Bài viết xác định mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mề đay mạn tính đến khám tại bệnh viện Da Liễu TP.HCM.
Trang 1NỒNG ĐỘ VITAMIN D HUYẾT THANH TRÊN BỆNH NHÂN MỀ ĐAY MẠN TÍNH ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hồng Ngọc * , Văn Thế Trung **
TÓM TẮT
Mở đầu: 25-hydroxy vitamin D đóng vai trò quan trọng trong cân bằng hệ miễn dịch nguyên phát, thứ phát
và cũng góp phần trong sinh bệnh học của các bệnh lý dị ứng như mề đay mạn tính và viêm da cơ địa Gần đây có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân mề đay mạn tính có giảm vitamin D và việc bổ sung vitamin D làm cải thiện tình trạng bệnh
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân
mề đay mạn tính đến khám tại bệnh viên Da Liễu TP.HCM
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca trên bệnh nhân mề đay mạn tính điều trị tại bệnh viện Da
Liễu TP.HCM Bệnh nhân được khám lâm sàng và định lượng nồng độ vitamin D huyết thanh
Kết quả: Nồng độ vitamin D trung bình trên bệnh nhân mề đay mạn tính là 25,96 ± 8,38 ng/ml Nồng độ
vitamin D huyết thanh trên bệnh nhân mề đay mạn tính giảm có ý nghĩa ở nữ so với nam, ở nhóm sinh viên, công nhân viên chức, nội trợ so với nhóm công nhân, buôn bán, làm ruộng, ở nhóm bệnh nặng so với nhẹ-trung bình
Kết luận: Nồng độ vitamin D giảm trên bệnh nhân mề đay mạn tính, đặc biệt là ở những bệnh nặng
ABSTRACT
VITAMIN D SERUM LEVEL IN PATIENT WITH CHRONIC URTICARIA
AT HO CHI MINH CITY HOSPITAL OF DERMATO-VENEREOLOGY
Nguyen Thi Hong Ngoc, Van The Trung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 21 - No 1 - 2017: 30 - 35
Background: 25-hydroxy vitamin D plays an important role in the balance between the innate, adaptive
immune systems and contributes to the etiopathogenesis of allergic diseases like chronic urticaria (CU) and atopic dermatitis Recently, there has been a report of CU patient with vitamin D deficiency and vitamin D supplementation can improve chronic urticaria.
Objectives: Assess association between level of serum vitamin D concentration and clinical features of CU
at Dermato-Venereological hospital of Ho Chi Minh city
Method: A case series study of patients with CU at Ho Chi Minh City Hospital of Dermato-Venereology Result: The mean of serum vitamin D levels of patients was 25.96 ± 8.38 ng/ml The serum vitamin D levels
of female chronic urticaria patients group was significantly lower than that male, students, housework and people who work in office lower than worker, farmer Level vitamin D was clearly reduced in severe patients than medium-mild patients
Conclusion: Serum vitamin D levels decreased in chronic urticaria patients, especially severe patients
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mề đay là một bệnh rất phổ biến trong cộng
đồng, bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi và mọi
quốc gia trên thế giới Mề đay mạn tính là một
bệnh da phổ biến, dễ chẩn đoán, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn trong điều trị và theo dõi, vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng Thuốc kháng histamin là phương pháp điều trị
Trang 2cơ bản, được lựa chọn đầu tiên nhưng hiệu quả
của thuốc không hoàn toàn Cho đến nay đã có
nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nồng độ
