Loạn nhịp thất nguy hiểm là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân mắc bệnh tim mạch. Cấy máy phá rung trong cơ thể là phương pháp tỏ ra rất có hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ đột tử do loạn nhịp thất. Do đó, ACC/AHC/HRS năm 2008 đã đưa ra chỉ định cấy máy phá rung nhằm mục đích phòng ngừa tiên phát và thứ phát đột tử do tim.
Trang 1PHÁ RUNG TRONG ĐIỀU TRỊ LOẠN NHỊP THẤT
Tôn Thất Minh*, Nguyễn Văn Yêm*
TÓMTẮT
Mở đầu: Loạn nhịp thất nguy hiểm là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân
mắc bệnh tim mạch. Cấy máy phá rung trong cơ thể là phương pháp tỏ ra rất có hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ đột tử do loạn nhịp thất. Do đó, ACC/AHC/HRS năm 2008 đã đưa ra chỉ định cấy máy phá rung nhằm mục đích phòng ngừa tiên phát và thứ phát đột tử do tim. Ở Việt Nam, có khoảng gần 300 bệnh nhân được cấy máy phá rung.Tuy nhiên rất ít nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả cũng như tính an toàn của phương pháp này.
Đối tượng và phương pháp: Báo cáo hàng loạt ca, thực hiện trên 87 BN được cấy máy phá rung tại Viện
tim thành phố Hồ Chí Minh và bệnh Viện tim Tâm Đức, từ tháng 5/2005 đến tháng 5/2013.
Kết quả: Biến chứng chung do cấy máy phá rung là 43,7%. Biến chứng sớm xảy ra sau cấy máy là 11,5%:
1 ca thủng tim mổ cấp cứu, 2 ca nhiễm trùng vết mổ, 1 ca nhiễm trùng huyết, 1 ca viêm phổi bệnh viện, 1 ca bị xoắn dây,1 ca bị hội chứng máy tạo nhịp. Biến chứng muộn 32,2%,với biến chứng sốc lầm chiếm tỷ lệ cao (27,5%), loại loạn nhịp gây ra sốc lầm nhiều nhất là rung nhĩ (54,2%). Có 3 ca bị bão điện thế với 1 ca do diễn tiến bệnh và 2 ca do bị đứt dây điện cực. Hiệu quả của máy phá rung: Tỷ lệ tử vong trong nhóm bệnh nhân suy tim là 9,4%.Trong nhóm không suy tim, không ghi nhận bệnh nhân nào bị tử vong. Tần suất hoạt động của máy phá rung là 57,5%, cắt nhịp nhanh thất thành công bằng kích thích vượt tần số (overdriving) là 86,5%, cắt nhịp nhanh thất thành công bằng lập trình chống cơn nhịp nhanh (ATP One Shot) là 76,4%, đánh sốc thành công là 94,5%. Tính an toàn của máy phá rung: có 2 bệnh nhân bị sốc trong khi đang lái xe (2,3%),1 bệnh nhân bị sốc khi đang tập tạ (1,1%).
Kết luận: Máy phá rung chứng tỏ rất có hiệu quả trong phòng ngừa đột tử do loạn nhịp thất và an toàn cho
bệnh nhân trong sinh hoạt hàng ngày.
Từ khóa: cắt cơn nhịp nhanh thất bằng kích thích tim vượt tần số, lập trình chống cơn nhịp nhanh, biến
chứng sớm, biến chứng muộn, sốc lầm, bão điện thế
ABSTRACT
EFFICACY, SAFETY OF IMPLANTABLE CARDIOVETER DEFIBBRILATOR IN THREATENING
ARRHYTHMIAS VENTRICULAR TREATMENT
Ton That Minh, Nguyen Van Yem
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 – 2014: 193 – 199
Background: Threatening ventricular arrhythmia is one of most important reason causes cardiac death.
Implantable cardioverter defibrillator (ICD) is effective to prevent sudden cardiac arrest caused by threatening ventricular arrhythmia. Hence, from 2008, ACC/AHC/HRS have indicated ICD to prevent primary and secondary sudden cardiac arrest. In VietNam, nearly 300 of patients have been inplanted ICD. However, efficacy and safety of this method have to study continously.
Subjects and method: Multi cases report, study has been performed on 87 patients implanted ICD at Ho
Chi Minh Heart Institute và Tam Duc Cardiac hospital from May 2005‐ May 2013.
