1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Can thiệp nội mạch trong điều trị giả phình động mạch gan gây chảy máu đường mật

6 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 365,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả phình động mạch gan là thực thể bệnh lý hiếm. Chúng thường gây nên chảy máu đường mật. Ứng dụng X Quang can thiệp làm nút tắc chọn lọc nhánh động mạch gan có túi giả phình ngày càng phát triển.

Trang 1

CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ GIẢ PHÌNH ĐỘNG MẠCH GAN GÂY CHẢY MÁU ĐƯỜNG MẬT

Đặng Đình Hoan*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Giả phình động mạch gan là thực thể bệnh lý hiếm Chúng thường gây nên chảy máu

đường mật Ứng dụng X Quang can thiệp làm nút tắc chọn lọc nhánh động mạch gan có túi giả phình ngày càng phát triển

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả, tính an toàn và tỷ lệ thành công của phương pháp can thiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo bốn trường hợp được chẩn đoán và điều trị can thiệp nút

tắc túi giả phình mạch gan bằng vật liệu keo sinh học (N-Butyl Cyano Acrylat – NBCA – Histoacryl*) tại Bệnh viện Bình Dân

Kết quả: Cả 4 trường hợp đều cho kết quả thuận lợi

Kết luận: Nút tắc mạch chọn lọc giả phình động mạch gan là phương pháp điều trị có tính chất xâm lấn tối

thiểu, an toàn, hiệu quả với tỷ lệ thành công cao và kết quả lâm sàng tốt

Từ khóa: Nút tắc mạch chọn lọc; giả phình động mạch gan

ABSTRACT

ENDOVASCULAR INTERVENTIONAL TREATMENT IN HEPATIC ARTERY PSEUDOANEURYSM

CAUSING BILIARY DUCT HEMORRHAGE

Dang Dinh Hoan * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 94 - 99

Introduction: Hepatic artery pseudoaneurysm are uncommon entities They often cause the biliary duct

hemorrhage Interventional radiologic application with glue selective embolization of pseudoaneurysm hepatic artery branch is rapidly developing

Purpose: This study aims to evaluate effectiveness, safety and succesful rate of the interventional method Patients and method: Reporting four cases diagnosed and treated by the biological glue embolization of

hepatic artery pseudoaneurysm at Binh Dan hospital

Result: All four cases had favorable outcomes

Conclusion: Glue selective embolization of hepatic artery pseudoaneurysm is treatment method having

minimal invasion, safety, effectiveness with high succesful rate and good clinical result

Keywords: glue selective embolization; hepatic artery pseudoaneurysm

ĐẶT VẤN ĐỀ

Năm 1654 , Francis Glisson mô tả đầu tiên

bệnh lý chảy máu đường mật Đó là do có sự

thông thương của đường mật và mạch máu

(động mạch gan, tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch gan)

Lâm sàng có các triệu chứng chủ yếu là chảy

máu tiêu hóa (dấu hiệu Foldarri: cục máu hình

thỏi bút chì trong chất nôn), sốt nhiễm trùng, đau hạ sườn phải và vàng da Nguyên nhân của chảy máu đường mật thường gặp là sau chấn thương; nhiễm trùng đường mật(6,7) (thường gặp

ở châu Á – Việt Nam: 1/3 tổng số trường hợp):

đa số do sạn, ký sinh trùng; sau phẫu thuật hoặc thủ thuật đường mật Một số nguyên nhân khác

* Bệnh viện Bình Dân

Trang 2

hiếm gặp hơn như u gan, áp – xe gan, bệnh lý

mạch máu

Đa số các nguyên nhân kể trên khi có biến

chứng chảy máu đường mật đều cho bệnh cảnh

túi giả phình động mạch gan Trừ trường hợp

nguyên nhân bệnh lý mạch máu (dị dạng mạch

máu) thường có kèm theo bệnh cảnh thông động

tĩnh mạch hoặc túi giả phình động mạch gan có

hồi lưu nhanh về tĩnh mạch do có sự thông nối

trực tiếp túi giả phình với một nhánh tĩnh mạch

trong gan

Ngoài phương pháp điều trị truyền thống

là phẫu thuật cột động mạch gan, ngày nay

ứng dụng X Quang can thiệp làm nút tắc chọn

lọc nhánh động mạch gan có túi giả phình

ngày càng phát triển Có nhiều chất liệu nút

tắc mạch, việc chọn lựa chất liệu nào, duy nhất

hay kết hợp chất liệu là còn phụ thuộc vào

tính chất, hình thái của túi giả phình động

mạch cũng như nguyên nhân tạo nên túi giả

phình động mạch(6,7,8).

