implantable defibrillator”. Am Heart J, (100), pp.1089‐1092. 

12 Moss  AJ,  Hall  WJ,  Cannom  DS  et  al  (1996),  “Improved  survival  with  an  implanted  defibrillator  in  patients  with  coronary  disease  at  high  risk  for  ventricular  arrhythmia  (MADIT)”, N Engl J Med, (335), pp.1933‐40. 

13 Saksena  S  (1994),  “Clinical  outcome  of  patients  with  malignant  ventricular  tachyarrhythmias  and  a  multiprogrammable  implantable  cardioverter‐defibrillator  implanted  with  or  without  thoracotomy:  an  international  multicenter study”. J Am Coll Cardiol (23), pp.1521‐1530. 

14 Schaumann A, Muhlen FVZ, Herse B et al (1998), “Empirical  versus  tested  antitachycardia  pacing  in  implanted  cardioverter defibrillators: a prospective study including 200  patients”, Circulation, (97), pp.66‐74. 

15 Schwartzman  D,  Nallamothu  N,  Callans  DJ  et  al  (1995), 

“Postoperative  lead‐related  complications  in  patients  with  nonthoracotomy  defibrillation  lead  systems”,  J  Am  Coll  Cardiol, (26), pp.776‐786.  

Trang 7

16 Wathen  MS,  Sweeney  MO,  DeGroot  PJ  et  al  (2001),  “Shock 

reduction using antitachycardia pacing for spontaneous rapid 

ventricular  tachycardia  in  patients  with  coronary  artery 

disease. Circulation, (104), pp.796‐801. 

17 Zipes  DP,  Roberts  D  (1995),  “Results  of  the  international 

study  of  the  implantable  pacemaker  cardioverter‐

defibrillator: a comparison of epicardial and endocardial lead 

systems”. Circulation, (92), pp.59‐65. 

 

Ngày nhận bài báo:       01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   29/11/2013  Ngày bài báo được đăng :     05/01/2014 

 

Ngày đăng: 14/01/2020, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w