Mục tiêu của báo cáo tóm tắt đề tài cấp bộ: Định hướng quy hoạch du lịch sinh thái tự nhiên vùng đồng bằng Sông Cửu Long là đánh giá tiềm năng tài nguyên DLST của vùng nông thôn qua việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu hợp lí, có căn cứ khoa học, đề xuất các định hướng quy hoạch DLST của vùng theo hướng bền vững.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Tp Hồ Chí Minh , tháng 12 năm 2005
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn:
TP HCM, ngày 20 tháng 12 năm 2005
Chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên
Trang 3TÀI
Trang 4CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ – MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
LUẬN, GIỚI HẠN PHẠM VI
NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tổng quan về du lịch sinh thái
Nhiều báo cáo vể DLST đã khẳng định DLST là hình thái du lịch không làm tổn hại đến các khu vực tự nhiên, nhằm mục đích chiêm ngưỡng và hiểu biết thiên nhiên.
DLST như sự bền vững đã trở thành một thuật ngữ bàn cãi của những năm 1990 như một hình thức của du lịch lựa chọn ở các nước đang trở nên thân thiện với môi trường và giảm thiểu những tác động có hại cho môi trường của du lịch Thuật ngữ
Ecotourism (DLST) được viết tắt từ nhóm chữ Ecologically responsible tourism,
nghĩa là du lịch ý thức sinh thái
Cho đến nay, chúng ta đã rất cố gắng để xác định khái niệm DLST, nhưng
Eugenio Yunis (2002) cảm thấy những nỗ lực này là không cần thiết và vô ích vì có nhiều hiểu biết du lịch liên quan đến thiên nhiên cũng được gọi là DLST Do đó,
nói một cách cụ thể nhất thì chúng ta sẽ đồng ý với khái niệm “DLST là du lịch
được mở rộng hiểu biết về chúng” Thực chất của khái niệm này là nhu cầu DLST
tác động lên khu vực tham quan một cách tối thiểu nhất Do đó, sự hữu ích của khái
niệm này theo Liên đoàn Vườn Quốc Gia Châu Âu đã xác định du lịch bền vững
trong môi trường tự nhiên là: “Tất cả những loại hoạt động quản lý và phát triển du lịch để duy trì sự thống nhất về kinh tế, xã hôi, môi trường và sự phát triển ổn định của thiên nhiên để tạo ra nguồn tài nguyên văn hóa vĩnh cửu”.
Có thể nêu ra vài định nghĩa về DLST sau đây:
- Hội Du lịch Sinh thái (Ecotourism Society, 1992): DLST là sự du hành có mục đích tới các khu vực tự nhiên để hiểu biết lịch sử tự nhiên và văn hóa của môi trường, không làm cải biến tính hoàn chỉnh của HST, đồng thời tạo cơ hội phát
Trang 5triển kinh tế bảo trợ nguồn tài nguyên tự nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương
- David Western: DLST là sự tạo nên và thỏa thuận sự khao khát thiên nhiên
là sư khai thác tiềm năng du lịch cho bảo tồn và phát triển, sự ngăn chặn các tác động tiêu cực lên sinh thái văn hóa và thẩm mỹ
- Theo Geoffrey Lipman, Chủ tịch Hội Du Lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), DLST thực chất được hiểu theo hai nghĩa:
- Nghĩa rộng “E”: DLST là sự hướng về tự nhiên và bảo tồn chúng, cùng với
sự nhạy cảm ở nơi đến
- Nghĩa hẹp “e”: được xem như là sự hướng tới tạo cho mỗi nhà lữ hành trở
thành người nhạy cảm sinh thái bằng cách tạo dựng một khuôn khổ môi trường vào nhiều khía cạnh của sản phẩm du lịch và sự tiêu thụ nó Ý nghĩa này có thể tạo
dựng một sự hỗ trợ tối ưu tới việc cải thiện môi trường, trong khi đó theo nghĩa rộng hàm chỉ những nhà lữ hành nhạy cảm sinh thái, có lẽ với ý nghĩa sâu hơn của
du lịch xanh (green tourism)
1.1.2 Lợi ích kinh tế và xu hướng phát triển của du lịch sinh thái
Tuy ngành DLST chỉ mới ra đời vào những năm 1990, bắt nguồn từ Châu Phi, DLST đã nhanh chóng tràn qua Châu Mỹ, mở rộng ở Châu Âu và phát triển mạnh ở Châu Á Theo số liệu thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), doanh thu từ DLST chiếm từ 2-10 tỉ đô la Mỹ trong tổng số 55 tỉ đô la Mỹ của thị trường du lịch dưới các loại hình tại các quốc gia đang phát triển, tức là tại các nước mà công nghiệp hiện đại chưa xâm chiếm hết đất đai có cảnh quan tự nhiên Các chuyên gia DLST ước tính thị trường DLST từ nay sẽ tăng từ 12-15% trong thập kỉ tới do có bốn nhân tố tác động đến xu hướng phát triển DLST sau đây:
(i) Tình hình căng thẳng trên thế giới giảm dần, dù có các tranh chấp
khác có tính địa phương hay chủng tộc
(ii) Chi phí du lịch rẻ hơn trước
(iii) Xuất hiện nhiều thị trường du lịch đa dạng
(iv) Khách du lịch đựơc cung cấp thông tin tốt hơn và chính xác
Theo nhận định của các WTO tại Châu Âu thì các nước phát triển thuộc
vùng nhiệt đới ở Châu Á là một thị trường thuận lợi nhất cho phát triển DLST Các
nhà khoa học đã đánh giá Châu Á có môi trường sống phong phú nhất hành tinh
hiện nay Ở đây có những HST rừng nhiệt đới độc đáo, ít có gây chết người hơn so
với các HST rừng ở Châu Phi và Nam Mỹ Người ta cũng phát hiện ở vùng biển
nhiệt đới Châu Á có những bãi đá ngầm san hô tuyệt đẹp với đầy bí ẩn Hơn nữa, các nước Châu Á có một nền văn minh lâu đời hàng ngàn năm đến nay vẫn còn thể hiện qua kiến trúc cổ xưa, tôn giáo trang nghiêm, một tập quán tôn trọng lễ giáo và trang phục độc đáo đầy màu sắc, trong khi tại thế giới phương Tây mọi hình thức trở nên máy móc và đơn điệu Lãnh thổ Việt Nam là một bộ phận nhỏ bé của môi
Trang 6trường tự nhiên Châu Á, nhưng lại có một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hấp dẫn khách du lịch như các cảnh quan di sản tự nhiên thế giới: quần thể vịnh Hạ Long, động Phong Nha; các cảnh quan sinh thái rừng nhiệt đới cấp quốc gia như Cúc Phương, Nam Cát Tiên…, và cả những HST rạn san hô nhiệt đới kỳ thú Ở vùng ĐBSCL cũng có nhiều tiềm năng tài nguyên du lịch có giá trị khai thác DLST như các vườn quốc gia Tràm Chim, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Phú Quốc, các cảnh quan sinh thái hang động Mo So, Hang Tiền, Thạch Động, Đá Dựng…, các cảnh quan sinh thái đồi núi Cấm, Cô Tô…, các HST rừng ngập mặn (Cà Mau) và rừng tràm (Vồ Dơi, Lung Ngọc Hoàng, U Minh, Tràm Chim), các cảnh quan sinh thái đảo và quần đảo (hòn Khoai, hòn Đá Bạc…), các HST sân chim (Vàm Hồ, Gáo Giồng, Bạc Liêu, Bằng Lăng, Trà Sư…) v…v…
1.1.3 Các điều kiện để phát triển và quản lí du lịch sinh thái bền vững
Sự bền vững của quản lí và phát triển DLST là ưu tiên hàng đầu đối với các chính phủ, các nhà chức trách ở địa phương hay vùng trung tâm, các hãng du lịch và các hiệp hội doanh nghiệp của họ Chúng ta hãy giành lấy cơ hội để khẳng định rõ ràng quan niệm du lịch bền vững không thể không gắn liền với DLST
WTO cho rằng tất cả mọi hoạt động du lịch đều phải được điều chỉnh về mặt lễ hội, thương mại, hội nghị và hội thảo về an toàn sức khỏe và sự mạo hiểm của bản thân DLST để nó phải đạt tính bền vững Điều này có nghĩa là kế hoạch và sự phát triển của cơ sở hạ tầng, hoạt động và việc tiếp thị nó phải tập trung vào các mục tiêu về khả năng bền vững trong kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường Do đó phải đảm bảo rằng không có môi trường tự nhiên thì cũng không có kết cấu văn hóa - xã hội của các chủ đầu tư sẽ bị giảm đi do sự lui tới của du khách du lịch; ngược lại những người làm du lịch ở địa phương sẽ thu lợi từ du lịch, cả về kinh tế lẫn văn hóa
Sự bền vững nghĩa là các hãng du lịch cũng như là cộng đồng địa phương nơi
hoạt động sẽ thu được lợi về một mặt nào đó Đối với DLST, sự bền vững là cấp bách hơn cả so với những loại hình du lịch khác Tuy nhiên, như chúng ta thấy từ
bất cứ loại hình du lịch nào khác, DLST không bền vững đã xảy ra ở nhiều vùng, miền, quốc gia, gây nguy hiểm cho sự tồn tại của môi trường tự nhiên, nền tảng của kinh doanh DLST sẽ bị giảm đi và nghiêm trọng hơn là làm cho hoạt động du lịch mất giá trị
Những nhân tố hay đặc điểm phẩm chất nào mà DLST cần có thể phát triển bền vững trong thời gian dài? Những đặc điểm và điều kiện được xem là cơ bản
nhất có thể kể ra như sau (Eugenio Yunis (2002):
DLST phải tăng cường bảo tồn khu vực tự nhiên và phát triển bền vững của khu vực xung quanh và cộng đồng
DLST đòi hỏi phải có những chiến lược đặc thù, nguyên tắc và chính sách cho mỗi quốc gia, vùng, khu vực Nó không thể phát triển một cách vô tổ chức, vô kỉ luật nếu muốn tồn tại bền vững trong thời gian dài
Trang 7 DLST cần sư phối hợp tổ chức có hiệu quả và thực dụng giữa những đối tựơng liên quan đến du lịch như sau: chính quyền địa phương, hãng du lịch, cá nhân và nhân dân địa phương
Qui hoạch DLST phải bao gồm các chỉ tiêu nhất định cho vùng lãnh thổ, gồm khu bảo tồn và những vùng tác động vừa và nhẹ
Qui hoạch tự nhiên và thiết kế các phương tiện, các khách sạn đặc trưng và những phương tiện chuyển tin khác, nhà hàng và các trung tâm thông tin du lịch ở các vườn quốc gia nên được nghiên cứu theo cách giảm thiểu những tác động tiêu cực mà du khách có thể gây ra đối với môi trường tự nhiên và văn hóa, các vật liệu xây dựng, kiểu kiến trúc nội thất và trang từ những nguồn năng lượng ít gây ô nhiễm tại chỗ
Tương tự, các phương tiện giao thông vận tải và thông tin liên lạc do du khách và cả các công ty cung cấp dịch du lịch trong vùng DLST cũng phải ít gây tác động, kể cả những trò chơi thể thao ồn ào hay những phương tiện gây ô nhiễm tại chỗ
Hành động DLST trong các vườn quốc gia và những khu bảo tồn khác (như khu khảo cổ hay nơi hành hương) phải tuyệt đối tuân thủ các qui định quản lí nghiêm ngặt ở khu vực này
Cơ chế tổ chức hợp pháp nên được thiết lập ở cấp quốc gia và địa phương để thuận tiện và tăng hiệu quả của sự tham gia của cộng đồng địa phương trong tiến trình qui hoạch, phát triển, quản lí và điều chỉnh DLST
Phù hợp với những điều kiện trên, cơ chế tổ chức nên được thiết lập để có thể cân đối thu nhập từ lượng khách DLST nhằm chia xẻ đối với cộng đồng địa phương và vùng cư trú tạm thời trong vườn quốc gia để bảo tồn di sản tự nhiên
Tuy nhiên, phải khẳng định rằng DLST là một ngành kinh doanh tốt, nó có thể sẽ đảm bảo cho sự bền vững về kinh tế Nói cách khác, nếu DLST không đem lại lợi nhuận cho hãng du lịch thì hẳn nó sẽ không được đầu tư phát triển và cũng