Chúng tôi đưa ra bốn trường hợp được chẩn

đoán và điều trị can thiệp nút tắc túi giả phình

mạch gan bằng vật liệu keo sinh học (N-Butyl

Cyano Acrylat – NBCA – Histoacryl*) với mục

đích đánh giá hiệu quả, tính an toàn và tỷ lệ

thành công của phương pháp can thiệp

TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

Bệnh nhân Phạm Văn L 1971, nhập viện vì

nhiễm trùng đường mật do sạn mật trong gan và

sạn ống mật chủ Tiền sử: mổ lấy sạn mật # 10

năm trước Sau nhập viện 02 ngày có chảy máu

đường mật Xử trí: lấy sạn và dẫn lưu mật gan

trái và ống mật chủ Hai ngày sau mổ: mật / ống

dẫn lưu đỏ dần Thực hiện CTA: túi giả phình

động mạch gan phải # phân thùy VII Thực hiện

nút tắc mạch chọn lọc Sau nút mạch 24 tiếng:

mật / ống dẫn lưu màu xanh của mật

Bệnh nhân Trần Văn H 1957, nhập viện với

tổng trạng suy kiệt, vàng da, đi cầu phân đen

Tiền sử: sạn túi mật và u gan phải Điều trị nội

khoa (bệnh nhân yêu cầu ở tuyến trước) Siêu âm

doppler màu bụng: Nghĩ có túi giả phình ở phân thùy VII-VIII gan phải kèm đường mật trong và ngoài gan giãn, có sạn mật trong gan; túi mật có sạn và bùn Nội soi dạ dày tá tràng: có chảy máu đường mật Thực hiện CTA vùng bụng Kết quả CTA: Túi giả phình động mạch gan tại hạ phân thùy VII,VIII gan phải / nền u đường mật gan phải di căn gan Động mạch gan chung xuất phát

từ động mạch mạc treo tràng trên Động mạch lách xuất phát từ động mạch chủ bụng Sạn mật trong gan và sạn túi mật với túi mật căng to Thực hiện nút tắc mạch chọn lọc túi giả phình động mạch gan giải quyết tình trạng chảy máu đường mật Sau đó có kế hoạch điều trị bệnh gốc cho bệnh nhân (u đường mật) Một ngày sau nút tắc: phân sậm màu Bốn ngày sau nút tắc mạch: bệnh nhân tỉnh, niêm hồng, đi cầu phân vàng Bảy ngày sau nút tắc mạch: Xuất viện Hẹn tái khám hai (02) tuần sau để tiếp tục điều trị bệnh cảnh chính là u đường mật

Bệnh nhân Nguyễn Thị Ph 1948 , nhập viện với vàng da, đi cầu phân đen Tiền căn có mổ sạn mật Siêu âm doppler và CTA: Giả phình động mạch gan phải trên nền sạn mật trong gan và ống mật chủ Thực hiện nút tắc mạch chọn lọc Hai ngày sau nút tắc mạch bệnh nhân đi cầu phân vàng, niêm hồng

Bệnh nhân Võ Thị L 1975, nhập viện vì tổng trạng suy kiệt, đi cầu phân đen Tiền căn mổ nối mật ruột do nang ống mật chủ CTA: Túi giả phình động mạch gan phải Thực hiện nút tắc mạch chọn lọc Bốn ngày sau thủ thuật bệnh nhân có da niêm hồng, đi cầu phân vàng

Kỹ thuật nút tắc mạch chọn lọc túi giả phình

động mạch gan

Với những dữ liệu mà hình ảnh CTA vùng gan cung cấp , nhóm bác sĩ X Quang can thiệp