vitamin D huyết thanh giảm trong các rối loạn
liên quan đến dị ứng(9) Nhiều nghiên cứu trên
thế giới cũng đã ghi nhận sự giảm nồng độ
vitamin D huyết thanh trên bệnh nhân mề đay
mạn tính(11,15)
Hiện nay ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu
nào về mối liên quan giữa vitamin D và bệnh mề
đay mạn tính, cũng như việc bổ sung vitamin D
trog bệnh mề đay mạn tính ít được quan tâm Vì
vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nồng độ
vitamin D huyết thanh trên bệnh nhân mề đay
mạn tính đến khám tại Bệnh viện Da Liễu
Thành Phố Hồ Chí Minh” nhằm hiểu rõ hơn về
tình trạng vitamin D trên bệnh mề đay mạn ở
Việt Nam, từ đó đóng góp phần nào trong công
cuộc điều trị bệnh này
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của
bệnh nhân mề đay mạn tính
Xác định nồng độ vitamin D trong máu
bệnh nhân mề đay mạn tính
Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D với
đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của bệnh nhân mề
đay mạn tính
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân mề đay mạn tính từ 18 tuổi trở
lên đến khám và điều trị tại bệnh viện Da Liễu
TP.HCM từ 01/10/2015 đến 31/04/2016
Bệnh nhân được chẩn đoán mề đay mạn
tính dựa trên lâm sàng: sẩn phù, xuất hiện
nhanh và mất đi nhanh chóng, ngứa, có thể có
hay không có phù mạch kèm theo, xảy ra mỗi
ngày hay hầu như các ngày trong tuần, kéo
dài ít nhất là 6 tuần
Tiêu chuẩn loại trừ
Phụ nữ mang thai và cho con bú
Bệnh nhân đã được điều trị vitamin D, dẫn
xuất của vitamin D, canxi theo đường toàn thân
và tại chổ trong vòng 1 tháng trước khi làm nghiên cứu
Bệnh nhân có sử dụng corticoide đường uống hoặc tiêm, sử dụng thuốc ngừa thai, sử dụng liệu pháp UVB, chiếu xạ mặt trời
Bệnh nhân có cơ địa dị ứng: hen suyễn, viêm mũi dị ứng và chàm thể tạng
Bệnh nhân mắc các bệnh lý khác: nhiễm trùng cấp tính hoặc mạn tính (viêm gan siêu vi…), rối loạn chuyển hóa (béo phì, tăng huyết
áp, đái tháo đường), bệnh lý ác tính, lao
Bệnh nhân viêm mạch mề đay: sang thương giống mề đay nhưng kéo dài hơn 24 giờ, đôi khi
là ban xuất huyết
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hàng loạt ca
Cỡ mẫu
Chọn tất cả bệnh nhân mề đay mạn tính thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh trong khoảng thời gian nghiên cứu
Thu thập mẫu máu và xét nghiệm
3ml máu đông, được bảo quản tại nhiệt độ phòng Sau đó, xét nghiệm được thực hiện tại trung tâm y khoa Medic theo quy trình của nhà sản xuất Nồng độ 25(OH)D trong máu được phân tích bằng kỹ thuật xét nghiệm miễn dịch điện hóa huỳnh quang (ECLIA) qua sử dụng hệ thống Roche Elecsys 10100/201 (Roche Diagnosis Elecsys)
Phân tích số liệu
Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0 Giá trị p<0,05 được xem là có
ý nghĩa thống kê
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành trên 54 bệnh nhân thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu
Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân mề đay mạn tính là 32,46 ± 11,72 tuổi, nữ/nam là 2,17/1, đa số bệnh nhân sống ở Tp.HCM, chủ yếu
Trang 3tập trung ở đối tượng công nhân viên chức, sinh
viên, công nhân
Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ học của nhóm bệnh nhân
mề đay mạn tính
Nơi cư
trú
Nghề
nghiệp