không sinh lợi cho các chủ đầu tư Như vậy, DLST sẽ là lĩnh vực văn hóa - sinh
thái nhạy cảm rất cao
Tất cả những gì liên quan tới kinh doanh DLST, bao gồm bản thân các chủ đầu
tư, chính quyền địa phương và dĩ nhiên là có các doanh nhân phải ý thức về giá trị của sự giảm nhẹ những tác động tiêu cực của hoạt động DLST Những ảnh hưởng này và cái giá của việc ngăn chặn chúng cần được đánh giá trước và bao gồm cả những kết quả phân tích lợi nhuận của bất kỳ dự án DLST nào
Việc tuân thủ những nguyên tắc du lịch nên được tăng cường và nghiêm hơn đối với DLST điển hình, bao gồm giám sát và điều chỉnh bằng cuộc vận động nâng cao ý thức, thông tin đầy đủ hơn cho khách DLST và đào tạo những nhà cung cấp dịch vụ Những hệ thống nguyên tắc này cần được khích lệ và kiểm tra thích đáng
Cần xem xét triển vọng của việc thiết lập một hệ thống chứng nhận cho hoạt động và các tiện nghi theo phong cách DLST, ít nhất là ở cấp khu vực và cũng có thể mở rộng trên qui mô toàn cầu để đảm bảo rằng chúng có đúng chuẩn với những nguyên tắc và qui chế DLST
Trang 8 Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết để hoạt động DLST bền vững Hội đồng quản trị và giám đốc các công ty cũng như nhân viên và nhân dân địa phương cần
được đào tạo tổng quát và chuyên về các lĩnh vực DLST phù hợp với từng nhu cầu
Ngoài ra, DLST cũng cần một đội ngũ hướng dẫn viên DLST có trình độ cao và có thể sử dụng dân địa phương
Khách DLST cần những thông tin chi tiết và chuyên sâu ngay cả trước và trong chuyến du lịch của họ, việc cung cấp thông tin đầy đủ, tốt là một trong số những nhân tố khác biệt về thực tiễn giữa DLST với du lịch truyền thống Những loại hình khác được dùng để cung cấp thông tin bao gồm giới thiệu sách hay bản đồ, trung tâm khách hàng hay bảo tàng sinh thái (dùng kiến trúc và vật liệu truyền thống, tại chỗ), các bảng chỉ dẫn bằng vật liệu thiên nhiên hay các chương trình tiếp thị và dĩ nhiên là cả hướng dẫn viên
Danh mục các mặt hàng, sách giới thiệu, hướng dẫn về DLST nên có thông tin về kinh nghiệm cho du khách; nội dung về hoa cỏ, thực vật, địa chất, quặng mỏ, và hệ sinh vật để được tham quan là cơ sở cho quảng cáo về DLST, thông tin chính xác về các phương tiện của nơi lưu trú
Giới thiệu những việc có thể làm và không được làm ở các điểm đến Tất cả sẽ được du khách chú ý và có thể họ cũng sẽ phân biệt được giữa người làm DLST chính thống và những người làm du lịch khác để chọn lấy ưu thế của loại hình du lịch này
Cả những kênh tiếp thị và các phương tiện tăng cường các sản phẩm DLST cần phù hợp với loại hình du lịch mà khách yêu cầu và các loại khách DLST Về mặt này, thực hiện kinh doanh phù hợp hơn với số đông khách như tất cả các tour trọn gói, phần trả thêm quá nhiều cho một phòng một người và ngày không phù hợp và giờ bay không hợp lí là không thỏa mãn
Thêm vào đó, chúng ta sẽ cung cấp một số hướng dẫn cơ bản để đảm bảo du lịch ở các VQG và các khu BTTN được bảo vệ và không tạo ra các tác động tiêu cực
Để phát triển và quản lí DLST bền vững, Eugenio Yunis (2002) nêu ra 7
điểm cơ bản sau đây:
1 Phân vùng: đây là cơ sở để xác định, trong tất cả những khu bảo tồn thiên
nhiên, các vùng có chức năng và mức sử dụng khác nhau Du khách không được tự do đi lại khắp nơi trong khu bảo tồn hay ít nhất là không phải tất cả du khách đều vào cùng một lúc hay cùng một lượng như nhau
2 Quản lí nhu cầu du lịch: Du lịch toàn cầu đòi hỏi vùng tự nhiên phải được quản
lí để tạo sự liên kết giữa các bộ phận khác nhau :
(i) Xác định tổng số khách tối đa có thể vào khu vực này mỗi ngày
(ii) Có chính sách định giá phù hợp với đại đa số du khách
(iii) Xác định chính sách tiếp thị, phân phối và tăng trưởng song song với chính sách định giá và với số đông nhu cầu
3 Thiết kế quản lí du lịch: thiết kế chương trình quản lí cơ sở hạ tầng cũng như
tiện nghi du lịch trong vùng, sử dụng những vật liệu có sẵn ở địa phương (thiết kế sinh
Trang 9lượng mặt trời, gió và sự chiếu sáng, vật liệu tái chế, rác hữu cơ… tạo lối đi bộ và khu vực sử dụng thường xuyên chịu tác động mạnh Lập một hệ thống quản lí chất thải toàn diện
4 Quản lí khách du lịch: thiết kế những tuyến du lịch trong khu để quản lí sự đi
lại của du khách, thiết kế thời gian và các chương trình kế tiếp nhau và thực hiện chúng với những thông tin đặc biệt và bảng chỉ đường, thực hiện các qui tắc liên quan đến việc sử dụng các phương tiện trong khu vực; tạo các lối vào và điểm dừng với thời gian biểu và các hoạt động kế tiếp
5 Giám sát thường xuyên các tác động: Lập bảng kiểm tra toàn diện với mục
đích kép:
(i) Chọn các loài có thể thu hút sự quan tâm của du khách nhất
(ii) Cho phép kiểm kê theo giai đoạn số lượng loài Theo qui tắc kiểm tra sinh thái để đo những tác động từ du lịch, thiết lập hệ thống các tín hiệu và hệ thống thu nhập thông tin tương tự
6 Quản lí hành vi: thiết lập, phổ biến và đưa ra những qui tắc bắt buộc về hành
vi cho du khách Lập mã hoạt đôïng cho những người thực hiện tour tiếp thị khu vực và cho cả du khách Giáo dục cộng đồng xung quanh, nhân viên khu bảo tồn và du khách về tầm quan trọng của việc bảo tồn thiên nhiên nói chung và những loài bị đe doạ tuyệt chủng nói riêng Cung cấp thông tin phong phú cho du khách trước và trong khi họ đến tham quan khu bảo tồn, bao gồm cả thông tin mô tả khu vực, nơi cư trú, những nguy hiểm và rủi
ro, những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng, “những điều nên làm và cấm làm” trong khu
vực,…
7 Chia lợi nhuận cho việc bảo tồn và cải thiện địa phương: Thiết lập cơ cấu tổ
chức để đảm bảo một phần lợi nhuận từ hoạt động du lịch trong khu bảo tồn được sử dụng để tài đầu tư cho chính khu đó
1 1.4 Tổng quan về nghiên cứu du lịch sinh thái
Để xác định rõ vấn đề và phạm vi nghiên cứu của đề tài, dưới đây điểm qua tình hình nghiên cứu về DLST
1.1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ở nước ngoài Các chương trình nghiên cứu về DLST trên thế giới rất phổ biến như các nước Châu Á - Thái Bình Dương, Đông Nam Á Từ những năm 1990 trở lại đây đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu loại hình DLST của Hội DLST (1992, 1993); Chương trình môi trường Liên hiệp Quốc (1979); Tổ chức Du lịch Thế Giới (1994) đặc biệt là các công trình nghiên cứu về DLST của Burns; Holden (1995); PATA (1993); Cater (1993); Glaser (1996); Wright (1993) Đáng chú ý là công trình nghiên cứu “DLST hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lí” của
Kreg Lindberg (1999) và các chuyên gia của Hội DLST quốc tế Những đề tài
nghiên cứu trên đã tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu DLST ở Việt Nam
1.1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trang 10Ở Việt Nam, ngành du lịch hết sức mới mẻ chủ yếu phát triển hơn 30 năm nay, nhưng thật sự quan tâm chỉ trong những năm gần đây Năm 1990, năm du lịch Việt Nam vì thế lĩnh vực nghiên cứu phục vụ mục đích du lịch vẫn còn hạn chế
Trong nhiều năm qua, các công trình nghiên cứu như “Đánh giá tài nguyên du lịch Việt Nam” do Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch chủ trì đã phác hoạ đựơc bức tranh chung về tiềm năng, hiện trạng và một số xu hướng phát triển
du lịch Việt Nam
Năm 1992, công trình nghiên cứu luận án PTS khoa học của Đặng Duy Lợi về “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch” đã xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch tại một địa bàn cụ thể
Công trình “Những định hướng lớn về phát triển du lịch Việt Nam theo các vùng lãnh thổ” của Tổng cục Du lịch Việt Nam (1993) là một dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng tam giác phía bắc Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, vùng tam giác phía Nam TP.HCM – Biên Hòa – Vũng Tàu và trục Huế – Đà Nẵng
Công trình “Thiết kế các tuyến điểm du lịch trong và ngoài TP Hồ Chí Minh đến năm 2010” của công ty Du lịch Sàigon Tourist (1995) đã đánh giá
TNDLTN và TNDLNV, hiện trạng các tuyến điểm du lịch đang khai thác trong và ngoài TP Hồ Chí Minh trong phạm vi bán kính 150 km và các tuyến du lịch nước ngoài (outbound) tương đối đầy đủ trên cơ sở khoa học và thực tiễn Công trình đã thiết kế các điểm, tuyến, cụm du lịch và đề xuất các điểm du lịch cần đầu tư đưa vào khai thác, trong đó có các điểm du lịch vùng ĐBSCL
Năm 1995, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đã thực hiện đề tài nhánh về “Hiện trạng và những định hướng cho công tác qui hoạch phát triển du lịch vùng ĐBSCL (1996 – 2010)” với mục tiêu xác lập cơ sở khoa học cho qui hoạch phát
triển du lịch và đề xuất phương hứơng phát triển du lịch vùng ĐBSCL cùng các phương án phát triển cụ thể Nghiên cứu này căn cứ vào tiềm năng du lịch đã đề xuất các loại hình du lịch vùng ĐBSCL như DLST, du lịch sông nước, tham quan, vui chơi giải trí và du lịch biển, nhưng chưa nghiên cứu sâu về loại hình DLST cụ thể
Cho đến năm 1998 đã có công trình nghiên cứu của Phan Huy Xu và Trần Văn Thành về “Đánh giá TNDLTN và định hướng khai thác DLST vùng ĐBSCL”
Công trình nghiên cứu này đã xây dựng cơ sở khoa học cho việc thiết kế các điểm, tuyến, cụm DLST ở vùng ĐBSCL Các tác giả đã kiểm kê, đánh giá xếp loại 34 điểm TNDLTN và phác thảo các ý tưởng định hướng tạo các sản phẩm DLST đa dạng nhằm phát triển du lịch bền vững ở vùng ĐBSCL
Năm 2000, bài báo cáo khoa học về “Định hướng qui hoạch DLSTTN vùng ĐBSCL” của Trần Văn Thành và Phạm Thị Ngọc đã điều tra bổ sung 8 điểm DLSTTN, thiết kế 13 tuyến, 5 cụm DLSTTN vùng ĐBSCL
Trang 11 Gần đây, Phân viện Điều tra qui hoạch rừng II đã xây dựng nhiều dự án đầu tư phát triển VQG, các khu BTTN nhằm bảo tồn giá trị đa dạng sinh học và khai thác DLST ở vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐBSCL, trong đó có các
VQG Tràm Chim (1999), Phú Quốc (2001), U Minh Thượng (2001), khu BTTN Lung Ngọc Hoàng (2002) Các dự án này đã phác thảo các sản phẩm DLST cần được đưa