đã tiến hành tuần tự như sau: Đi chọn lọc ống thông với dây dẫn dưới hệ thống khảo sát DSA (Digital Substraction Angiography) để vào động mạch gan chung Chụp khảo sát toàn bộ động mạch gan chung đồng thời đánh giá tính chất của túi giả phình động mạch gan:

vị trí , có thông với tĩnh mạch? dòng chảy lòng

Trang 3

túi giả phình, kích thước

Đi chọn lọc vào nhánh động mạch gan

mang túi giả phình bằng dây dẫn và ống

thông siêu nhỏ

Đặt đầu thông siêu nhỏ cách vị trí cổ túi

giả phình khoảng 05 mm sau đó bơm Gelfoam

tán nhuyễn pha với thuốc cản quang qua

thông để lấp đầy lòng túi giả phình Ngay sau

đó tiến hành rút đầu thông ra xa thêm # 05

mm so với vị trí lúc đầu của ống thông và tiến

hành bơm hỗn hợp keo sinh học (NBCA) và

Lipiodol UF (tỷ lệ NBCA/Lipiodol UF – chất

cản quang dầu: (1/3 – 01 ml) với mục đích làm

tắc hoàn toàn nhánh động mạch mang túi giả

phình (khóa vòi) Ngay sau đó rút tiếp đầu

thông ra xa thêm khoảng 05 mm nữa để bơm

bổ sung Gelfoam tán nhuyễn pha với thuốc cản quang (# 02 ml) (nút mạch) nhằm tránh tái phát túi giả phình sau nút tắc Đợi khoảng năm (05) phút, chụp kiểm tra động mạch gan chung, động mạch chủ bụng Không còn thấy hình ảnh túi giả phình động mạch gan và động mạch chủ bụng cùng các phân nhánh chính đều có hình ảnh như trước khi làm thủ thuật nút tắc mạch gan chọn lọc Rút toàn bộ ống thông, băng ép vị trí đi thông (thường là động mạch đùi phải) và theo dõi –điều trị theo thường quy của X Quang can thiệp nút tắc mạch chọn lọc

Hình 1 CTA mô tả một túi giả phình ở động mạch

gan phải

Hình 2 CTA mô tả một túi giả phình ở động mạch

gan phải Động mạch gan chung xuất phát từ động

mạch mạc treo tràng trên

Hình 3 CTA mô tả một túi phình ở động mạch gan phải Hình 4 DSAThông Yashiro 5F vào động mạch

mạc treo tràng trên và thông siêu nhỏ 3F vào động mạch gan chung để xác định túi giả phình

Trang 4

Hình 5 DSA Xác định vị trí đầu

thông 3F với cổ túi giả phình động

mạch gan

Hình 6 DSA Túi giả phình bị lấp

đầy bởi Gelfoam và NBCA tắc nhánh động mạch có tổn thương giả túi phình

Hình 7 DSA chụp kiểm tra sau khi nút tắc

túi giả phình động mạch gan khoảng 5 phút

BÀN LUẬN

Túi giả phình động mạch gan bao gồm

những túi phình của động mạch gan chung, gan

riêng , động mạch gan trái và gan phải Wilson

đã mô tả lần đầu vào năm 1809, chiếm khoảng

20% tổng số các túi phình và túi giả phình động

mạch tạng

Dựa trên những nguyên nhân được biết

thường gặp như do nhiễm trùng đường mật

(sạn, ký sinh trùng ), do chấn thương, do sau

thủ thuật, phẫu thuật hoặc do u gan và bệnh

nhân vào bệnh viện với các triệu chứng xuất

huyết tiêu hóa (chảy máu đường mật), sốt nhiễm

trùng, vàng da, đau hạ sườn phải thì cần nghĩ

đến tổn thương túi giả phình động mạch gan(1,6,7)