* Bệnh Viện Tim Tâm Đức
Tác giả liên lạc: BS Trần Van Yêm ĐT: 0913765504 Email: yemvientim@yahoo.com
Trang 2patients were infected incision, 1 sepsis, 1 hospital acquired pneumonia, 1 twister syndrome, 1 pacemaker syndrome. Late complicatios was 32.2%, including: inappropriate shock (27.5%) and most frequently cause was atrial fribrillation(54.2%). 3 patients had voltage storm caused by lead rupture (2 cases) and progresstive heart failure (1 case). Efficacy of ICD : mortality in heart faillure and non heart faillure groups is 9.4% and 0%. Tachycardia treatment frequency was 57.5%, overdriving was 86.5%, ATP One Shot was 76.4%, shock are 94.5%. Safety of ICD: there are two patients with shock when they are driving (2.3%) and other one when he is weight lifting (1.1%).
Conclusion: ICD provide efficacy and safety to prevent sudden cardiac death caused by threatening
ventricular arrhythmias
Keyword: implantable cardioveter defibrilator, overdriving, ATP one shot, shock, inappropriate shock,
voltage storm
ĐẶTVẤNĐỀ
Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân gây tử
vong hàng đầu ở các nước phát triển, cũng như
các nước đang phát triển. Theo thống kê của Tổ
Chức Y tế Thế Giới, mỗi năm có khoảng 17 triệu
người tử vong do bệnh tim mạch, chiếm 1/3 các
trường hợp tử vong trên toàn thế giới(8). Ở Mỹ,
mỗi năm có khoảng 350.000 trường hợp bị loạn
nhịp thất nặng, 2/3 số bệnh nhân tử vong trước
khi đến bệnh viện(5). Từ thập niên 1980, Michel
Mirowski và các cộng sự là người tiên phong
trong việc cắt cơn loạn nhịp thất bằng thiết bị
cấy vào cơ thể, gọi là ICD (implantable
cardioveter defibrilation). Chiếc máy này là công
cụ đắc lực giúp bảo vệ bệnh nhân trước những
cơn loạn nhịp thất nguy hiểm, với năng lượng
đánh sốc thấp hơn máy phá rung ngoài cơ thể
đến 10 lần(9,11). Đầu thế kỷ 21, trên toàn thế giới,
mỗi năm có khoảng 100 ngàn bệnh nhân được
cấy máy phá rung(5). Nhiều nghiên cứu đã
chứng minh được máy phá rung cắt cơn rối loạn
nhịp thất hiệu quả đến 98%(17). Hiệu quả phòng
ngừa đột tử tiên phát hoặc thứ phát do loạn
nhịp thất của ICD ngày càng có nhiều công trình
nghiên cứu chứng minh như: nghiên cứu CASH,
CIDS, AVID, MADIT 1, MUSTT, SCDHeFT …,
vượt trội so với nhóm bệnh nhân chỉ sử dụng
thuốc chống loạn nhịp(3,5,7,9,12). Do đó, khuyến cáo
của ACC/AHA/HRS năm 2008 đã chỉ định cấy
máy phá rung nhằm mục đích phòng ngừa tiên
phát và thứ phát đột tử do tim(1). Ở Việt Nam, có
khoảng gần 300 bệnh nhân đã được cấy máy
phá rung, nhưng các đề tài nghiên cứu về tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này còn rất ít. Vì vậy, đó là động lực thúc đẩy chúng tôi làm đề tài nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát các biến chứng sớm, biến chứng muộn, tính hiệu quả, tính an toàn của máy phá rung trong điều trị loạn nhịp thất.
ĐỐITƯỢNG‐PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn nhận bệnh
Tất cả bệnh nhân được cấy máy phá rung tại Viện tim Thành Phố Hồ Chí Minh và Bệnh Viện tim Tâm Đức, từ tháng 5/2005 đến tháng 5/2013.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân mất theo dõi.
Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo hàng loạt ca.
Phương pháp tiến hành: Lấy mẫu liên tục dựa vào hồi cứu hồ sơ bệnh án và tham khảo dữ liệu lưu trữ từ máy phá rung. Phỏng vấn bệnh nhân, thân nhân, bác sĩ khám theo dõi và cấy máy, chuyên viên lập trình máy.
KẾTQUẢ
Trong thời gian từ tháng 5/2005 đến tháng 5/2013, chúng tôi đã đưa vào nghiên cứu tổng cộng 87 đối tượng cấy máy phá rung tại Viện Tim Tp.HCM và Bệnh viện tim Tâm Đức. Thời gian theo dõi trung bình là: 36,2 ± 2,6 tháng.