vào khai thác DLST
Nhìn chung, các nghiên cứu trên chưa kiểm kê đánh giá đầy đủ, chưa đi sâu vào định hướng thiết kế qui hoạch khai thác các điểm, tuyến, cụm, trung tâm DLSTTN cũng như việc định hướng khai thác tổng hợp DLSTTN lẫn nhân văn vùng ĐBSCL theo hướng phát triển bền vững
1.2 ĐẶT VẤN ĐỀ – LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Lí do chọn đề tài
Như trên đã trình bày, vấn đề khai thác những điều kiện tự nhiên, nhân văn của một vùng lãnh thổ cho mục đích du lịch đã được chú ý trong nước và trên thế giới Vùng ĐBSCL, với địa hình vùng sông nước khá đa dạng về mặt sinh thái, sông rạch, đất vườn, biển, đảo… cũng đã được nhiều tác giả đề cập với nhiều góc độ khác nhau : nghiên cứu về kinh tế – xã hội môi trường vùng lũ, khai thác những điều kiện tự nhiên phục vụ DLST (Phan Huy Xu, Trần Văn Thành; 1998) Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra các định hướng chung cho qui hoạch phát triển, sống chung với lũ, chưa đưa ra các cơ sở khoa học cho việc khai thác DLST theo hướng bền vững
Để khai thác DLST cùng ĐBSCL một cách có hiệu quả và bền vững, cần thiết phải định hứơng thiết kế cụ thể, khai thác tổng hợp điều kiện tự nhiên và nhân văn của vùng Vì vậy, để bổ sung vào sự chưa hoàn thiện của các công trình
nghiên cứu trước đây, việc nghiên cứu “Góp phần định hướng qui hoạch DLST vùng đồng bằng sông Cửu Long” đặt ra 2 vấn đề:
(i) Xây dựng hệ thống chỉ tiêu hợp lí đánh giá tài nguyên DLST, cung cấp những cơ sở khoa học cho việc qui hoạch DLST vùng ĐBSCL
(ii) Đề xuất các định hướng qui hoạch DLST thông qua việc xác định các điểm, tuyến, cụm, trung tâm DLST của vùng
Những kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các cơ quan chức năng quản lí những
cơ sở khoa học để phát triển DLST bền vững
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài đặt ra 2 mục tiêu cơ bản :
(i) Đánh giá tiềm năng tài nguyên DLST của vùng thông qua việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu hợp lí, có căn cứ khoa học
Trang 12(ii) Thu nhập và bổ sung các tư liệu tiềm năng tự nhiên, nhân văn của vùng nhằm đề xuất các định hướng qui hoạch DLST của vùng ĐBSCL theo hướng bền vững
Những kết quả nghiên cứu của đề tài không nhằm xây dựng một đề án qui hoạch Đề tài hướng tới 2 mục tiêu chung là:
(i) Cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các dự án phát triển DLST vùng ĐBSCL
(ii) Bổ sung tài liệu giảng dạy cho các môn học về địa sinh thái cảnh quan ứng dụng, địa lí DLST
1.2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt đựơc những mục tiêu đặt ra trong đề tài thực hiện các nội dung cơ bản sau đây :
(i) Đánh giá tình hình khai thác TNDLST,ø hiện trạng phát triển du lịch và khai thác DLST hiện nay của vùng ĐBSCL được trình bày khái quát trên cơ sở các tài liệu sưu tầm và khảo sát thực tế Phần này nêu ra các đánh giá theo cách tiếp cận quản lí du lịch toàn diện, bao gồm cả nhu cầu hiện trạng quản lí, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thống kê số lượng khách du lịch quốc tế đến ĐBSCL thời kỳ 1995 – 2001 Các kết quả nghiên cứu trình bày trong chương 2
(ii) Nghiên cứu xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và thực hiện việc đánh giá tiềm năng DLST Các kết quả đánh giá sẽ tạo cơ sở khoa học cho các đề xuất định hướng thiết kế và qui hoạch lãnh thổ DLST theo hướng bền vững Bên cạnh đó, Các kết quả và đánh giá tài nguyên DLST trình bày trong chương 2
(iii) Những kết quả trình bày trong chương3 là các đề xuất của tác giả trong việc cung cấp những cơ sở khoa học cho việc thiết kế và qui hoạch các tuyến, cụm, điểm DLST trong vùng ĐBSCL theo hướng bền vững
Trong phần phụ lục m ô tả các điểm tài nguyên DLST có ý nghĩa quốc tế và quốc gia ở vùng ĐBSCL
1.3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN, GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Để làm rõ những kết quả nghiên cứu mức độ giới hạn và những đóng góp về
cơ sở khoa học của đề tài, trong nội dung này sẽ trình bày hai vấn đề :
(i) Cơ sở phương pháp luận của qui hoạch DLST và phạm vi nghiên cứu của đề tài
(ii) Những phương pháp nghiên cứu liên quan đến các nội dung nghiên cứu về phân vùng địa lí tự nhiên (chương 3), đánh giá tài nguyên DLST (chương 4) và các đề xuất định hướng qui hoạch DLST (chương 3)
1.3.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Trang 13Những vấn đề đặt ra trong đề tài được dựa vào các phương pháp luận sau đây:
1.3.1.1 Phương pháp luận 1: Xem xét lãnh thổ du lịch theo phương pháp
luận hệ thống
Trong hoạt động khai thác và qui hoạch du lịch muốân đạt hiệu quả lâu bền nhất thiết phải xem xét đến khía cạnh không gian (lãnh thổ) của du lịch, tức tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL) TCLTDL được coi là một dạng của tổ chức lãnh thổ xã hội Với sự phát triển của xã hội, nhu cầu nghỉ ngơi và giải trí xuất hiện thông qua các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch Các chuyên gia du lịch đã phân biệt 3 hình thức của tổ chức lãnh thổ du lịch: hệ thống lãnh thổ du lịch, thể tổng hợp
du lịch và vùng du lịch
(i) Hệ thống lãnh thổ du lịch
Theo Leiper, hệ thống du lịch bao gồm vùng xuất phát du lịch và vùng đón nhận khách du lịch trong môi trường tự nhiên, kỹ thuật, xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị (hình 1.1) Đó là môi trường du khách ra đi và trở về sau một thời gian nghỉ ngơi, giải trí Các phân hệ trong môi trường du lịch liên hệ mật thiết với nhau từ nguồn chỉ dẫn thông tin du lịch đến nguồn khách du lịch, giao thông vận tải, tài nguyên du lịch, dịch vụ du lịch…
Theo Bưchơvarốp (1975), hệ thống lãnh thổ du lịch bao gồm 4 phân hệ: phân hệ khách du lịch, phân hệ cán bộ phục vụ, phân hệ công trình kỹ thuật và phân hệ tài nguyên du lịch có mối quan hệ tương tác với nhau (hình 1.2)
Hình 1.1 Hệ thống du lịch
(Theo Leiper, được chỉnh lại bởi Stephen F.Witt, Luiz Moutinho)
Môi trường tự nhiên, kỷ thuật, xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị
Dịch vụ bán vé
Điều hành du lịch
Đại lý
Quảng cáo và tiếp thị
Kênh giao thông vận tải Công nghiệp nhà hàng
Công nghiệp giải trí
Mua sắm
Dịch vụ du lịch.
VÙNG XUẤT PHÁT
Du khách ra đi
Những dịch vụ giải trí
Trang 14Hệ thống này cũng có mối quan hệ tương tác với môi trường các điều kiện phát sinh (nhu cầu du lịch) thông qua kênh phương tiện giao thông vận tải và các hệ thống lãnh thổ du lịch khác
Hướng tiếp cận qui hoạch theo hệ thống lãnh thổ du lịch sẽ giúp ích cho việc quản lí và phát triển du lịch bền vững
(ii) Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch (TTHLTDL)
TTHLTDL là sự kết hợp giữa các cơ sở du lịch với các xí nghiệp thuộc hạ tầng cơ sở được liên với nhau bằng các mối liên hệ kinh tế, sản xuất và cùng sử dụng chung vị trí địa lí, các nguồn TNTN và kinh tế của lãnh thổ (E.A Kotliarov, 1978) Mỗi TTHLTDL có lịch sử hình thành riêng và ở mỗi giai đoạn có cấu trúc và tổ chức lãnh thổ tương ứng Động lực chủ yếu của nó là nhu cầu du lịch của xã hội Đề tài coi ĐBSCL là một TTHLTDL đang ở giai đoạn hình thành và phát triển nhanh
trong giai đoạn 2000 – 2010 Đây là giai đoạn mà đề tài định hướng cấu trúc lãnh
thổ của TTHLTDL vùng ĐBSCL
Hình 1.2 Hệ thống lãnh thổ du lịch (M.Bưchơvarốp, 1975)
4
Chú giải:
I Môi trường với các điều kiện phát sinh (nhu cầu du lịch)
II Hệ thống lãnh thổ du lịch
1 Phương itện giao thông vận tải
2 Phân hệ khách du lịch
3 Phân hệ cán bộ phục vụ
4 Phân hệ tài nguyên du lịch
5 Phân hệ công trình kỹ thuật
I
5
II
Trang 15Luồng khách du lịch
Các mối liên hệ bên trong hệ thống
Các mối liên hệ với các hệ thống khác
Các mối liên hệ thông tin giữa I và II
(iii) Vùng du lịch
Khái niệm vùng du lịch được nhiều chuyên gia du lịch đề cập đến như E.A
Kotliarov (1978), K.X Mironeko – I.T Tirodokholebok (1981), I.I Pirojnik (1985) Ở
Việt Nam, Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông (1991) chấp nhận quan niệm vùng du lịch của
I.I Pirojnik bởi tính chất đầy đủ và hợp lí của nó Theo quan niệm hệ thống, vùng
du lịch được coi như một tập hợp hệ thống lãnh thổ du lịch và không gian kinh tế xã hội xung quanh nhằm đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động có hiệu quả, trong đó, hệ thống lãnh thổ du lịch là hạt nhân tạo nên vùng du lịch ĐBSCL với nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật tương đối đáp ứng nhu cầu phục vụ du lịch đã trở thành hạt nhân của vùng du lịch Nam Bộ
1.3.1.2 Phương pháp luận 2: Mối quan hệ giữa cảnh quan và DLST
Mối quan hệ giữa cảnh quan và DLST được thể hiện ở mối tương đồng quan
niệm về các đối tượng con người: con người - tự nhiên, không gian môi trường và
kinh tế thông qua hoạt động kinh tế xã hội Mỗi một đơn vị cảnh quan hàm chứa
những đặc thù về tiềm năng DLST, do đó là cơ sở để khai thác, tổ chức và quản lí hệ thống của đơn vị cảnh quan có thể được so sánh qua (bảng 1.1) Ta nhận thấy:
- Do đây là “dạng đặc biệt của địa hệ” mà nhiều cấu trúc đơn vị cảnh quan
sinh thái vừa là nơi diễn ra quá trình du lịch, vừa là tài nguyên, đối tượng cho thưởng ngoạn Tính tương đối ở đây bắt nguồn từ qui luật hình thành nên lãnh thổ địa lí
- Trên nhóm chỉ tiêu tài nguyên và tổ hợp thì hầu như khái niệm tài nguyên du lịch và cấu trúc cảnh quan có mối tương đồng với nhau
- Đến nhóm chỉ tiêu nhân văn, dân tộc thì các tài nguyên du lịch vừa là sản phẩm trong sự tác động tương tác giữa con người với tổng thể cảnh quan thiên nhiên hoặc ở nhiều cấu trúc cảnh quan sinh thái
Như vậy, mối quan hệ nội dung cảnh quan sinh thái với tài nguyên của du lịch nói chung và DLST nói riêng đã đề cập ở trên có thể tóm lại bởi sự tương đồng như sau :
Con người như một hợp phần cấu trúc, như lực lượng tổ chức, quản lí, lực lượng lao động với sự liên kết nền văn minh – văn hóa cộng đồng
Thiên nhiên như một nhân tố, đối tượng, chất liệu và là công cụ tạo ra sản phẩm kinh tế và du lịch.