Bảng 2: Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mề
đay mạn tính
Tuổi khởi phát 30,92 ± 11,20 tuổi
Tiền căn gia đình
bệnh mề đay
Tình trạng phù
mạch
Thời gian tồn tại
thương tổn
Thời gian mắc bệnh 19,89 ± 27,3 tháng Điểm độ nặng trung bình 8,89 ± 1,67 điểm
Mức độ nặng
Tuổi khởi phát trung bình là 30,92 ± 11,20
tuổi, thời gian mắc bệnh trung bình là 19,89 ±
27,3 tháng, đa số bệnh nhân bệnh mề đay mạn
tính không có tiền căn gia đình mắc bệnh, thời
gian tồn tại thương tổn ≥ 4 giờ, mức độ bệnh
trung bình, nặng chiếm đa số
Bảng 3:Nồng độ vitamin D huyết thanh của nhóm
bệnh nhân mề đay mạn tính
Nồng độ vitamin D (TB ± ĐLC) 25,96 ± 8,38 ng/ml
Hầu hết bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu
là thiếu và không đủ vitamin D
Bảng 4: Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D trung
bình và đặc điểm dịch tễ
>30 tuổi 28,87 ± 8,69
Nghề nghiệp
Nội trợ 22,94 ± 10,08
0,014
Buôn bán 31,26 ± 6,11 Làm ruộng 35,62 ± 8,93
Công nhân 28,49 ± 8,24
Nồng độ vitamin D trung bình ở nhóm ≤30 tuổi thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm ≥30 tuổi, nhóm bệnh nhân nữ thấp hơn có ý nghĩa so với nam, nồng độ vitamin D thấp nhất ở nhóm sinh viên, kế đến là nội trợ, công nhân viên chức, công nhân, buôn bán và cao nhất ở nhóm đối tượng làm ruộng
Bảng 5: Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết
thanh với tiền sử gia đình
Tiền căn
Trung bình ± ĐLC
0,30
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ vitamin D trên 2 nhóm có và không có tiền sử gia đình mắc bệnh mề đay mạn
Bảng 6: Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết
thanh với tuổi khởi phát bệnh
Tuổi khởi
Trung bình ± ĐLC
0,03
Bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có tuổi khởi phát trung bình ≥ 50 tuổi và ≤ 30 tuổi có nồng độ vitamin D thấp, độ tuổi khởi phát từ
40-49 tuổi có nồng độ vitamin D cao nhất
Trang 4Bảng 7: Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết
thanh vớithời gian bệnh
Thời gian
Trung bình ± ĐLC
0,52
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về
nồng độ vitamin D và thời gian mắc bệnh giữa
các nhóm trong mẫu nghiên cứu
Bảng 8:Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết
thanh và thời gian tồn tại thương tổn
Thời gian tồn tại
Nồng độ vitamin D (ng/ml) (TB ± ĐLC)
P
0,52
Không có mối liên quan giữa nồng độ
vitamin D huyết thanh và thời gian tồn tại
thương tổn
Bảng 9:Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết
thanh và tình trạng phù mạch
0,25
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và tình
trạng phù mạch
Bảng 10: Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và
độ nặng của bệnh
Độ nặng của
Trung bình ± ĐLC
0,003
Bảng 11: Mối liên quan giữa tình trạng vitamin D
huyết thanh và độ nặng của bệnh
Tình trạng
vitamin D
Độ nặng bệnh
Nhẹ-trung bình 4 (12,1%) 16 (48,5%) 13 (39,4%)
0,001 Nặng 12 (57,1%) 7 (33,3%) 2 (9,5%)
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận
có mối liên quan giữa giảm nồng độ vitamin D
và độ nặng của bệnh Nồng độ vitamin D trung
bình ở nhóm bệnh nặng thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhẹ - trung bình (21,77 ± 6,48 ng/ml so với 28,63 ± 8,44 ng/ml, với p=0,003)
Ở nhóm có sự thiếu hụt vitamin D (≤ 20 ng/ml) thì tỉ lệ bệnh nhân được phân độ nặng cao hơn so với nhóm gần đủ và đủ vitamin D (>20 ng/ml)