Trang 3Tuổi trung bình là 52,3 ± 14 tuổi, thấp nhất là
15 tuổi và cao nhất là 86 tuổi.
Tuổi trung bình của nam là 50,6 ± 13,8 tuổi,
thấp nhất là 15 tuổi và cao nhất là 85 tuổi.
Tuổi trung bình của nữ là 60,3 ± 12,8 tuổi,
thấp nhất là 41 tuổi và cao nhất là 86 tuổi.
Nhóm tuổi có tỷ lệ cấy máy phá rung cao nhất là 50 – 59 tuổi (34,5%), nhóm tuổi có tỷ lệ cấy máy phá rung thấp nhất là ≥ 80 tuổi (3,4%).
Tỷ lệ nam : nữ là 4,8 : 1
Đặc điểm lâm sàng
< 60 tuổi
≥ 60 tuổi
Mẫu NC
5.80%
10.30%
16.10%
6.90%
12.60%
19.50%
15%
3.40%
18.40%
39%
5.80%
44.80%
Khác Nhịp nhanh thất vô căn Loạn sản thất phải
HC QT dài
HC Brugada BCTDN BCTTMCB Sau NMCT
Biểu đồ 1: Bệnh lý nền gây nên loạn nhịp thất
Bệnh nhân với bệnh lý nền là hội chứng Brugada nhiều nhất trong mẫu nghiên cứu
Siêu âm tim
Bảng 1: Chỉ số trung bình trên siêu âm tim
BCTTMCB và BCTDN Nhóm bệnh còn lại Toàn bộ mẫu nghiên cứu
Đường kính thất trái cuối tâm trương
Phân xuất máu trung bình của nhóm bệnh
nhân suy tim < 35%.
Đường kính thất trái cuối tâm trương trung bình của nhóm bệnh nhân suy tim >60 mm.
Chỉ định cấy máy phá rung
Bảng 2: Chỉ định cấy máy phá rung theo mục tiêu phòng ngừa
Chỉ định Mục tiêu phòng ngừa Tổng cộng
Trang 4Chỉ định Mục tiêu phòng ngừa Tổng cộng
Nhóm bệnh nhân >60 tuổi, bệnh nhân với
bệnh lý nền là hội chứng Brugada chiếm tỉ lệ cao
(35,6%).
Nhóm bệnh nhân > 60 tuổi, bệnh nhân với
bệnh lý nền là BCTTMCB nhiều nhất (11,5%).
Biến chứng
Bảng 3: Biến chứng sớm
Biến chứng sớm Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Thủng tim mổ cấp cứu 1 1,1
Hội chứng máy tạo nhịp 1 1,1
Tụ máu túi máy là biến chứng sớm thường
gặp nhất sau khi cấy máy
Bảng 4: Biến chứng muộn
Biến chứngmuộn Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Sốc lầm 24 27,5
Biến chứng muộn thường gặp nhất là sốc
lầm.
Bảng 5: Phân bố loại loạn nhịp trên thất gây sốc lầm
Loạn nhịp trên thất Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Nhịp nhanh kịch phát trên thất 6 25
Loại loạn nhất gây ra sốc lầm nhiều nhất là
rung nhĩ, kế đến là nhịp nhanh xoang Không có mối tương quan giữa biến chứng sớm, biến chứng muộn với các yếu tố: tuổi, giới tính, phân suất tống máu, mục tiêu phòng ngừa, tính chất máy, phương pháp và vị trí túi máy. Hiệu quả của máy phá rung: hiệu suất hoạt
động của máy phá rung 57,5%.
Bảng 6: Hiệu quả của máy phá rung
Số lần Thành công Thất bại Tổng cộng
Kích thích tim vượt tần số (Overdriving) 96 (86,5%) 15 (13,5%) 111 Lập trình kháng cơn
nhịp nhanh thất (ATP One Shot)
136 (76,4%) 42 (23,6%) 178
Sốc phá rung 120 (94,5%) 7 (5,5%) 127 Tổng hợp 352 (84,6%) 64 (15,4%) 416
Máy phá rung cắt cơn nhịp nhanh thất bằng ATP One Shot thành công thấp
Máy phá rung cắt cơn loạn nhịp thất bằng đánh sốc rất hiệu quả(94,5%)
Không có mối tương quan giữa hiệu quả của máy phá rung với các yếu tố: tuổi, giới tính, phân suất tống máu và bệnh lý nền.
Tính an toàn của máy phá rung:
Có 2 bệnh nhân máy đánh sốc khi đang lái
xe (2,3%).