Trang 16Không gian môi trường như điều kiện để tổ chức hoạt động, cũng là sản phẩm của chính sự hoạt động kinh tế và du lịch đó
1.3.2 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Như hình 1.2, một hệ thống lãnh thổ du lịch phải hoạt động trong môi trường xã hội có 4 thành tố: khách du lịch, cán bộ phục vụ, tài nguyên du lịch, công trình hạ tầng kỹ thuật
Trong pham vi nghiên cứu, đề tài chỉ giới hạn trong thành tố tài nguyên du lịch tự nhiên, chưa có điều kiện đề cập đến tài nguyên du lịch nhân văn, mặc dù trong quá trình khai thác DLST thường kết hợp cả hai loại tài nguyên đó Trong đó sẽ làm rõ 2 vấn đề đặt ra nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho qui hoạch DLST vùng ĐBSCL là:
(i) Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tài nguyên DLST tự nhiên của vùng ĐBSCL (ii) Đề xuất các định hướng qui hoạch điểm, cụm, tuyến, trung tâm DLST cho vùng ĐBSCL
Đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi tài nguyên DLST tự nhiên, nhưng đề cập đến khách du lịch, cán bộ phục vụ hay công trình hạ tầng kỹ thuật như trong một dự án qui hoạch DLST hoàn chỉnh
1.3.3 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU
1.3.3.1 Phương pháp đánh giá tài nguyên DLST vùng ĐBSCL
Để xây dựng hệ thống chỉ tiêu và đánh giá tài nguyên DLST ở chương 4, các
phương pháp của Đặng Duy Lợi (1992) và Nguyễn Minh Tuệ (1993) đã được áp
dụng Đề tài xây dựng thang đánh giá theo 4 chỉ tiêu thu hút khách DLST (tính hấp dẫn, tính đa dạng sinh học, tính an toàn, tính tiện nghi) và 4 chỉ tiêu quản lí khai thác (sức
chứa, tính thời vụ, tính liên kết và tính bền vững). Chỉ tiêu giá tiền không được đề cập
vì phí tham quan hiện nay chiếm một tỉ lệ rất thấp trong cơ cấu giá của sản phẩm
du lịch (chủ yếu do giá vận chuyển và giá khách sạn chi phối) Các chỉ tiêu được
đánh giá theo 4 bậc, tương ứng với các mức độ thuận lợi, áp dụng đánh giá cho các TNDLSTTN
1.3.3.2 Phương pháp qui hoạch các tuyến, cụm, điểm du lịch sinh thái
(i) Xác định các đơn vị du lịch sinh thái.
Việc xác định các đơn vị du lịch phụ thuộc vào kích thước của TTHLTDL và
quan điểm của chuyên gia du lịch Ở cấp lãnh thổ quốc gia Việt Nam, Vũ Tuấn
Cảnh và nnk (1991) đã xây dựng hệ thống phân vị từ nhỏ đến lớn như sau: điểâm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch và vùng du lịch Mỗi cấp
đơn vị du lịch, sức hấp dẫn, chất lượng môi trường, hiện trạng cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, sự đón nhận du khách, tính bền vững của thắng cảnh,
Trang 17công trình văn hóa Ở ĐBSCL, chúng tôi chọn các đơn vị DLST sau đây: điểm du lịch, cụm du lịch, tuyến du lịch, trung tâm du lịch
Điểm du lịch sinh thái: là một đơn vị lãnh thổ DLST, nơi tập trung một loại tài nguyên tự nhiên hoặc nhân văn, với kích thước lãnh thổ nhỏ, sức hấp dẫn chỉ lưu lại khách du lịch trong thời gian ngăn không quá 1 – 2 ngày (trừ điểm du lịch có chức năng chữa bệnh, an dưỡng, nghiên cứu khoa học) Tiện nghi du lịch của điểm DLST khá đầy đủ (khách sạn, phưong tiện thông tin, ăn uống, mua sắm…) Môi trường tự nhiên trong lành, môi trường xã hội an toàn, không bị quấy rối bởi tệ nạn xã hội, bạo lực
Cụm du lịch sinh thái: là đơn vị DLST kết hợp lãnh thổ của các điểm DLST cùng hoặc khác chức năng DLST, thuận tiện đi lại cho du khách, có sức hấp dẫn đa dạng hơn điểm DLST, thời gian lưu lại của du khách lâu hơn (2 – 3 ngày) Thí dụ: cụm DLST Hà Tiên – Tri Tôn Cụm DLST tương đối đa dạng về loại hình
du lịch, đảm bảo về an toàn du lịch
Tuyến du lịch sinh thái: là đơn vị DLST được nối với nhau bởi nhiều điểm DLST khác nhau về chức năng, đa dạng về loại hình DLST, thuận tiện về giao thông đường ô tô, đường thủy, đường hàng không Phạm vi lãnh thổ của tuyến DLST trên và dưới 150 km (tuyến du lịch nội vùng và ngoại vùng) Đối với tuyến DLST quốc tế, khoảng cách phụ thuộc vào nhu cầu của khách du lịch và khả năng tổ chức đưa đón khách của các doanh nghiệp du lịch Đặc trưng cơ bản của tuyến DLST phải có sức hấp dẫn cao để có thể lưu lại khách du lịch trong thờigian lâu hơn (ít nhất từ hai ngày trở lên), thỏa mãn nhiều nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức và mua sắm của khách
Trung tâm du lịch sinh thái: là đơn vị hạt nhân DLST của vùng DLST thu hút nguồn khách du lịch quốc tế và các vùng khác trong cả nước nhằm cung ứng cho các điểm, tuyến, cụm của vùng, đảm bảo phương tiện vận chuyển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch và dịch vụ du lịch, thu hút các cụm DLST và hình thành các tuyến DLST nối với các điểm và cụm DLST
(ii) Phương pháp xác định ranh giới các đơn vị DLST
Xác định ranh giới các đơn vị du lịch có thể dựa trên sự phân hóa nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch và giới hạn nhất định của môi trường sung quanh Để tiện cho việc quản lí, khai thác các đơn vị du
lịch, có thể vạch ranh giới theo đơn vị hành chính huyện, tỉnh, thành phố
(iii) Các phương pháp nghiên cứu qui hoạch DLST
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài vận dụng phương pháp luận qui hoạch du lịch theo quan điểm hệ thống và sinh thái phát triển, và sử dụng một số
phương pháp chủ yếu sau: phương pháp điều tra thực địa, phương pháp phân tích
tổng hợp, phương pháp chuyên gia ( trao đổi với các chuyên gia am hiểu sâu sắc
vấn đề nghiên cứu của đề tài) Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp sơ đồ, bản
đồ và sự trợ giúp của máy vi tính
Trang 18Nói chung, việc qui hoạch DLST một lãnh thổ có tiềm năng DLST và sức thu
hút khách du lịch từ môi trừơng xung quanh như ĐBSCL là một công việc khá phức tạp, đòi hỏi có nhiều thời gian, sự hợp tác của nhiều ngành, nhiều chuyên gia và kinh phí
1.3.4 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.3.4.1 Phương pháp đánh giá tổng hợp so sánh
Khi đánh giá tiềm năng của các điểm TNDLST tự nhiên, tôi đã sử dụng các chỉ tiêu đánh giá của Đặng Duy Lợi (1992) và các chỉ tiêu của Phan Huy Xu và Trần Văn Thành (1998) để đánh giá các điểm TNDLST tự nhiên đối với sự thu hút khách DLST và đầu tư, quản lí, khai thác Đối với tài nguyên DLST tự nhiên thuộc loại hình hệ sinh thái, khu BTTN, VQG chúng tôi sử dụng thêm chỉ tiêu đa dạng sinh học (Trần Văn Thành, Phạm Thị Ngọc, 2000)
1.3.4.2 Phương pháp bản đồ
Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống của địa lí học Chúng tôi đã sử dụng các bản đồ cùng tỉ lệ 1/250.000 và 1/500.000 để thống kê, xác định vị trí của các điểm TNDLST và thể hiện trên bản đồ các nội dung qui hoạch các điểm DLST, các tuyến DLST, các cụm DLST vùng ĐBSCL
1.3.4.3 Phương pháp phiếu
Trong quá trình thực hiện đề tài, để tiện cho việc phân loại các điểm TNDLST tự nhiên, tôi đã tiến hành lập phiếu Mỗi điểm TNDLST tự nhiên được ghi vào một phiếu riêng Ngoài ra trên phiếu có vị trí của điểm TNDLST tự nhiên, mô tả ngắn gọn về đặc trung sinh thái và hướng khai thác điểm TNDLST tự nhiên
1.3.4.4 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là một phương pháp cần thiết cho một nghiên cứu về DLST ở một vùng cụ thể Nhưng do hạn chế về kinh phí, thời gian, phương tiện, nên tôi chỉ đến được một số điểm TNDLST tự nhiên tiêu biểu để tiến hành khảo sát, chưa tổ chức được phiếu thăm dò du khách, chính quyền và cộng đồng địa phương, nên đây cũng là một hạn chế đáng tiếc trong quá trình thực hiện đề tài
1.3.5 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Việc thực hiện đề tài của luận văn đã trải qua các bước sau :
- Bước 1: Soạn thảo đề cương sơ lược Tiến hành sưu tầm tài liệu ở các thư viện và trên mạng internet, lập thư mục tham khảo, sao chép các tài liệu, thu thập những hình ảnh liên quan đến đề tài và lập đề cương chi tiết
- Bước 2: Khảo sát thực địa tất cả các điểm tài nguyên DLST tự nhiên đã thống kê được ở vùng ĐBSCL: ghi chép mô tả, chụp hình, quay phim, mạn đàm, điều tra phiếu
Trang 19- Bước 3: Xử lí tài liệu thô và viết nháp
- Bước 4: Viết thật hoàn chỉnh báo cáo cùng với việc lập biểu bảng, scan hình, vẽ sơ đồ, in ấn Đây là giai đoạn sau cùng của quá trình thực hiện đề tài
Trang 20PHẦN THỨ HAI
KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU
CHƯƠNG 2 : ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC
DLST, ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ ĐÁNH
GIÁ TÀI NGUYÊN DLST TỰ NHIÊN VÙNG ĐBSCL
CHƯƠNG 3 : ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG QUI HOẠCH
DLST TỰ NHIÊN VÙNG ĐBSCL
Trang 21CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC DLST, ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ ĐÁNH GIÁ
TÀI NGUYÊN DU LỊCH SINH THÁI TỰ NHIÊN
VÙNG ĐBSCL
Như đã trình bày trong phần tổng quan, phương pháp luận, bên cạnh yếu tố địa lí tự nhiên, muốn làm rõ cơ sở khoa học và nhận dạng các tài nguyên DLST của vùng ĐBSCL cần phải xem xét thêm các yếu tố:
(i) Tính hấp dẫn và tính đa dạng sinh học đối với du khách liên quan đến cảnh quan tự nhiên hoặc yếu tố văn hóa
(ii) Tính an toàn và tình trạng hạ tầng, cơ sở vật chất
Như đã giới hạn phạm vi nghiên cứu, đề tài không đi sâu trực tiếp vào xây dựng đề án qui hoạch DLST cho vùng mà chỉ nghiên cứu đưa ra các cơ sở khoa học Vì vậy, chương này tác giả đề xuất hệ thống chỉ tiêu và đưa ra kết quả đánh giá tài nguyên DLST tự nhiên vùng ĐBSCL Trước khi trình bày hệ thống các chỉ tiêu và kết quả đánh giá, căn cứ vào tài liệu thu thập được về hiện trạng và nhu cầu phát triển DLST ở ĐBSCL, phần đầu của chương 2 sẽ trình bày khái quát hiện trạng khai thác TNDLST của vùng
Hình 2.1 Các đơn vị địa lí hành chánh vùng
ĐBSCL
Trang 222.1 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC TNDLST VÙNG ĐBSCL
