Nghiên cứu được thực hiện nhằm ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian để phân tích hoạt động dự trù mua sắm thuốc tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre (NĐCBT).
Trang 1ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU THEO THỜI GIAN
TRONG HOẠT ĐỘNG DỰ TRÙ MUA SẮM THUỐC:
NGHIÊN CỨU TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TỈNH BẾN TRE
Đặng Kim Loan * , Cù Thanh Tuyền ** , Hoàng Việt * , Trần Văn Ân * , Phan Thị Mộng Hương * ,
Trần Thị Ngọc Vân *** , Hoàng Thy Nhạc Vũ **
TÓM TẮT
Mở đầu: Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Khoa Dược tại các bệnh viện là phải đảm
bảo cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh viện Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, những đánh giá về tình hình mua sắm và sử dụng thuốc tại bệnh viện là rất cần thiết
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời
gian để phân tích hoạt động dự trù mua sắm thuốc tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre (NĐCBT)
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thống kê mô tả kết hợp với mô hình hoá,
dựa trên dữ liệu sử dụng thuốc thực tế của bệnh viện trong một giai đoạn nhất định Thông qua cơ
số và chi phí sử dụng thuốc năm 2017, nghiên cứu chọn ra các hoạt chất thông dụng để phân tích Hoạt động dự trù mua sắm thuốc được phân tích theo hai bước, trước hết là so sánh dữ liệu sử dụng với dữ liệu mua sắm, sau đó sẽ xây dựng mô hình dự báo lượng thuốc sử dụng trong giai đoạn 2018–2019 thông qua phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian
Kết quả: Liên quan đến xu hướng sử dụng theo chu kỳ một năm của 12 hoạt chất trong mẫu
nghiên cứu, kết quả cho thấy đa số giảm lượng sử dụng vào tháng 2 và tăng lượng sử dụng vào tháng 11 Từ mô hình dự báo được xây dựng cho 12 hoạt chất, nghiên cứu ghi nhận có 5 trường hợp
dự báo tăng số lượng sử dụng và 2 trường hợp dự báo giảm số lượng sử dụng trong giai đoạn 2018–2019 Kết quả so sánh dữ liệu sử dụng thực tế so với dữ liệu mua sắm cho thấy lượng thuốc mua dư từ 45% đến 215% lượng sử dụng Trong khi đó, nếu mua sắm theo dữ liệu dự báo từ mô hình Holt–Winters, lượng thuốc mua dư sẽ dao động từ 0,5% đến 60%
Kết luận: Qua ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian vào dữ liệu sử dụng
thuốc của 12 hoạt chất thông dụng tại Bệnh viện NĐCBT, nghiên cứu đã cung cấp các thông tin về tình hình mua sắm, xu hướng sử dụng thuốc và xác định được chu kỳ tăng giảm sử dụng thuốc hàng năm cũng như dự báo được lượng thuốc sẽ sử dụng của các hoạt chất Đây là cơ sở khoa học cho công tác đánh giá nhu cầu sử dụng thuốc tại Bệnh viện, tạo cơ sở cho hoạt động dự trù mua sắm thuốc được phù hợp nhất với thực tế, đảm bảo cung ứng thuốc kịp thời và đầy đủ cho hoạt động khám chữa bệnh tại Bệnh viện
Từ khoá: Sử dụng thuốc, danh mục thuốc, phân tích dữ liệu theo thời gian, Bệnh viện Nguyễn
Đình Chiểu tỉnh Bến Tre
* Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre
** Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
*** Khoa Dược - Trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam
Tác giả liên lạc: PGS TS Hoàng Thy Nhạc Vũ ĐT: 0913.110.200 Email: hoangthynhacvu@ump.edu.vn
Trang 2ABSTRACT
APPLYING TIME SERIES ANALYSIS METHOD IN THE PURCHASE OF DRUGS:
A STUDY AT THE NGUYEN DINH CHIEU HOSPITAL IN BEN TRE
Dang Kim Loan, Cu Thanh Tuyen, Hoang Viet, Tran Van An, Phan Thi Mong Huong,
Tran Thi Ngoc Van, Hoang Thy Nhac Vu
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 367 – 374
Background: One of the crucial missions of pharmacy departments in hospitals is to accurately ensure