Có 1 bệnh nhân máy đánh sốc khi đang tập
tạ.
Tử vong: kết quả nghiên cứu ghi nhận có 3 trường hợp tử vong
Bảng 7: Tử vong sau cấy máy phá rung
Tử vong Bệnh nền PXTM Nguyên nhân Loại máy Mục tiêu phòng ngừa Thời gian sau đặt máy
Nguyên nhân tử vong là do suy tim tiến
triển ở bệnh nhâncó bệnh lý nền BCTTMCB,
BCTDN
Các bệnh nhân đều có PXTM thấp, thất trái
dãn quá nặng
BÀNLUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung
Trang 514 tuổi, tương tự của tác giả Nguyễn Thanh
Huân, cao hơn của tác giả Charles và cộng sự(4).
Tỉ lệ bệnh nhân được cấy máy phá rung nhiều
nhất trong nhóm tuổi từ 50‐59 tuổi (34,5%). Bệnh
nhân trên 60 tuổi chiếm 25,3%. Bệnh nhân cấy
máy phá rung ở nam cao hơn ở nữ, tỉ lệ này là
4,8: 1, tỉ lệ nam cũng luôn chiếm tỉ lệ cao hơn nữ
trong từng nhóm tuổi, kết quả này tương tự các
tác giả khác(4,12). Đa số bệnh nhân nằm viện sau
cấy máy dưới 7 ngày (62,1%), tuy nhiên số ngày
nằm viện này quá lâu, theo y văn, nếu không có
tai biến, bệnh nhân có thể xuất viện sau 24 giờ.
Bệnh nhân được chỉ định cấy máy đa số là do
loạn nhịp thất gây ngất (39,1%) cao hơn của tác
giả Moss(12), kế đến là đột tử được cứu sống
(19,5%). Bệnh nhân được cấy máy phá rung với
bệnh lý nền là suy tim trong nhóm nghiên cứu
của chúng tôi là 37,9%, kết quả này thấp hơn tác
giả Kuck(9), nghiên cứu của họ có phòng ngừa
tiên phát trên bệnh nhân suy tim chiếm tỉ lệ cao,
điều kiện bệnh nhân Việt nam với kinh tế khó
khăn, chỉ định cấy máy chủ yếu là để phòng
ngừa thứ phát (73,6%). Bệnh nhân có bệnh lý
nền là hội chứng Brugada chiếm tỉ lệ 44,8%, kế
đến là BCTTMCB và BCTDN, mỗi nhóm chiếm
18,4%, còn lại là các bệnh lý nhịp nhanh thất sau
nhồi máu cơ tim, nhịp nhanh thất vô căn, hội
chứng QT dài, hội chứng QT ngắn, loạn sản thất
phải gây loạn nhịp…Máy phá rung phòng ngừa
đột tử tập trung vào nhóm bệnh nhân suy tim
và bệnh nhân bị hội chứng Brugada. Trong
nhóm bệnh nhân suy tim, phân xuất tống máu
trung bình là 25,8± 7,9, đường kính thất trái cuối
tâm trương trung bình là 65,8 ±77 mm, tương tự
với tác giả Bardy(2). Biến chứng sớm sau cấy máy
phá rung chiếm tỉ lệ 11,5% gồm: thủng tim phải
mổ cấp cứu (1,1%), nhiễm trùng vết mổ(2,3%),
tụ máu túi máy(3,4%)…kết quả này tương tự các
tác giả khác(2,5,9), ngoại trừ biến chứng nhiễm
trùng và tụ máu túi máy của nghiên cứu này cao
hơn. Chúng ta cần xem xét lại vấn đề vô trùng,
kháng sinh phòng ngừa cũng như vấn đề chăm
sóc hậu phẫu. Biến chứng muộn của máy phá
rung như sốc lầm chiếm tỉ lệ 27, 5%, theo các tác
giả khác tỉ lệ thường trong khoảng 10‐27,5%(2,8,9). Loạn nhịp trên thất gây sốc lầm nhiều nhất là rung nhĩ 54,2%, kế đến là nhịp nhanh nhĩ, nhịp nhanh xoang. Vì vậy, để hạn chế biến chứng này, cần phối hợp điều trị nội khoa tối ưu với các thuốc kháng loạn nhịp như Cordaron, Digoxin, ức chế beta… nhằm kiểm soát tốt tần sồ thất. Bão điện thế trong nghiên cứu của chúng tôi có 3 trường hợp, chiếm tỉ lệ 3,4%, theo y văn thế giới, tỉ lệ này là từ 6‐10%(1). Nguyên nhân gây ra bão điện thế là do có 2 bệnh nhân với bệnh lý nền là suy tim diễn tiến nặng, và 1 trường hợp bị đứt dây điện cực ở vị trí gần xương đòn, làm máy phá rung hoạt động bất thường.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hiệu suất hoạt động của máy phá rung cắt cơn loạn nhịp thất là 57,5%, tương tự với tác giả Wathen và Bardy(3,16). Cắt cơn nhịp nhanh thất bằng phương pháp kích thích tim vượt tần số (overdriving) thành công là 86,5%, tương tự Wathen và cộng
sự(16). Cắt cơn nhịp nhanh thất thành công bằng lập trình chống cơn nhịp nhanh (ATP One Shot) thành công là 76,4%, thấp hơn rất nhiều so với tác giả Schaumann(15). Chúng ta cần xem lại cách lập trình máy để hoạt động ATP One Shot của máy phá rung đạt được hiệu quả cao hơn nhằm giảm được số lần sốc cho bệnh nhân cũng như giữ cho pin có tuổi thọ dài hơn. Hiệu quả đánh sốc để phá cơn loạn nhịp thất thành công là 94,5%, tương tự các tác giả khác ( 95‐98%)(3,15,16).