2.1.1 Vị trí địa lí và ý nghĩa du lịch đối với sự phát triển ĐBSCL
ĐBSCL là đồng bằng châu thổ của hạ lưu sông Mêkông, một trong những châu thổ rộng lớn và phì nhiều nhất khu vực Đông Nam Á và thế giới Thuộc lãnh thổ Việt Nam, châu thổ này rộng 39.568
km2, chiếm đến 12% diện tích tự nhiên cả nước, bao gồm 12 tỉnh và 01 thành phố: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau (hình 2.1) ĐBSCL tiếp giáp với Biển Đông và vịnh Thái Lan, tiếp giáp với nước Campuchia đã tạo nên vị trí thuận lợi cho các hoạt động du lịch và giao lưu quốc tế với các nước Đông Nam Á
Về khía cạnh du lịch, ĐBSCL nằm trong vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ, với trung tâm
du lịch là TP Hồ Chí Minh – hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ đã tạo cho ĐBSCL có vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam và được xác định là một trọng điểm với sản phẩm, du lịch đặc trưng là DLST và sông nước trong qui hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010. Hơn nữa, cầu Mỹ Thuận được nối liền hai bờ sông Tiền – sông Hậu, thành phố Cần Thơ được nâng cấp là thành phố trung ương và trở thành trung tâm DLST của vùng ĐBSCL, tạo thuận lợi cho vùng khai thác các nguồn khách du lịch quốc tế và quốc nội từ Đông Nam Bộ và cả nước
2.1.2 Đặc điểm môi trường vùng ĐBSCL
2.1.2.1 Môi trường tự nhiên và tài nguyên DLSTTN
(i) Về quá trình hình thành: ĐBSCL là sản phẩm bồi tụ phù sa nằm ở cửa sông Mêkông, có
lịch sử hình thành phức tạp theo phương thức tam giác châu với đỉnh châu thổ ở Phnôm-Pênh và hiện nay vẫn tiếp tục phát triển lấn biển, mở rộng hạ châu thổ ở mũi Cà Mau
(ii) Về cấu trúc địa hình: ĐBSCL là cấu trúc của châu thổ gồm phần thượng châu thổ – nơi có
những vùng trũng rộng lớn Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và những gờ sông, cồn sông và phần hạ châu thổ – nơi mà sông Tiền và sông Hậu phân nhánh với các cồn cát duyên hải cao đến 5m, thường xuyên chịu tác động của thủy triều và sóng biển Tuy nhiên, bề mặt của ĐBSCL lại nổi lên những đồi núi sót hoa cương (granit) Thất Sơn với đỉnh núi cấm (984m) có suối Thanh Long lượn
quanh chân núi, với đồi Tức Dụp và núi Cô Tô rất có giá trị khai thác DLST Đặc biệt, khu vực Hà
Tiên có nhiều đồi đá vôi với những hang động karst độc đáo và hàng trăm đảo, quần đảo, trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc đã tạo nên một vịnh Hạ Long thu nhỏ có sức hấp dẫn du khách
(iii) Về thủy văn: ĐBSCL vừa chịu tác động của chế độ triều Biển Đông và vịnh Thái Lan, vừa
chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn thượng nguồn sông Mêkông Mạng lưới sông rạch, kinh đào khá
dày đặc tạo môi trường sông nước thuận lợi việc khai thác du lịch đường sông với loại hình DLST sông nước Tình trạng ngập lụt vùng ĐBSCL thường bắt đầu tháng VII, VIII và kết thúc vào tháng XI, XII
Tác dụng tích cực của ngập lụt là bồi đắp phù sa, gia tăng sản lượng tôm cá, đẩy mặn, rửa chua, đồng thời cho phép khai thác loại hình DLST vào mùa nước nổi ở Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên Nguồn nước ngầm ở tầng Pleitoxen có sản lượng khai thác ở mức một triệu m3/ngày đêm đáp ứng nhu cầu cấp nước sinh hoạt nông thôn và đô thị, phục vụ hoạt động khai thác du lịch
Trang 23(iv) Về khí hậu: ĐBSCL có kiểu khí hậu cận xích đạo biển và có sự đồng nhất về nền nhiệt độ
cao quanh năm, trung bình khoảng 26,90C, tháng thấp nhất không dưới 250C, tháng cao nhất cũng không vượt quá 300C Mùa mưa từ tháng V đến tháng XI, tương phản với mùa khô từ tháng XII đến tháng IV tạo nên nhịp điệu mùa trong hoạt động du lịch Tài nguyên khí hậu vùng ĐBSCL tương đối thuận lợi cho việc khai thác du lịch nhờ ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và của bão
(v) Về hệ sinh thái (HST) và hệ động vật: ĐBSCL là một trong những vùng có HST phong phú
nhất của lưu vực sông Mêkông, là vùng sinh sản quan trọng của nhiều loại thủy sinh, nơi cư trú của các loài động vật hoang dã
- HST rừng ngập mặn rộng khoảng 300.000 ha, xếp thứ ba trên thế giới sau Philippines và
Brasil, tập trung nhiều nhất ở bán đảo Cà Mau, rất có giá trị về khai thác DLST
- HST đầm nội địa chủ yếu là HST rừng tràm, rộng 121.000 ha, trong đó có ý nghĩa khai thác
DLST là HST rừng tràm Vồ Dơi, Xẻo Quýt, Tràm Chim, Lung Ngọc Hoàng, U Minh Thượng…
- HST cửa sông rất nhạy cảm với tác động khai phá của con người, tạo cảnh quan có giá trị khai
thác DLST
- Hệ động vật ĐBSCL rất phong phú và đa dạng gồm 23 loài có vú, 386 loài và bộ chim, 35 loài
bò sát, 6 loài lưỡng cư và 260 loài cá Một số loài đã bị tuyệt chủng (cọp, vượn), một số loài bị đe dọa tuyệt chủng (rùa nước ngọt, cá sấu, lợn biển…) Đặc biệt trong các HST rừng ĐBSCL đã hình thành nhiều HST sân chim có giá trị khai thác DLST Ngoài ra ở Việt Nam duy nhất có VQG Tràm Chim, nơi sinh sống của loài sếu cổ trụi quí hiếm ở Đông Nam Á và thế giới, một tài nguyên DLSTTN rất có
giá trị khai thác DLST
Hệ thống đảo và quần đảo thuộc vùng ĐBSCL có giá trị khai thác DLST, lớn nhất là đảo Phú
Quốc Cảnh quan thiên nhiên ở đây rất đa dạng, hấp dẫn du khách với núi Hàm Ninh (605m), sông Dương Đông (15 km), bãi biển Dương Đông, thác Tranh v,v,,, Hơn nữa VQG Phú Quốc rất có giá trị
về đa dạng sinh học với 1.078 loài thực vật bậc cao, 140 loài động vật, trong đó có 28 loài thú, 67 loài
chim, 31 loài bò sát, đặc biệt có loài đặc hữu vượn tay trắng.
2.1.2.1 Môi trường nhân văn và tài nguyên DLST nhân văn
(i) Về quá trình khai thác: ĐBSCL chỉ mới được khai thác trong vòng 300 năm trở lại đây, trễ
hơn rất nhiều so với đồng bằng sông Hồng, nhưng ngày nay đã trở thành vùng lương thực, thực phẩm lớn nhất nước
(ii) Về dân cư: ĐBSCL là một châu thổ quy tụ dân cư khắp nơi trong nước, có nhiều dân tộc ít
người (Khmer, Hoa, Chăm) sống chung với người Việt, có nhiều cộng đồng tôn giáo khác nhau cùng tồn tại (Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo) Dân số hiện nay là 15.850.000 người, chiếm 21,86% dân số cả nước, mật độ dân số trung bình là 401 người/km2 Theo quá trình lịch sử, lúc đầu người dân đến định cư trên giồng cát cao, sau đó định cư trên các gờ đất cao ven sông, rạch, kinh đào đã tạo nên dạng phân bố dân cư đặc trưng của HST nhân văn sông nước vùng ĐBSCL
(ii) Về đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội: từ năm 1986 đến nay, kinh tế ĐBSCL tăng trưởng
nhanh nhưng không đều, tình trạng thiếu việc làm đang gia tăng Sự phát triển nông nghiệp có hiệu quả cao, đảm bảo an toàn lương thực và dư thừa để xuất khẩu chính là kết quả của một quá trình lâu
Trang 24dài khắc phục các trở ngại của thiên nhiên và huy động được tính năng động của người dân Mức sống của người dân được cải thiện dần: GDP/người đạt 210 – 240 USD (1993), cao hơn mức bình quân cả nước từ 10 – 20% Đô thị hóa vùng ĐBSCL chưa cao, chỉ đạt tỷ lệ 16% so với 22% trên qui mô cả nước Việc cung cấp nuớc sinh hoạt vẫn còn là vấn đề tồn tại và kéo dài, hầu hết dân cư dùng nước sông, rạch, kinh mương để tắm giặt và rửa thực phẩm đã dẫn đến tỉ lệ mắc bệnh lây lan đường ruột cao, một đe dọa chính đối với sức khoẻ Đa số hệ thống cấp nước ở các đô thị hiện nay đều lấy từ nguồn nước mặt Việc tiêu thụ năng lượng chủ yếu là năng lượng truyền thống từ củi, rơm rạ, trấu đến 78%, dầu mỏ 18%, điện 2%, than đá 2% Mức tiêu thụ điện vẫn còn thấp chỉ đạt 38 kwh/người Tình trạng suy dinh dưỡng, mức sống thấp, làm trầm trọng thêm tình trạng sức khỏe của người dân trong vùng Tỉ lệ mù chữ cao (28%), trình độ dân trí thấp trong giới nữ đã cản trở cho công tác giáo dục sức khỏe ban đầu và kế hoạch hóa gia đình
mật độ di tích lịch sử – văn hóa trên 100 km2, như đình, chùa, lăng mộ, pháo đài, di tích lịch sử, làng nghề; đặc biệt là lễ hội, phong tục tập quán và chùa Khmer, tập trung nhiều nhất ở tỉnh An Giang, Kiên Giang, Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu Tuy nhiên, đa số tài nguyên DLSTNV chỉ có ý nghĩa vùng và địa phương, ngoại trừ các TNDLNV có ý nghĩa quốc gia như lăng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, khu lưu niệm Bác Tôn, khu di tích núi Sam và quần thể di tích lăng mộ họ Mạc ở Hà Tiên
Nhìn chung, môi trường tự nhiên và tài nguyên DLSTTN vùng ĐBSCL rất phong phú và đa dạng, tạo
cơ sở cho việc khai thác các loại hình DLST hang động – đồi núi, sinh thái sông nước, sinh thái rừng – sân chim; cùng với môi trường nhân văn và TNDLNV tạo thuận lợi cho việc thiết kế các điểm, tuyến và cụm DLST tự nhiên và nhân văn Bên cạnh những thuận lợi trên, vùng ĐBSCL có một số hạn chế trong hoạt
động khai thác DLST như tình trạng ngập lụt, lốc xoáy, nước sạch, đường sá và phương tiện di chuyển,
giảm sút về đa dạng sinh học
2.1.3 Hiện trạng phát triển du lịch
2.1.3.1 Số lượng khách du lịch
ĐBSCL là một trong những vùng có số lượng khách du lịch đến tham quan thấp nhất trong cả
nước
(i) Khách du lịch quốc tế: Năm 1992, chỉ có 27.342 khách du lịch quốc tế và 721.563 khách du
lịch nội địa, đến năm 1995 khách du lịch quốc tế tăng lên 5,2 lần (143.580 người), và đến năm 2000 lượng khách du lịch quốc tế đạt 345.222 người tức tăng 2,3 lần năm 1995 (bảng 1, hình 2)
Số khách quốc tế lưu trú ở ĐBSCL tăng từ 41.110 người năm 1995 tăng lên 129.963 người vào năm 2000, tức tăng hơn 2,7 lần (bảng 1, hình 3)
Số ngày lưu trú của khách quốc tế ở ĐBSCL không ổn định nhưng năm 2000 cũng tăng 1,6 lần so với năm 1995 (bảng 1 hình 5)
Trang 25Tỉnh có lượng khách quốc tế đến đông nhất là Tiền Giang, năm 2000 đạt 139.830 người, tăng 2,1 lần so với năm 1995, kế đến là tỉnh Cần Thơ (62.010 ngưới), Bến Tre (57.060 người) (bảng 2.1, hình 2.2)