Việc phát hiện túi giả phình động mạch gan

bằng siêu âm doppler màu(1,7) cũng khá dễ dàng

với độ nhạy # 85% và độ chuyên # 80% Tuy

nhiên xét nghiệm này là xét nghiệm hoàn toàn

chủ quan và phụ thuộc nhiều vào máy siêu âm

cũng như khả năng của người thực hiện siêu âm

Với khảo sát CTA (chụp cắt lớp vi tính khảo

sát mạch máu) vùng gan hầu như phát hiện ra

dễ dàng bệnh lý túi giả phình động mạch gan

nếu có CTA cho biết vị trí, kích thước, tính chất

túi giả phình ngoài ra còn cung cấp dữ liệu

gan, đường mật và các cơ quan lân cận(1,7) Dựa

vào đậm độ, thời gian bắt thuốc cản quang của

túi giả phình, vào hồi lưu tĩnh mạch mà CTA

cung cấp cho chúng ta đánh giá về dòng chảy

lòng túi phình Nếu kết hợp hình ảnh CTA và khảo sát dopper màu lòng túi giả phình thì độ chính xác đánh giá tính chất túi giả phình động mạch rất cao với độ nhạy và độ chuyên # 98% Chụp mạch máu số hóa xóa nền là tiêu chuẩn vàng cung cấp chẩn đoán xác định tổn thương giả phình động mạch về kích thước, hình dạng,

vị trí cũng như các nhánh động mạch liên quan đến tổn thương nếu có Nhưng ngày nay chỉ thực hiện việc này vào thời điểm trước khi tiến hành bơm thuốc nút tắc mạch Việc chọn lựa thủ thuật nút tắc mạch chọn lọc chỉ cần dựa vào hình ảnh CTA (kết hợp siêu âm doppler màu nếu cần thiết) và vào việc hội chẩn của bác sĩ điều trị tiêu hóa gan mật với bác sĩ X Quang can thiệp

Cần theo dõi sau thủ thuật nút tắc mạch chọn lọc khoảng ba đến bảy ngày (tùy tính chất tổn thương) để phát hiện sự tái thông thương có thể xảy ra và khi đó cần tiến hành lại việc nút tắc mạch chọn lọc lần nữa

Chọn lựa chất liệu nút tắc mạch Các chất liệu dùng trong nút tắc mạch thường là vòng xoắn kim loại (coils), khung đỡ kim loại (covered stent), keo sinh học (NBCA), hạt PVA (Poly Vinyl Alcohol), spongel hay bọt gây tắc (Gelfoam) tán nhuyễn hoặc bơm thrombine nội mạch(2,3,4,5,6,8) Thông thường, theo nhiều tác giả, với túi giả phình có kích thước nhỏ, nằm xa hoặc vừa so với gốc nhánh động mạch nhỏ thì dòng chảy lòng túi giả phình thấp, khi đó chỉ cần dùng duy nhất Gelfoam tán nhuyễn làm lấp đầy lòng

Trang 5

túi giả phình và làm ’khóa vòi’ sau đó là đủ Đối

với túi giả phình động mạch có dòng chảy khá

cao hoặc cao, thì đa số tác giả dùng coils lấp đầy

lòng túi giả phình và ’khóa vòi’ sau đó bằng

Gelfoam tán nhuyễn(2,3,6,8) Cũng có tác giả khác,

với túi giả phình động mạch ở xa rốn gan, kích

thước không lớn, đã dùng keo sinh học (NBCA)

lấp đầy lòng túi giả phình(4) và ’khóa vòi’ Trong

các trường hợp mà chúng tôi thực hiện , chúng

tôi nhận thấy , vị trí túi giả phình động mạch gan

hơi xa hoặc xa rốn gan, kích thước khá lớn, dòng

chảy không cao hoặc cao vừa; trên nền u đường

mật gan phải, nhiễm trùng mật do sạn đường

mật, sau thủ thuật; việc điều trị cho đến ổn định

bệnh lý gốc là rất cao về chi phí Do đó, chúng tôi

quyết định dùng Gelfoam tán nhuyễn để lấp đầy

lòng túi giả phình, keo sinh học để ’khóa vòi’ và

gelfoam để ’nút mạch’