Có 3 trường hợp đánh sốc thất bại, trong đó có 2
ca do ngưỡng phá rung tăng bất thường do diễn tiến bệnh, 1 ca bị đứt dây điện cực, may mắn là 2 bệnh nhân có cơn loạn nhịp thất tự chấm dứt, 1 bệnh nhân phải dùng máy đánh sốc ngoài cơ thể thành công. Về tính an toàn của máy phá rung:
có 2 bệnh nhân bị đánh sốc khi đang lái xe(2,3%), và 1 bệnh nhân bị đánh sốc do đang tập tạ (1,1%). Vậy bệnh nhân mang máy phá rung thì an toàn trong sinh hoạt cũng như các môn thể thao không đối kháng, cần thận trọng khuyên bệnh nhân cấy máy phá rung phòng ngừa thứ phát không nên lái xe trong vòng 6 tháng sau khi cấy(1).
Trang 6Có 3 trường hợp bị tử vong trong nghiên
cứu của chúng tôi. Tuy nhiên số bệnh nhân bị tử
vong là do có bệnh lý nền là suy tim diễn tiến
nặng, các bệnh nhân này có PXTM < 20% và
đường kính thất trái cuối tâm trương> 90 mm.
Cần cân nhắc chỉ định cấy máy phá rung cho
nhóm bệnh nhân này vì tỉ lệ tử vong cao.
Khảo sát mối tương quan giữa biến chứng
với các yếu tố khác: chúng tôi nhận thấy: không
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa biến
chứng với tuổi (p= 0,67), giới( p=0,14), chỉ định
phòng ngừa (p= 0,64), tính chất máy( p= 0,9),
PXTM (p= 0,54), phương pháp cấy( p= 0,82), vị
trí túi máy (p=0,33). Tương tự hiệu quả hoạt
động của máy phá rung, không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa hiệu quả với tuổi
(p=0,93), giới (p= 0,54), PXTM (p=0,42) Kết quả
náy tương tự như tác giả Bardy, Hohnloser(2,8).
KẾTLUẬN
Qua nghiên cứu 87 trường hợp cấy máy phá
rung để phòng ngừa đột tử do loạn nhịp thất tại
Viện tim thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện
tim Tâm Đức, từ tháng 5/2005‐ 5/2013, với thời
gian theo dõi trung bình là 36,2± 2,6 tháng.
Chúng tôi nhận thấy những điểm chính như
sau: bệnh nhân cấy máy phá rung ở nam cao
hơn nhiều so với nữ, đa số bệnh nhân được chỉ
định cấy máy là để phòng ngừa thứ phát sau khi
đột tử được cứu sống, sau ngất do loạn nhịp thất
gây ra. Thời gian nằm viện sau cấy máy đa số là
<7 ngày. Biến chứng sớm sau cấy máy ít, tuy
nhiên tỉ lệ nhiễm trùng và tụ máu túi máy còn
cao. Biến chứng muộn như sốc lầm cao. Hiệu
quả hoạt động của máy phá rung tốt, nhưng
hoạt động cắt cơn nhịp nhanh thất thành công
bằng ATP One Shot còn thấp. Có 2 trường hợp
bị sốc khi đang lái xe, nên cần tư vấn, theo dõi
cho bệnh nhân. Các trường hợp tử vong sau cấy
máy do bệnh lý nền là suy tim nặng với thất trái
dãn nhiều và phân xuất tống máu quá thấp.