(ii) Khách du lịch nội địa: có xu thế tăng hàng năm Số lượng khách du lịch nội địa đông nhất ở
các tỉnh Kiên Giang, Cần Thơ, An Giang, Bến Tre Năm 2000, khách du lịch nội địa đến tỉnh Kiên Giang đạt 127.357 người, tăng gần 1,8 lần so với năm 1996 Tỉnh Cần Thơ năm 2000 có lượng khách
du lịch nội địa là 126.925 người, tỉnh An Giang là 118.686 người (bảng2.2)
Đáng chú ý là tỉnh Cà Mau có sức hấp dẫn khách du lịch nội địa khá nhanh Lượng khách đến
tỉnh Cà Mau năm 2000 là 100.000 lượt người, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1991-2000 là
20,05% Trong đó, số lượng khách quốc tế 4.000 lượt người tăng gấp 18,14 lần so với 1991
- Tổng số ngày khách năm 2000 là 147.766 ngày, tăng gấp 8,3 lần so với 1991 Ngày khách trung bình là 1,48 ngày
- Số ngày khách trung bình của khách nội địa có xu hướng tăng dần: năm 1991 là 0,95 ngày; năm
2000 là 1,49 ngày; số ngày trung bình của khách quốc tế có xu hướng giảm: năm 1991 là 1,88 ngày; năm 2000 là 1,49 ngày
- Khách du lịch đến tỉnh Cà Mau chủ yếu là khách DLST, công vụ thăm hỏi, và du lịch bình dân
Hình thức du lịch chủ yếu theo đoàn, theo gia đình và cá nhân
Kết quả điều tra tại các điểm du lịch Cồn Ông Trang, Bãi Khai Long, Mũi Cà Mau thì hầu như ngày nào cũng có các đoàn khách đến tham quan Đặc biệt, đoàn khách nào của trung ương, của tỉnh bạn đến công tác tại tỉnh đều có yêu cầu đến Đất Mũi
2.1.3.2 Doanh thu du lịch
Tăng trung bình hàng năm là 52%, nguồn thu chủ yếu từ dịch vụ khách sạn và ăn uống Doanh
thu từ khách du lịch quốc tế năm 1994 tăng gấp hơn 4 lần năm 1992, doanh thu từ khách du lịch nội địa chỉ tăng gần gấp đôi Tỉnh Cần Thơ củ, năm 1995 đạt 42 tỷ 233 triệu đồng, nộp ngân sách nhà nước 12 tỷ 680 triệu đồng Tỉnh Tiền Giang, doanh thu du lịch tăng bình quân năm 62% Tỉnh Đồng Tháp năm 1994 doanh thu du lịch đạt 9 tỷ 530 triệu đồng
2.1.3.3 Lao động du lịch
Tốc độ về số lao động tăng khá cao, 1993 tăng 762 người, năm 1994 tăng thêm 1090 người
Số lao động làm việc năm 1994 trong các khách sạn, Công ty lữ hành là 3.310 người, nhưng chất lượng đội ngũ lao động du lịch còn quá thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển du lịch vùng ĐBSCL
2.1.3.4 Đầu tư phát triển du lịch
Cho đến nay ở các tỉnh ĐBSCL chưa thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà đầu tư quốc tế
và quốc nội, một nguyên nhân cản trở sự phát triển của du lịch vùng ĐBSCL
Bảng 2.1 Tình hình khách du lịch quốc tế đến vùng ĐBSCL từ 1995-2000
Trang 26Stt Tỉnh Hạng mục 1995 1996 1997 1998 1999 2000
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú(ngày)
4.000
- 6.000
- Số khách lưu trú(người)
- Số ngày lưu trú(ngày)
4.795 6.569
-
3.604 4.865
-
4.630 6.945
-
2.520 4.511
-
2.520 3.452
-
4.000 5.953
-
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
38.673 33.300 41.349
37.974 37.798 46.876
32.998 32.863 42.198
39.050 38.680 46.752
50.433 47.506 59.935
62.010 56.715 64.726
Tháp
- Số khách đến(người)
- Số khách lưu trú(người)
- Số ngày lưu trú(ngày)
7.458 1.753 1.816
20.096 3.705 3.922
23.767 6.450 6.916
27.081 5.395 6.255
30.502 4.683 5.973
21.740 4.480 5.520
Giang
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
-
-
-
- 9.072 23.705
- 5.785 5.985
- 11.518 19.343
- 12.252 19.019
- 20.949 28.943
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
Trang 27- Số ngày lưu trú (ngày)
9
Sóc Trăng (*)
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
6.000
-
9.000
Giang
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
66.473 5.307 7.478
-
-
-
83.825 3.921 5.290
82.314 4.040 4.474
124.143 9.001 13.180
139.830 4.482 7.218
11 Trà Vinh
(*)
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
1.000
- 1.800
12 Long Vĩnh
(*)
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
15.000
- 25.000
- 25.405 31.845
- 22.888 27.291
- 19.339 25.605
- 22.046 26.888
30.000 33.937 37.751
13
Đ ồng bằng sông Cửu Long
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
143.580 47.110 150.711
86.159 80.845 106.348
177.050 78.976 87.862
186.282 83.685 102.101
262.650 99.057 125.160
345.222 129.963 246.865
Nguồn: - Niên giám năm 2000 các tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang,
Kiên Giang
- Niên giám năm 2001 các tỉnh Bạc Liêu, Tiền Giang, Long An
- (*): Viện nghiên cứu phát triển du lịch (ITDR)
Bảng 2.2 Tình hình khách du lịch nội địa đến vùng ĐBSCL từ 1995-2000
Trang 28lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
- - -
2 Bạc
Liêu
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
3 Bến
Tre
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
40.000 (*)
- 120.000
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
28.007 34.169
-
85.422 108.486
-
86.597 114.308
-
95.000 141.813
-
5 Cần Thơ
- Số khách đến người) -Số khách lưu trú (người) -Số ngày lưu trú (ngày)
141.449 141.315 182.330
150.178 131.918 165.350
143.895 139.033 165.923
139.506 138.323 160.011
145.971 139.421 170.818
126.925 125.603 149.360
6 Đồng Tháp
- Số khách đến (người)
- Số khách
59.943 36.353
57.275 38.988
71.193 57.221
55.310 39.876
48.450 47.209
47.070 43.430
Trang 29lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
43.290 47.939 74.017 48.327 62.799 60.370
7 Giang Kiên
- Số khách đến (người)
- Số khách lưu trú (người)
- Số ngày lưu trú (ngày)
-
-
-
- 71.152 115.337
- 77.044 147.791
- 72.992 139.116
- 96.301 128.180
- 127.357 161.606
Nguồn: - Niên giám năm 2000 các tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang,
Kiên Giang
- Niên giám năm 2001 các tỉnh Bạc Liêu, Tiền Giang, Long An
- (*): Viện nghiên cứu phát triển du lịch (ITDR)
Bảng 2.3 Số lượng khách sạn, phòng, giường của các tỉnh vùng ĐBSCL từ 1995-2000
Stt Tỉnh
Hạng mục 1995 1996 1997 1998 1999 2000
1 Giang An
- Số khách sạn
- Số phòng
- Số giường
29
772 1.269
30
756 1.223
31
781 1.368
27
753 1.368
34
922 1.590
33
953 1.642
5 Giang Kiên
- Số khách sạn
41
850 1.500
Trang 30- Số giường
6 Tiền
Giang
- Số khách sạn
- Số phòng
- Số giường
42 1.238 1.888
89 1.742 2.267
105 2.005 2.767
103 1.924 2.775
130 2.513 3.809
134 2.848 3.879
Nguồn: - Niên giám năm 2000 các tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang,
Kiên Giang,
- Niên giám năm 2001 các tỉnh Bạc Liêu, Tiền Giang, Long An
- (*): Viện nghiên cứu phát triển du lịch (ITDR)
Bảng 2.4 Các loại khách sạn ở Cần Thơ từ 1995-2000 Loại khách sạn 1995 1996 1997 1998 1999 2000
- Chưa đạt tiêu chuẩn
2.1.4 Hiện trạng CSHT & VCKT ngành du lịch
2.1.4.1 Về giao thông (hình 2.3)
(i) Đường bộ
- QL 4 cũ (1A) dài 350 km nối từ Cần Thơ - Vĩnh Long - Mỹ Tho đi TP Hồ Chí Minh về phía Bắc và từ Cần Thơ đi Sóc Trăng - Cà Mau và tiếp nối đi Năm Căn, cực Nam của đất nước
- Đường từ Cần Thơ đi Long Xuyên theo QL 27, 80 và 90
- Đường QL 91 từ Long Xuyên đi Châu Đốc (An Giang)
Ngoài ra còn nhiều tuyến nội tỉnh là liên tỉnh dài 13.747 km tạo thành một mạng lưới giao thông đường bộ nối liền các địa phương trong vùng Tuy nhiên, chất lượng đường của mạng lưới giao thông đường bộ vùng ĐBSCL là thấp, chỉ có một số tuyến đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật tối thiểu, đảm
Trang 31bảo cho sự giao lưu như tuyến QL1A nối Cần Thơ với TP Hồ Chí Minh Tuy nhiên, đến nay nhiều đoạn trên tuyến đường này đã xuống cấp, và đang đầu tư sửa chữa và nâng cấp Trở ngại lớn nhất hiện nay là phải qua phà bắc Cần Thơ và phà bắc Vàm Cống
(ii) Giao thông đường thủy
Giao thông đường thủy là một trong những thế mạnh đặc biệt của vùng ĐBSCL Với mạng lưới
sông, kinh, rạch dày đặc có tổng chiều dài khoảng 5000km
9.15 48.102
85 70.877
0 30 60 90 120 150 180
3 )
Bạc Liêu
Cần Thơ Cà
Mau
Đồng Tháp
Kiên Giang
Long An Tiền
Giang Trà VinhVĩnh Long
Hình 2.2.g Biểu đồ số ngày lưu trú của khách nội địa tại các tỉnh
vùng ĐBSCL năm 2000
Trang 3211.133 3.373
57.06
4
62.01
21.74 0.74 13 139.83
3 30 0
20 40 60 80 100 120 140
Bạc Liêu
Bến Tre Cà
Mau
Cần Thơ Đồng
Tháp
Long An Sóc Trăng
Tiền Giang
Trà Vinh
Vĩnh Long
Hình 2.2.b Biểu đồ khách du lịch quốc tế đến các tỉnh
3 )
Năm
Hình 2.2c Biểu đồ số ngày khách du lịch quốc tế lưu trú
tại vùng ĐBSCL từ năm 1995-2000
Hình 2.3 Hệ thống đường giao thông
vùng ĐBSCL
Trang 333 )
Bạc Liêu Cần Thơ Đồng Tháp Kiên Giang Long An Tiền Giang Vĩnh Long
Hình 2.2.d Biểu đồ khách du lịch quốc tế lưu trú tại các tỉnh
176.735
34 171
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180
3 )
An Giang
Bạc Liêu
Bến Tre
Cà Mau
Cần Thơ
Đồng Tháp
Long An
Tiền Giang
Trà Vinh
Vĩnh Long
Hình 2.2.e Biểu đồ khách du lịch nội địa đến các tỉnh
3 )
Bạc Liêu Cần Thơ ĐồngTháp Kiên Giang Long An Tiền Giang Vĩnh Long
Hình 2.2.f Biểu đồ khách du lịch nội địa đến lưu trú tại các
tỉnh vùng ĐBSCL năm 2000
Tuy nhiên trong nhiều năm qua vấn đề vận chuyển khách theo tuyến đường biển và đường sông
đến ĐBSCL vẫn chưa được đầu tư khai thác phù hợp với tiềm năng to lớn của vùng Hiện chưa có một
công ty vận chuyển du lịch nào tổ chức khai thác thế mạnh này của vùng
Trang 34(iii) Đường hàng không: còn hạn chế do hệ thống các sân bay vùng ĐBSCL chưa đáp ứng được
yêu cầu cất, hạ cánh của các máy bay trọng tải lớn Hiện nay có 4 sân bay đang hoạt động (Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá và Phú Quốc) nhưng có qui mô nhỏ, đã xây dựng từ lâu, bị hư hỏng nhiều trong chiến tranh và mới được khôi phục đưa vào sử dụng trong vòng mấy năm nay, chủ yếu phục vụ vận chuyển hàng hóa, khách du lịch với qui mô hết sức hạn chế
2.1.4.2 Về cung cấp điện, nước
(i) Nguồn cung cấp điện: từ trước đến nay chủ yếu dựa vào một số nhà máy nhiệt điện ở Trà