the drug supply to meet treatment needs To fulfill this mission, it is necessary to investigate systems of drugs purchase and drugs utilization at hospitals
Objectives: The study aimed to apply the Time Series Analysis method to planning drug purchases at
Nguyen Dinh Chieu Hospital in Ben Tre Province (NDCBT)
Methods: The descriptive and modeling study was conducted on the data of drugs utilization at
NDCBT from 2011–2017 The study subjects were active ingredients which were used in high quantities and which accounted for the high spending on drugs in 2017 There were two steps to investigate purchase plans of drugs as follows: comparing the data of drugs actually used with the data of drugs purchased; formulating models to predict the quantities of drugs needed for the period 2018–2019 by the Time Series Analysis method
Results: Regarding the annual cycle of the utilization of 12 drugs included in the study sample,
February was the period when drugs utilization tended to decrease, while during November, drugs utilization tended to increase 12 predictive models of 12 drugs showed that there were 5 drugs whose utilization was predicted to increase and 2 drugs whose utilization was predicted to decrease during the period 2018-2019 The quantities of drugs purchased were from 45% to 215% higher than the actual utilization of drugs from 01/2018 to 06/2018 According to the results from Holt–Winters models, the quantities of drugs presumed to had been purchased during the 01/2017–06/2018 period were from 0.5% to 60% higher than the actual quantities of drugs used
Conclusion: Application of Time Series Analysis to the data of drugs utilization at NDCBT discovered
information about the drugs purchase system, drugs utilization trends, annual cycles of increase and decrease in drugs utilization and predictions of drugs utilization from 2018 to 2019 This is a scientific basis for assessing the needs of drugs in hospitals, planning to purchase drugs rationally, and ensuring the full and prompt supply of drugs at hospitals
Key words: drugs utilization, drugs list, Time Series Analysis, Nguyen Dinh Chieu Hospital in Ben
Tre Province
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, hoạt động cung ứng thuốc của
khoa Dược có nhiều thay đổi do có sự chuyển
đổi cơ cấu bệnh tật giữa các bệnh viện sau khi
Bảo hiểm y tế thực hiện thông tuyến khám
chữa bệnh, do sự điều chỉnh chính sách về
quản lý sử dụng thuốc tại cơ sở y tế của nhà
nước, và do quy định cơ chế tự chủ tài chính ở
các đơn vị sự nghiệp công lập(7 ,8)
Trước tình hình này, khoa Dược bệnh viện cần phải cân nhắc trong dự trù mua sắm thuốc để đảm bảo cân đối giữa nguồn ngân sách bệnh viện, đồng thời vẫn đảm bảo cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời, có chất lượng và đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh viện
Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, những đánh giá về tình hình mua sắm và sử dụng thuốc tại bệnh viện là rất cần thiết
Trang 3Phương pháp phân tích dữ liệu theo thời
gian cho biết các yếu tố về mùa vụ, xu hướng
hay sự thay đổi ngẫu nhiên của dữ liệu cần
phân tích và cho phép dự báo các giá trị trong
tương lai gần Phương pháp này đã được ứng
dụng trong nhiều lĩnh vực y tế để đánh giá tác
động của một can thiệp hay chính sách đối với
dữ liệu theo thời gian, bao gồm các nghiên
cứu về bệnh/ tình trạng bệnh, về các tình
huống thăm khám tại cơ sở y tế, về chi phí
chăm sóc sức khoẻ hay về đặc điểm xu hướng
sử dụng thuốc tại bệnh viện(4 ,6 )
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến
Tre (NĐCBT) là bệnh viện đa khoa có quy mô
lớn nhất trên địa bàn tỉnh với 1100 giường