Tất cả những bệnh nhân được điều trị can

thiệp thành công, tình trạng lâm sàng cải thiện tốt,

không thấy biến chứng trong và sau can thiệp, chi

phí cho thủ thuật thấp, việc hồi phục nhanh

Dùng phương pháp phẫu thuật cho các

trường hợp túi giả phình động mạch gan ngày

nay ít được nghĩ đến và đã được thay thế bằng

phương pháp nút tắc mạch chọn lọc(6) Phương

pháp nút tắc mạch chọn lọc đã làm giảm thời

gian nằm viện và vẫn có hiệu quả cao

Chúng tôi xin được đưa ra một số hạn chế

của nghiên cứu: Việc nghiên cứu hồi cứu và với

cỡ mẫu nhỏ nên để đánh giá tính hiệu quả cũng

như biến chứng trong can thiệp thường không

chính xác; ngoài ra, với kinh nghiệm thực hành

trong điều trị giả phình mạch tạng chưa được

nhiều nên hiệu quả can thiệp sẽ bị ảnh hưởng,

việc đi sâu vào từng kỹ thuật và đi sâu vào hiệu

quả điều trị của từng dụng cụ và vật liệu can

thiệp chưa được đánh giá đúng Tuy nhiên,

chúng tôi nhận thấy đây là nghiên cứu ban đầu

trong điều trị can thiệp nút tắc túi giả phình

động mạch gan với hy vọng đưa ra được những

chỉ định và lựa chọn cách thức can thiệp một

cách hợp lý, an toàn và hiệu quả nhất

KẾT LUẬN

Túi giả phình động mạch gan hiếm gặp Cần nghĩ đến bệnh lý này nếu bệnh nhân có tiền sử hoặc triệu chứng của nhiễm trùng đường mật kèm với chảy máu đường mật hoặc sau một chấn thương bụng, sau thủ thuật hoặc phẫu thuật vùng gan mật

Chẩn đoán xác định túi giả phình động mạch gan bằng phương tiện siêu âm doppler màu và CTA vùng gan mật

Nút tắc mạch chọn lọc giả phình động mạch gan là phương pháp điều trị có tính chất xâm lấn tối thiểu, an toàn, hiệu quả với tỷ lệ thành công cao và kết quả lâm sàng tốt

Áp dụng thủ thuật nút tắc mạch chọn lọc chỉ sau khi có hội chẩn giữa bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa gan mật và bác sĩ X Quang can thiệp

Chọn lựa chất liệu nút tắc mạch tùy thuộc vào các tính chất của tổn thương và sự cân nhắc cũng như kinh nghiệm của bác sĩ làm thủ thuật Nút tắc mạch chọn lọc có thể làm thêm lần nữa nếu có sự tái thông của tổn thương

Nút tắc mạch chọn lọc túi giả phình động mạch gan là điều trị chứng chảy máu đường mật Cần kết hợp điều trị nguyên nhân gây ra túi giả phình sau đó

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Basile KE et al (1999) Hepatic arterial pseudoaneurysm: a rare complication of blunt abdominal trauma in children

Pediatr Radiol; 29: 306-308

2 Hotta A (2015) Embolization of Ruptured Common Hepatic

Artery Aneurysm in a Patient with Behcet’s Disease Case

Reports in Radiology, Vol 2015; Article ID 790175

3 Kharoti Y, Farsad K (2014) Percutaneous Embolization of a

Angiographic and Fluoroscopic Guidance Open Journal of

Radiology; 4: 215-219

4 Lloret et al (2010) Post-traumatic hepatic artery pseudoaneurysm treated with endovascular embolization and

thrombin injection World J Hepatol; 2(2): 87–90

5 Ou et al (2010) Hepatic arterial embolization for massive bleeding from an intrahepatic artery pseudoaneurysm using N-butyl-2-cyano-acrylate after living donor liver transplantation Transplant International European Society for

Organ Transplantation; 24: e19–e22

6 Queiroz et al (2012) Arterial embolization in the treatment of

post-traumatic hemobilia Radiol Bras; 45(1): 63–64

Trang 6

7 Saad NE et al (2005) Pseudoaneurysms and the Role of

Minimally Invasive Techniques in Their Management

RadioGraphics 25: S173–S189

8 Sapoval M, Breittmayer F (1992) Embolisation d’hemostase

In: Soyer Ph Radiologie Interventionnelle, pp 137 – 152 Manson,

Paris

Ngày bài báo được đăng:

Ngày đăng: 14/01/2020, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w