Nóc (Cần Thơ), công suất và sản lượng điện chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong vùng Đầu năm 1995, đường dây tải điện 500 kv Bắc Nam đã hoàn thành tạo cơ sở cho việc cải thiện tình trạng khan hiếm điện Tình hình cung cấp điện có cải thiện hơn nhưng còn thấp với mức trung bình khoảng 200 - 250 kwh/ năm Trong khi nhu cầu sử dụng điện phục vụ sinh hoạt và phát triển kinh tế, trong đó có du lịch, ngày một tăng Tuy nhiên do nhu cầu phát triển du lịch, nguồn cung cấp điện đã đến được điểm TNDLST Mũi Cà Mau, mũi đất tận cùng của Tổ quốc
(ii) Nguồn cung cấp nước: rất phong phú, đặc biệt là nguồn nước mặt Tuy nhiên ở khu vực
các cửa sông, do ảnh hưởng của triều, các nguồn nước mặt hầu như bị nhiễm mặn, ảnh hưởng đến khả năng sử dụng Hiện nay toàn vùng mới khai thác nước ngầm khoảng 500.000 m3/ngày phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và khai thác du lịch
2.1.4.3 Bưu chính viễn thông
Cùng với sự phát triển của ngành bưu chính viễn thông, mạng lưới bưu chính viễn thông ĐBSCL cũng đã được cải thiện đáng kể trong thời gian qua Hiện nay, tại hầu hết các huyện, xã đều có bưu điện Tại các thành phố, tỉnh lị và các trung tâm dân cư tập trung đều có máy điện thoại, máy Fax và có khả năng liên lạc trực tiếp đi các tỉnh thành trong cả nước và quốc tế Đây là một điều kiện thuận lợi đối với sự phát triển của du lịch vùng ĐBSCL
(d) Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch
Năm 1992, toàn vùng có 1.672 phòng khách (trong đó có 524 phòng quốc tế chiếm 31,3%) Năm
1993 lượng phòng tăng thêm 10,8% cùng với 1.853 buồng (có 603 buồng quốc tế chiếm 32,5%) Sang năm 1994, cùng với lượng khách đến vùng tăng nhanh, số lượng phòng khách cũng tăng mạnh (tăng 65,1% tương ứng với 1.207 phòng) Trong tổng số phòng khách của vùng, số lượng phòng nội địa chiếm tỉ lệ lớn Năm 1992 số phòng nội địa gấp hơn 2 lần số phòng quốc tế Điều này phản ánh tương đối chính xác số lượng khách đến với vùng chủ yếu vẫn là khách nội địa Năm 1994, số phòng nội địa gấp gần 4 lần số buồng quốc tế, phục vụ đầy đủ khách du lịch trong nước có nhu cầu tham quan du lịch tại vùng Bên cạnh hệ thống cơ sở lưu trú, các điểm dịch vụ (massage, giặt ủi ) còn thiếu thốn, không đồng bộ, không đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế
Từ năm 1995 đến năm 2000, chỉ tính riêng các tỉnh An Giang, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ cũ, Kiên Giang, Tiền Giang, Trà Vinh (bảng 2.3), số khách sạn tăng từ 42 lên 134 cái, số phòng khách tăng từ 1.298 lên 2.848 cái, tức tăng 2,1 lần, và số giường tăng từ 1.888 lên 3.879 cái, tức tăng gấp 2 lần Riêng ở tỉnh Cần Thơ từ năm 1995-2000 đã có 3 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao, 2 khách sạn đạt
Trang 35tiêu chuẩn 4 sao, 1 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao (bảng 2.4) Nhìn chung, cơ sở vật chất kỹ thuật
phục vụ cho ngành du lịch của các tỉnh vùng ĐBSCL còn quá nghèo nàn Hầu hết các cơ sở lưu trú có
qui mô nhỏ, trang thiết bị nội thất còn đơn sơ Số lượng các khách sạn đạt tiêu chuẩn 1-2 sao, có đầy đủ dịch vụ và thiết bị hiện đại còn quá ít so với nhu cầu phát triển du lịch
2.1.5 Hiện trạng khai thác TNDLST vùng ĐBSCL
Thực tế hiện nay việc khai thác TNDLSTTN vùng ĐBSCL chủ yếu chỉ mới khai thác các TNDLNV qua các tour TP Hồ Chí Minh - Tiền Giang - Đồng Tháp - Vĩnh Long - Bến Tre - Cần Thơ -
An Giang - Kiên Giang Mục đích của các tour là khách du lịch tìm hiểu cuộc sống đời thường của cư dân ĐBSCL, tham quan các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc tôn giáo, chùa chiền, đình miếu, lăng mộ, tham quan cảnh quan sông nước, thưởng thức cây trái miệt vườn và đờn ca tài tử Nam Bộ Các hãng du lịch trong nước và địa phương ĐBSCL chỉ mới bước đầu quan tâm khai thác hệ thống sân chim (Vàm Hồ, Gáo Giồng, Bằng Lăng, Bạc Liêu…), khu rừng lịch sử Xẻo Quýt, Thạch Độäng, hòn Phụ Tử-chùa Hang Việc khai thác các điểm TNDLSTTN huyện đảo Phú Quốc, U Minh Thượng, Đồng Tháp Mười hầu như còn bỏ ngỏ, hoặc chỉ mới bắt đầu khai thác năm 2002 ở điểm DLST Đất Mũi, Lung Ngọc Hoàng, Hòn Chông, Nuí Cấm, Tràm Chim, Xẻo Quýt và chỉ có một ít đối tượng khách du lịch đi theo loại hình nghiên cứu khoa học và tham quan Nhìn chung, cho đến nay vùng
ĐBSCL chưa hình thành qui hoạch loại hình DLST đúng nghĩa, chỉ khai thác loại hình du lịch xanh sông nước-nhà vườn
2.1.6 Đánh giá chung hiện trạng khai thác tài nguyên DLST
Nhìn toàn cảnh cho thấy hiện trạng khai thác tài nguyên DLST vùng ĐBSCL:
(i) Phát triển chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên DLSTTN và DLSTNV, đặc biệt là chưa khai thác đúng mức tiềm năng các tài nguyên DLSTTN như các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các cảnh quan sinh thái, các khu rừng lịch sử – văn hóa – môi trường rất độc đáo có giá trị khai thác DLST mang tính quốc tế
Nguyên nhân chính là do:
(a) Tài nguyên DLSTTN tương đối phân tán, chưa chọn lọc tập trung để xây dựng các điểm DLSTTN điển hình trong toàn vùng ĐBSCL dẫn đến chưa xây dựng các tuyến DLSTTN, cụm DLSTTN, khu DLSTTN hấp dẫn tiêu biểu cho vùng ĐBSCL
(b) Kết cấu hạ tầng yếu kém, hệ thống giao thông đường bộ xuống cấp, việc đi lại vận chuyển khách gặp nhiều khó khăn, trở ngai do chưa có cầu qua sông Hậu Các sân bay, cảng biển chưa có điều kiện đầu tư để có thể tiếp nhận các loại máy bay, tàu biển có trọng tải lớn… Hệ thống cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển DLST
(c) Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn yếu kém Toàn bộ vùng ĐBSCL hiện nay chưa có nhiều khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế theo đúng nghĩa của nó kể cả các khách sạn ở thành phố Cần Thơ, nơi được coi là trung tâm giao tiếp của ĐBSCL, và trong tương lai sẽ là trung tâm DLST của vùng ĐBSCL
Trang 36(d) Chưa có biện pháp thu hút được vốn đầu tư phát triển DLST của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
(e) Công tác tiếp thị, tuyên truyền quảng cáo DLSTTN còn hạn chế Các tỉnh ĐBSCL chưa nghiên cứu đầy đủ và giới thiệu được các sản phẩm DLST độc đáo, hấp dẫn đặc trưng cho địa bàn và mỗi địa phương tỉnh, thành cụ thể
(f) Chất lượng các dịch vụ DLST còn ở trình độ thấp, đội ngũ cán bộ nhân viên DLST chưa đựơc đào tạo cơ bản để đáp ứng các yêu cầu phát triển DLST ở ĐBSCL
(g) Do đặc điểm phát triển DLST của địa bàn là theo tuyến đường bộ, đường sông… nhưng phối hợp giữa các địa phương trong địa bàn để xây dựng các tuyến DLSTTN và phân bố các điểm DLSTTN, các cảng sông, các cơ sở lưu trú, các loại hình phương tiện vận chuyển khách còn chưa được thiết lập
(ii) Loại hình khai thác các TNDLST còn đơn điệu mang tính phổ thông chưa chú trọng loại hình DLSTTN
(iii) Chưa qui hoạch thiết kế đầy đủ các điểm, tuyến, cụm, khu DLSTTN ở các địa phương có nguồn tài nguyên DLSTTN phong phú và đa dạng
2.2 ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DLST TỰ NHIÊN
2.2.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tài nguyên DLSTTN
Trên cơ sở phương pháp ghi ở mục 1.3.1, 8 chỉ tiêu được áp dụng đánh giá các điểm tài nguyên DLST tự nhiên vùng ĐBSCL (bảng 2.5)
Bảng 2 5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tài nguyên DLSTTN
STT Các chỉ tiêu đánh giá Hệ
số
Điểm đánh giá
4 chỉ tiêu thu hút khách du lịch
4 Tính tiện nghi (Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật) 2 4 3 2 1
4 chỉ tiêu quản lí, khai thác
8 Tính sức chứa khách du lịch 1 4 3 2 1
Trang 372.2.1.1 Tính hấp dẫn
Tính hấp dẫn khách du lịch là yếu tố có tính tổng hợp và thường được xác định bằng vẻ đạp của cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng của địa hình, sự thích hợp của khí hậu đối với sức khỏe, sự đặc sắc và độc đáo của hiện tượng và di tích tự nhiên và qui mô về không gian của điểm tài nguyên
a Rất hấp dẫn: có trên 5 cảnh quan đẹp, đa dạng, 3 hiện tượng di tích tự nhiên đặc sắc, độc
đáo, đáp ứng được trên 5 loại hình DLSTTN
b Khá hấp dẫn: có từ 3 – 5 cảnh quan đẹp, đa dạng; có 1 hiện tượng di tích tự nhiên đặc sắc,
đáp ứng 3 – 5 loại hình DLSTTN
c Trung bình: có từ 1 – 2 cảnh quan đẹp, đáp ứng 1 – 2 loại hình DLSTTN
d Kém: chỉ có cảnh quan đơn điệu, đáp ứng 1 loại hình DLSTTN
2.2.1.2 Tính đa dạng sinh học
Giá trị của ĐDSH trên Trái đất đã từng được rất nhiều ngừơi nhắc đến, song để đánh giá được nó là cả một vấn đề lớn Nhưng phương thức tiếp cận thông thường và tìm cách đánh giá bằng ước đoán để nhận giá trị bình quân, sau đó nhân với tổng số các loài hiện có nếu quả thực chúng ta biết được con số đó Điều cần được nhấn mạnh ở đây là loài có thể có giá trị về mặt hàng hóa (giá trị sử dụng về kinh tế), về giá trị thẩm mỹ và giá trị đạo đức Chỉ tiêu này được áp dụng để đánh giá TNDLSTTN như các khu BTTN, VQG, HST
a Rất tốt: có từ 3 – 5 giá trị sử dụng về mặt sử dụng đạo đức và thẩm mỹ
b Khá tốt: có từ 2 – 3 giá trị sử dụng về mặt sử dụng đạo đức và thẩm mỹ
c Trung bình: có từ 1 – 2 giá trị sử dụng về mặt sử dụng đạo đức và thẩm mỹ
d Kém: giá trị về mặt sử dụng kinh tế, đạo đức, thẩm mỹ không hiệu quả
Thí dụ, VQG Tràm Chim mang đầy đủ những nét đặc trưng về đa dạng sinh học của cảnh quan đất ngập nước Đồng Tháp Mười Tràm Chim là một mẫu chuẩn quốc gia về HST đất ngập nước quan trọng và đặc trưng của ĐBSCL Trong VQG có số lượng cá thể các loài động thực vật khá phong phú Đặc biệt là nơi hội tụ của nhiều động thực vật đặc hữu và quý hiếm, điển hình nhất là loài sếu đầu đỏ
(Grus Antigone Sharpii), lúa trời (Ozyza rufipogon), cỏ năng (Eleocharis dukid), cây tràm… Những chỉ tiêu giá trị của đa dạng sinh học ở VQG Tràm Chim được đánh giá qua giá trị sử dụng của loài, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức của loài
Giá trị sử dụng của loài