bệnh Trong những năm gần đây, tại Bệnh
viện NĐCBT còn tồn tại nhiều vấn đề trong
hoạt động quản lý và sử dụng thuốc Nghiên
cứu được thực hiện nhằm ứng dụng phương
pháp phân tích dữ liệu theo thời gian để phân
tích hoạt động dự trù mua sắm thuốc tại Bệnh
viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre, từ đó
có căn cứ để điều chỉnh hoạt động dự trù mua
sắm thuốc sao cho phù hợp với nhu cầu khám
chữa bệnh của người dân địa phương và ngân
sách thuốc của Bệnh viện
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp với mô
hình hoá, dựa trên dữ liệu sử dụng thuốc tại
Bệnh viện NĐCBT giai đoạn 2011–2017 của các
hoạt chất thông dụng
Mẫu nghiên cứu
Từ dữ liệu sử dụng thuốc trong năm 2017,
các thuốc được tổng hợp theo hoạt chất, sau
đó tính toán và sắp xếp các hoạt chất theo thứ
tự giảm dần về cơ số và chi phí sử dụng Dựa
theo nguyên tắc phân loại ABC, các hoạt chất
sẽ được phân loại thành 3 nhóm theo tỉ lệ
phần trăm tích luỹ của cơ số và 3 nhóm theo tỉ
lệ phần trăm tích luỹ của chi phí(1) Các hoạt
chất được phân loại vào nhóm A theo cơ số và
nhóm A theo chi phí (chiếm 70% cơ số và 70%
chi phí sử dụng thuốc của toàn Bệnh viện năm 2017) được xem là hoạt chất thông dụng Trong tổng số 468 hoạt chất được sử dụng trong năm 2017, có 12 hoạt chất, là thành phần của 417 thuốc, được xem là sử dụng nhiều trong năm 2017, đạt tiêu chí nghiên cứu và được đưa vào phân tích
Tổng hợp dữ liệu và xử lý thống kê
Hoạt động dự trù mua sắm thuốc được phân tích thông qua việc đánh giá tình hình mua sắm và sử dụng thuốc trong năm 2017, xác định chu kỳ tăng giảm sử dụng thuốc hàng năm, và dự báo nhu cầu sử dụng thuốc cho giai đoạn 2018–2019 đối với các hoạt chất thông dụng Để đánh giá tình hình mua sắm
và sử dụng thuốc năm 2017, nghiên cứu tính
cơ số sử dụng thuốc trung bình hàng năm trong giai đoạn 2011–2017 Hoạt chất được xem là mua sắm chưa hợp lý khi có giá trị mua sắm năm 2017 nằm ngoài khoảng chênh lệch cho phép so với giá trị trung bình của giai đoạn 2011–2017 Để Bệnh viện có thể điều chỉnh cơ số mua sắm các hoạt chất thông dụng cho giai đoạn 2018–2019, nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian để xây dựng mô hình Holt–Winters(9) nhằm dự báo xu hướng và lượng thuốc sử dụng trong giai đoạn 2018–2019 Các dữ liệu
dự báo từ mô hình sẽ được so sánh với dữ liệu thực tế để đánh giá độ tin cậy khi ứng dụng
mô hình Holt–Winters trong hoạt động mua sắm thuốc Dữ liệu được mô tả theo tần số, tỉ
lệ phần trăm và giá trị trung bình về cơ số/chi phí mua sắm và sử dụng của các hoạt chất, với phần mềm thống kê R (phiên bản 3.0.2)
KẾT QUẢ
Tình hình mua sắm sử dụng của thuốc năm 2017
Trong 12 hoạt chất được dùng nhiều trong năm 2017, hoạt chất chiếm tỉ lệ về chi phí cao nhất là ciprofloxacin (chiếm 4,6% chi phí thuốc toàn Bệnh viện năm 2017) và hoạt chất được mua với số lượng nhiều nhất là nitroglycerin (chiếm 5,2% cơ số thuốc được mua cho Bệnh
Trang 4viện năm 2017) Có 6 hoạt chất thuộc nhóm
thuốc tim mạch và 4 hoạt chất thuộc nhóm trị
ký sinh trùng – chống nhiễm khuẩn
Paracetamol là hoạt chất có trong nhiều thuốc
nhất, với 90 thuốc đơn chất và 30 thuốc dạng
phối hợp So sánh dữ liệu mua sắm và dữ liệu
sử dụng thuốc năm 2017 cho 12 hoạt chất
thông dụng, có 9 hoạt chất được mua sắm với
số lượng chưa hợp lý (Bảng 1)
Dự báo tình hình sử dụng thuốc trong giai
đoạn 2018–2019
Từ mô hình dự báo được xây dựng cho
12 hoạt chất, nghiên cứu ghi nhận có 5
trường hợp dự báo tăng số lượng sử dụng
và 2 trường hợp dự báo giảm số lượng sử dụng trong giai đoạn 2018–2019 (Hình 1) Liên quan đến xu hướng sử dụng trong chu
kỳ một năm, kết quả cho thấy đa số các hoạt chất này giảm sử dụng vào tháng 2 và tăng