Không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa biến chứng, hiệu quả hoạt động của máy
với các yếu tố khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Andrew E, et al (2008), “ACC/AHA/HRS Guidelines for Device‐ Based Therapy of Cardiac Rhythm Abnormalities: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Practice Guidelines”. J Am Coll Cardiol, (51), pp.1‐62.
2 Bardy GH, Yee R, Jung W (1996), “Multicenter experience with a pectoral unipolar implantable cardioverter‐ defibrillator”, J Am Coll Cardiol, (28), pp.400‐410.
3 Buxton AE, Lee DL, Fisher JD et al (1999), “A randomized study of the prevention of sudden death in patients with coronary artery disease: Multicenter Unsustained Tachycardia Trial (MUSTT)”. N Engl J Med, (341), pp.1882‐
1890.
4 Corrado D, Antzelevitch C, Brugada P, Borggrefe
M, Brugada J, Brugada R, Gussak I, LeMarec H, Nademanee
K, Perez Riera AR,Shimizu W, Schulze‐Bahr E, Tan H, Wilde
A (2005), “Brugada Syndrome: Report of the Second Consensus Conference: Endorsed by the Heart Rhythm Society and the European Heart Rhythm Association”, Circulation, (111), pp.659‐670.
5 Fred M, Robert E (2008), “Defibrillator Function and Implantation”, Cardiac Pacing for the Clinician 2nded, Springer, pp. 339‐376.
6 Gold MR, Nisam S (2000), “Primary prevention of sudden cardiac death with implantable cardioverter defibrillators: lessons learned from MADIT and MUSTT”, Pacing Clin Electrophysiol, (23), pp.1981‐1985.
7 Judith M, et al (2004), “Types of cardiovascular diseas”, The Atlas of Heart Disease and Stroke, World Health Organization, pp.18‐20.
8 Hohnloser SH, Kuck KH, Dorian P et al (2004), “Prophylactic use of an Implantable cardioverter‐defibrillator after acute myocardial infarction (DINAMIT)”, N Engl J Med, (351), pp.2481‐2488.
9 Kuck K, Cappato R, Siebels J et al (2000), “ Randomized comparison of antiarrhythmic drug therapy with implantable defibrillators in patients resuscitated from cardiac arrest: the Cardiac Arrest Study Hamburg (CASH)”, Circulation, (102), pp.748‐754.
10 Mirowski M, Mower MM, Reid PR (1980), “Termination of malignant ventricular arrhythmias with an implanted automatic defibrillator in human beings”, N Engl J Med, (303), pp.322‐324.
11 Mirowski M, Mower MM, Reid PR (1980), “The automatic implantable defibrillator”. Am Heart J, (100), pp.1089‐1092.
12 Moss AJ, Hall WJ, Cannom DS et al (1996), “Improved survival with an implanted defibrillator in patients with coronary disease at high risk for ventricular arrhythmia (MADIT)”, N Engl J Med, (335), pp.1933‐40.
13 Saksena S (1994), “Clinical outcome of patients with malignant ventricular tachyarrhythmias and a multiprogrammable implantable cardioverter‐defibrillator implanted with or without thoracotomy: an international multicenter study”. J Am Coll Cardiol (23), pp.1521‐1530.
14 Schaumann A, Muhlen FVZ, Herse B et al (1998), “Empirical versus tested antitachycardia pacing in implanted cardioverter defibrillators: a prospective study including 200 patients”, Circulation, (97), pp.66‐74.
15 Schwartzman D, Nallamothu N, Callans DJ et al (1995),
“Postoperative lead‐related complications in patients with nonthoracotomy defibrillation lead systems”, J Am Coll Cardiol, (26), pp.776‐786.
Trang 716 Wathen MS, Sweeney MO, DeGroot PJ et al (2001), “Shock
reduction using antitachycardia pacing for spontaneous rapid
ventricular tachycardia in patients with coronary artery
disease. Circulation, (104), pp.796‐801.
17 Zipes DP, Roberts D (1995), “Results of the international
study of the implantable pacemaker cardioverter‐
defibrillator: a comparison of epicardial and endocardial lead
systems”. Circulation, (92), pp.59‐65.
Ngày nhận bài báo: 01/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 29/11/2013 Ngày bài báo được đăng : 05/01/2014