Khi loài có giá trị sử dụng nghĩa là nó có thể được chuyển thành sản phẩm mua bán được trên thị trường: nhân của hạt sen, cây cỏ bắc có thể lấy làm thuốc (dược liệu) giải nhiệt trên thị trường (nóng trong người uống thuốc cỏ bắc sẽ giải nhiệt, hạt sen dùng làm thuốc ngủ, ngó sen dùng làm thức ăn (làm gỏi) Cây tràm, cây gáo được sư dụng làm nhà, làm nguyên liệu giấy Ngoài ra còn có cỏ ống, cây tre làm các mặt hàng đan lát để sử dụng và xuất khẩu Bên cạnh đó, những cây này còn tạo nét văn hóa đặc trưng và cải tạo bầu không khí thêm trong sạch, mát mẻ
Trang 38Việc cắt cỏ sẽ hỗ trợ sản xuất và chăn nuôi góp phần làm tăng thu nhập cho các hộ, dồng thời giảm lượng vật liệu gây cháy rừng trong mùa khô Thu hái rau muống sen súng, lúa trời, cá cũng giúp làm tăng thu nhập cho các hộ Như cậy hàng năm những động thực vật này đã mang lại cho nhân dân và VQG này khoảng 230 triệu đồng Ngoài ra còn có đồng lúa trời (lúa ma) với diện tích khoảng 400
ha thu hoạch từ 10 – 15 tấn lúa hàng năm Đây cũng là một sản phẩm độc đáo cho khách DLST đồng thời làm tăng những giá trị tự nhiên của HST ngập nước
Bảng 2.6 Kết quả giá trị sử dụng của các loài: đồng cỏ, sen, súng, cá… ở VQG Tràm Chim vào
hàng năm (Nguồn: UBND Đồng Tháp, 1990)
Cắt cỏ làm kiệu 100 người/năm 2 120 tấn 30 triệu
Chăn thả trâu 12 Rải rác 50 con trâu 15 triệu
Giá trị thẩm mỹ (thưởng thức, giải trí) của loài
Có nghĩa là sự tồn tại của loài góp phần cải thiện đời sống con người, đáp ứng nhu cầu thưởng thức, giải trí của khách DLST Chẳng hạn khi chúng ta thưởng thức tiếng hót, tiếng sếu kêu cùng với những điệu múa của nó trên đồng cỏ Ngoài ra khách DLST vừa bơi thuyền câu cá, vừa ngắm nhìn những cánh đồng lúa trời xanh mượt hay vàng óng lúa chín Ngay bên cạnh những cánh đồng lúa là những cánh đồng sen súng đang mùa nở hoa, với những điều trên đã giúp khách DLST cảm thấy rất thư giãn, thoải mái muốn hòa quyện vào thiên nhiên và càng yêu thiên nhiên hơn
Trong lịch sử, sếu chiếm một vị trí đặc biệt của nền văn hóa Khoảng trước công nguyên 4000 năm hình ảnh của sếu đã được khắc tạc trên những hang động Dưới thời đế chế Mê-đi-cơn, sếu là biểu tượng của sự cảnh giác và đã được vẽ lên những biểu tượng của các gia đình quý phái của Châu Âu Nhân dân phương Đông, trong đó có Việt Nam rất yêu chuộng sếu nên hình ảnh nó đã được thể
hiện trên nhiều loại hình nghệ thuật như là biểu tượng của sự trường tồn (hạc đứng trên lưng rùa), lòng
trung thực và sự sùng bái Vì thế nó được để trên bàn thờ tổ tiên của nhiều gia đình hoặc trong các
đình chùa, miếu mạo
Giá trị đạo đức của loài: Thezeau (1942) tin rằng quan sát tỉ mỉ mỗi loài khác sẽ giúp ông ta
sống một cuộc sống tốt hơn Noston (1988) cũng tin rằng loài có giá trị như nguồn đạo đức cho con
người, là cơ hội để con người hình thành, tái tạo và cải tiến các hệ thống giá trị của mình Ở VQG Tràm Chim có những loài đặc hữu, giúp con người khi nhìn qua hình ảnh sẽ liên tưởng và hình thành
những nhân cách cho mình như sếu, hoa sen, lúa trời Chuyện kể rằng: sếu luôn luôn sống có đôi, nếu
chẳng may một trong hai vợ chồng bị chết và con kia sẽ bay vút lên cao và buông mình tự tử theo
Ngoài ra sếu chỉ sinh có 1 – 2 con, gia đình sếu đi kiếm ăn từ 7 giờ sáng đến 11 giờ nghỉ trưa và từ 13 giờ sếu đi kiếm ăn cho đến 17 giờ sếu về chỗ ngủ Với những hình ảnh đẹp của sếu đã nói lên loài
sếu rất chung thủy, làm việc có kỷ luật đúng giờ hành chính và sếu sinh con rất có “kế hoạch hóa gia
Trang 39đình” Qua hình ảnh của hoa sen, lúa trời đã giúp cho những khách DLST hiểu rõ hơn về ý chí khắc
phục thiên nhiên của con người Đồng Tháp Mười Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, con người cũng muốn vươn lên với một cuộc sống tốt hơn
Tóm lại, qua hình ảnh của loài sếu, hoa sen, lúa trời đã giúp con người nhận thức được lòng
chung thủy, tính chịu khó, tính làm việc có kỷ luật VQG Tràm Chim có tính đa dạng sinh học rất cao, được thể hiện qua giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức của các loài
2.2.1.3 Tính an toàn
Là một chỉ tiêu thu hút khách, đảm bảo sự an toàn về sinh thái và xã hội, được xác định bởi tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội (cướp giựt, ăn xin, bán hàng rong), vệ sinh môi trường (các bệnh dịch: bệnh ngoài da, sốt rét, dịch tả, SIDA, nước sạch, rác thải…), độc chất sinh thái (cây độc, động vật có nọc độc, thúc qăn bị nhiễm độc…)
a Rất an toàn: không xảy ra một trường hợp nào về an ninh sinh thái và thiên tai (bão, lụt,
xoáy, lốc…)
b Khá an toàn: như trên, nhưng có hiện tượng quấy nhiễu bởi những người bán hàng rong
c Trung bình: có hoạt động ăn xin, bán hàng rong
d Kém: có xảy ra cướp giựt, đe dọa tính mạng của khách DLST, nước uống không đảm bảo
vệ sinh, không đạt các chỉ tiêu của Tổ chức Sức khỏe Thế Giới (WHO), có nhiều cây độc, động vật có nọc độc
Ví dụ, đến với VQG Tràm Chim du khách được tham quan những nét văn hóa, những hình ảnh của Đồng Tháp Mười thu nhỏ Bên cạnh đó được thương thức tiếng sếu kêu, tiếng chim hót và đượt hít thở không khí trong lành của miền quê sông nước Đặc biệt người dân ở đây rất hiếu khách, họ còn giúp đỡ cho khách DLST mau chóng xem được hình ảnh của sếu Khi chúng tôi đến khảo sát, họ đã giúp đỡ chúng tôi đến xem nơi bãi sếu ăn Đồng thời đưa cho chúng tôi ống nhòm để xem hình ảnh của đàn sếu rõ hơn Bên cạnh đó nơi đây không có những hiện tượng quấy nhiễu như cướp giật, đe dọa tính mạng của khách DLST Đặc biệt ở đây không có cùng với những điều trên đã giúp khách DLST đến với VQG Tràm Chim cảm thấy rất an tâm về vệ sinh môi trường, tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội và có ấn tượng đẹp về con người Đồng Tháp Mười Điều này đã thể hiện lên tính an toàn của VQG Tràm Chim, tính này quyết định rất lớn đến việc thu hút khách DLST
2.2.1.4 Tính tiện nghi (CSHT & VCKT)
Chỉ tiêu này có ý nghĩa quyết định đến hoạt động du lịch (HĐDL) Thiếu nó dù TNDL có hấp dẫn, độc đáo đến đâu cũng vẫn chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng, không thể khai thác cho HĐDL, hoặc nếu triển khai thì sẽ có những tác động tiêu cực làm tổn hại đến tính bền vững của môi trường tự nhiên
a Rất tốt: CSHT & VCKTDL đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế (khách sạn đạt
từ 3 sao trở lên, phương tiện giao thông liên lạc cấp quốc tế)
b Khá tốt: CSHT & VCKTDL đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế (khách sạn đạt
từ 1 – 2 sao, có phương tiện giao thông liên lạc tại chỗ)
Trang 40c Trung bình: có được một số CSHT & VCKTDL, nhưng chưa đồng bộ, chưa đủ tiện nghi
d Kém: còn thiếu nhiều CSHT & VCKTDL, nếu có thì chất lựơng thấp và có tính tạm thời,
thiếu hẳn phương tiện thông tin liên lạc
Bốn chỉ tiêu về tính hấp dẫn, tính đa dạng sinh học, tính an toàn và tính tiện nghi có tính quyết định đối với việc thu hút khách du lịch
Thí dụ, du khách có thể đến với VQG Tràm Chim bằng hai con đường: đường thủy và đường bộ Đường bộ thì từ thị xã Cao Lãnh đến Tràm Chim khoảng 40 km, tương đối tốt Đường thủy trên sông Tiền từ Cao Lãnh đến vàm xáng An Long, sau đó theo kinh Đồng Tiến đi vào Tràm Chim Trong khu vực VQG Tràm Chim việc đi lại chủ yếu bằng đường thủy (xuống, ghe) trên các dòng kinh, nếu các hệ thống đê bao được tu sửa và nâng cấp sẽ thuận lợi cho việc di chuyển băng ô tô Ngoài ra, VQG Tràm Chim còn thiếu rất nhiều về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật DLST như thiếu nhà trọ rẻ tiền dạng bungalow, thiếu chòi quan sát chim, chòi câu cá, nếu có thì cũng mang tính tạm thời, chưa đồng bộ, chưa đủ tiện nghi và thiếu hẳn phương tiện thông tin liên lạc, cơ sở y tế, cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú, mạng lưới cửa hàng thương nghiệp (bán các mặt hàng đặc trưng, hàng thực phẩm), thiếu các công trình phục vụ nhằm mục đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội cho khách DLST, tạo điều kiện giao tiếp xã hội, tuyên truyền về truyền thống, thành tựu văn hóa của người dân Đồng Tháp Mười Đến với VQG Tràm Chim chúng ta thấy rất rõ tính hấp dẫn, tính đa dạng sinh học, tính an toàn nhưng không thu hút được khách DLST bởi vì CSHT & CSVCKT kém phát triển VQG Tràm Chim có hấp dẫn, độc đáo đến đâu cũng chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng Muốân thu hút khách DLST thì UBND tỉnh Đồng Tháp cùng Ban quản lí VQG Tràm Chim phải đầu tư nâng cấp CSHT & CSVCKT, tạo nhiều sản phẩm du lịch độc đáo mang btính đặc trưng cho vùng Đồng Tháp Mười xưa kia
2.2.1.5 Tính bền vững
Tính bền vững của môi trường tự nhiên nói lên khả năng bền vững của các hợp phần và bộ phận tự nhiên trước áp lực của HĐDL của khách du lịch và các hiện tượng tự nhiên tiêu cực hoặc thiên tai
a Rất bền vững: không có hợp phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bị phá hoại (rừng, đất,
động vật…), khả năng tự phục hồi cân bằng sinh thái của môi trường nhanh TNDLTN tồn tại vững chắc trên 100 năm, HĐDL diễn ra liên tục
b Khá bền vững: có 1 – 2 hợp phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại ở mức độ không
đáng kể, có khả năng tự phục hồi nhanh, TNDLTN tồn tại vững chắc trên 50 – 100 năm, HĐDL diễn
ra thường xuyên
c Trung bình: có 1 – 2 hợp phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại ở mức độ đáng kể,
phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục hồi nhanh được, TNDLTN tồn tại từ 10 – 50 năm, HĐDL có thể bị hạn chế
d Kém: có 2 – 3 hợp phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại nặng, phải có sự hỗ trợ tích
cực của con người mới phục hồi được (trồng rừng), nhưng chậm, tồn tại vững chắc dưới 10 năm, HĐDL bị gián đoạn