sử dụng vào tháng 11 (Hình 2) Trong 6 tháng đầu năm 2018, kết quả so sánh dữ liệu
sử dụng thực tế so với dữ liệu mua sắm cho thấy lượng thuốc mua dư từ 45% đến 215% lượng sử dụng Trong khi đó, theo nếu mua sắm theo dữ liệu dự báo từ mô hình Holt– Winters, lượng thuốc mua dư sẽ thay đổi từ 0,5% đến 60% (Bảng 1)
Bảng 1: Mô tả tình hình mua sắm và sử dụng của 12 hoạt chất sử dụng nhiều tại Bệnh viện Nguyễn Đình
Chiểu tỉnh Bến Tre
S
T
T
điều trị
Số lượng thuốc (*)
Cơ số thuốc
sử dụng trung bình hàng năm giai đoạn 2011–
2017 (Nghìn)
Khoảng giá trị mua sắm cho phép hàng năm (Nghìn)
Tỉ lệ chi phí (%)
Cơ số
sử dụng thực tế (Nghìn)
Cơ số mua sắm của Bệnh viện (Nghìn)
Đánh giá việc mua sắm năm
2017
Cơ số thuốc sử dụng (Nghìn)
% chênh lệch so với sử dụng thực tế
So với
cơ số mua sắm của Bệnh viện
So với
dữ liệu
dự báo
từ
mô hình
Dữ liệu thực
tế
Lượng Bệnh viện mua sắm
Dữ liệu
từ
mô hình
dự báo
1 Irbesartan
Thuốc tim
mạch
5 Trimetazidi
1307–
3017 0,6 1623 740 chưa hợp lý 692 1010 948 45,9 37,0
4 Nitroglyceri
1294–
1877 1,8 1699 2794 chưa hợp lý 727 1190 1128 63,7 55,2
7
Amoxicilin
+
Clavulanic
Thuốc trị
ký sinh
trùng -
chống
nhiễm
khuẩn
57 320 252–387 1,3 404 547 chưa hợp lý 169 532 270 214,9 60,0
10 Ciprofloxaci
11 Paracetam
ol
Thuốc
giảm đau** 90 1395
1213–
1576 1,4 1672 2140 chưa hợp lý 852 1606 1039 88,5 22,0
12 Natri clorur
Dung dịch
điều chỉnh
nước -
điện giải
và dung
dịch tiêm
truyền
* Số lượng thuốc có chứa hoạt chất tương ứng sử dụng tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2011–2017
** Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid, thuốc điều trị bệnh Gút và các bệnh xương khớp
Trang 5Hình 1: Xu hướng sử dụng thuốc trong giai đoạn 2011–2019 của 12 hoạt chất được sử dụng nhiều tại
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre
Trang 6Hình 2: Mô tả chu kỳ về lượng thuốc sử dụng từng tháng của 12 các hoạt chất thông dụng tại
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2018-2019
Trang 7BÀN LUẬN
Nghiên cứu đã cho thấy tính ứng dụng
của phương pháp phân tích dữ liệu theo
thời gian trong hoạt động dự trù mua sắm
thuốc tại Bệnh viện Nghiên cứu sử dụng
mô hình Holt–Winters, một mô hình thông
dụng đã được ứng dụng trong phân tích xu
hướng sử dụng thuốc tại các nghiên cứu
trước đây(4 ,6 ) Thông qua kết quả
đánh giá tình hình mua sắm thuốc cho các
hoạt chất dùng nhiều, nghiên cứu ghi nhận
trong các trường hợp mua sắm chưa hợp lý,
đa phần Bệnh viện mua thuốc nhiều hơn số
lượng cần sử dụng Việc mua dư thuốc tuy
vẫn đảm bảo yêu cầu cung ứng thuốc kịp
thời đầy đủ cho người bệnh, nhưng lại có
tác động tiêu cực đến ngân sách của Bệnh
viện Phân tích tình hình sử dụng thuốc cho
thấy các hoạt chất sử dụng nhiều tại Bệnh
viện thuộc nhóm thuốc tim mạch và thuốc
trị ký sinh trùng - chống nhiễm khuẩn Kết
quả này cho thấy việc mua sắm thuốc phù
hợp với mô hình bệnh tật tại Bệnh viện
trong giai đoạn 2011–2017, với các nhóm
bệnh phổ biến liên quan đến hệ tuần hoàn
và các bệnh viêm nhiễm cần điều trị bằng
kháng sinh(5) Thông qua phân tích xu
hướng sử dụng thuốc, có duy nhất một hoạt
chất là trimetadizin có xu hướng giảm sử
dụng Việc chỉ định giới hạn trimetazidin
của các bác sĩ tại Bệnh viện liên quan đến
những khuyến cáo của Cơ quan quản lý
Dược phẩm Châu Âu và Cục quản lý Dược
Việt Nam do tác dụng phụ mà hoạt chất này
gây ra trong quá trình điều trị cho người
bệnh(2,3 )
Xét đến tính chu kỳ về lượng thuốc sử
dụng hàng năm, kết quả cho thấy trong đa
số trường hợp, lượng thuốc giảm sử dụng
vào tháng 2 và tăng sử dụng vào tháng 11
Kết quả này phù hợp với đặc điểm xã hội
Việt Nam, vì tháng 2 là giai đoạn tết
Nguyên Đán, lượng người đến khám chữa
bệnh giảm, và vào tháng 11 người dân có thói quen khám và điều trị bệnh trước khi bước sang năm mới Kết quả về chu kỳ tăng giảm sử dụng thuốc sẽ giúp Bệnh viện điều chỉnh cơ số mua sắm và tồn kho phù hợp theo từng tháng
Sau khi so sánh dữ liệu sử dụng thuốc
do mô hình dự báo và dữ liệu Bệnh viện mua sắm, kết quả ghi nhận mức độ chênh lệch giữa giá trị dự báo từ mô hình thấp hơn
so với mức độ chênh lệch theo thực tế mua sắm Vì vậy nếu thực hiện điều chỉnh mua sắm theo dữ liệu dự báo từ mô hình Holt– Winters, Bệnh viện giảm được một tỉ lệ đáng kể lượng thuốc mua nhiều hơn nhu cầu sử dụng Theo ước tính sơ khởi, việc mua sắm thuốc theo dữ liệu của mô hình Holt–Winters sẽ giúp Bệnh viện tiết kiệm khoảng bốn tỷ đồng nếu chỉ tính riêng với các hoạt chất thông dụng được đưa vào trong nghiên cứu Kết quả này cho thấy việc ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian thật sự có ý nghĩa trong việc giúp Bệnh viện hạn chế việc mua sắm thuốc với số lượng nhiều quá mức cần thiết, giúp giảm cơ số tồn kho, đảm bảo sử dụng nguồn ngân sách hợp lý và tiết kiệm nhất
Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ phần mềm quản lý sử dụng thuốc của Bệnh viện, vì vậy việc tổng hợp
dữ liệu khá thuận tiện, thông tin thu thập khá đầy đủ, chính xác, đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
KẾT LUẬN
Đây là một trong những nghiên cứu thí điểm ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian cho dữ liệu sử dụng thuốc tại các bệnh viện tại Việt Nam Việc ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian trong hoạt động dự trù mua sắm thuốc cho thấy đây là một giải pháp có thể giúp bệnh viện xác định xu hướng và chu kỳ tăng giảm sử dụng thuốc hàng năm,
Trang 8cung cấp các dữ liệu tương đối chính xác về
lượng thuốc sẽ sử dụng, giúp bệnh viện có
thể điều chỉnh cơ số mua sắm một cách hợp
lý nhất Kết quả thu được từ nghiên cứu là
cơ sở cho việc tiếp tục thực hiện nghiên cứu
trên các nhóm thuốc khác tại bệnh viện,
hoặc thực hiện nghiên cứu trên phạm vi
rộng hơn, giúp cải thiện hoạt động dự trù
mua sắm thuốc, đảm bảo sử dụng hợp lý
nguồn ngân sách của bệnh viện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2013) Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013
Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và
điều trị trong bệnh viện
2 Cục Quản lý Dược (2012) Công văn số 17176/QLD-ĐK
ngày 07 tháng 11 năm 2012 về việc khuyến cáo giới hạn chỉ
định và thông tin cảnh báo ADR của thuốc chứa
trimetazidin
3 European Medicines Agency (2012) Assessment Report for
trimetazidine containing medicinal products
4 Hoàng Thy Nhạc Vũ (2017) Ứng dụng phương pháp phân
tích dãy số theo thời gian trong dự báo cơ cấu chi phí sử
dụng thuốc tại bệnh viện Y học thành phố Hồ Chí Minh,
21(5): tr.83-89
5 Hoàng Thy Nhạc Vũ, Nguyễn Thanh Thuỷ, Đặng Kim Loan, Võ Phạm Trọng Nhân (2018) Đặc điểm mô hình bệnh tật tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre
giai đoạn 2011– 2017 Chuyên đề Dược Y học thành phố Hồ
Chí Minh, phụ bản 22 (1): tr 285-292
6 Hoàng Thy Nhạc Vũ, Trần Nhật Trường (2017) Phân tích
xu hướng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Phú Nhuận
giai đoạn 2012–2018, Y học thành phố Hồ Chí Minh, 21 (5):
tr.9-14
7 Quốc Hội (2013) Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013
8 Quốc Hội (2016) Luật dược số 105/2016/QH13 ngày 06/4/2016
9 Shumway RH and Stoffer DS (2006) Time series analysis
and its applications: with R examples Springer Science &
Business Media
Ngày nhận bài báo: 18/10/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2019