BÀN LUẬN Đặc điểm dịch tễ học của mẫu nghiên cứu
Tuổi
Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu là 32,46 ± 11,72 tuổi Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi gần tương đương với các nghiên cứu của Lê Trần Anh và
CS(8) là 32,66 ± 13,88 tuổi, Chandrashekar và CS(1)
là 30,2 ± 8,2 tuổi
Giới tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nữ chiếm tỉ
lệ 68,5%, namchiếm tỉ lệ 31,5% Vậy tỉ lệ nữ:nam
là 2,17:1 Kết quả nghiên cứu của Rasool và CS(11) cũng cho kết quả tương tự với 67,7% bệnh nhân tham gia nghiên cứu là nữ và 32,3% là nam Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự Lê Thị Minh Ngọc(7), Rapini và Lee(10), Chandrashekar
và CS(1)
Nghề nghiệp
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận
đa số bệnh nhân là công nhân viên chức (22,2%), sinh viên (22,2%), công nhân (22,2%), phần còn lại là nội trợ (14,8%), buôn bán (13%) và thấp nhất là làm ruộng (5,6%)
Nơi cư trú
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
đa số bệnh nhân sống tại Tp.HCM chiếm 68,5% Còn lại các bệnh nhân đến từ các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương… Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Thanh Thùy(4), Lê Thị Minh Ngọc(7)
Trang 5Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mề đay
mạn tính
Tuổi khởi phát mề đay mạn
Tuổi khởi trung bình của bệnh mề đay mạn
là 30,92 ± 11,20 tuổi, phù hợp nghiên cứu tác giả
Huỳnh Thị Thanh Thùy(4), Deacock(2)
Tiền căn gia đình bệnh mề đay
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi nhận
thấy có 14,8% bệnh nhân có tiền căn gia đình
mắc bệnh mề đay, phù hợp với nghiên cứu tác
gỉả Sackesen(12)
Thời gian tồn tại thương tổn của bệnh mề đay
mạn tính
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy có 51,9% bệnh nhân có thương tổn tồn tại
trên 4 giờ, 48,1% bệnh nhân có thương tổn tồn tại
nhỏ hơn 4 giờ Nghiên cứu của chúng tôi phù
hợp với tác giả Kaplan(6), Lê Thị Minh Ngọc(7),
Huỳnh Thị Thanh Thùy(4)
Thời gian bệnh
Thời gian mắc bệnh trung bình là 19,89 ±
27,36 tháng, trong đó thời gian bệnh < 6 tháng
chiếm 48,1% Theo tác giả Woo(15), Huỳnh Thị
Thanh Thùy(4), Lê Thị Minh Ngọc(7), Gaig(3) cho
kết quả tương tự khi ghi nhận thời gian mắc
bệnh trung bình dưới 6 tháng chiếm đa số
Phù mạch
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 40,7%
bệnh nhân có phù mạch, phù hợp với tác giả Lê
Thị Minh Ngọc(7), Kaplan(6), Zuberbier(16)
Độ nặng của bệnh mề đay mạn tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ nặng
của bệnh được đánh giá theo thang điểm của
Breneman và CS Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi ghi nhận điểm trung bình của độ nặng là 8,89
± 1,67 điểm, trong đó có 1,9% bệnh nhân bệnh
nhẹ, 59,3% bệnh nhân được xếp loại trung bình
và 38,9% bệnh nhân được xếp loại nặng Nghiên
cứu của chúng tôi phù hợp với tác giả Toubi(13),
Kang và CS(5)
Nồng độ vitamin D huyết thanh của nhóm bệnh nhân mề đay mạn tính
Nồng độ vitamin D trung bình là 25,96 ± 8,38 ng/ml, nồng độ vitamin D trung bình này thấp hơn đáng kể khi so sánh với trị số ở người bình thường (30,61 ± 9,38 ng/ml) của tác giả Phạm Thúy An (2015) với cùng độ tuổi (≥18 tuổi) Kết quả nghiên cứu này phù hợp với tác giả Thorp
và CS(14), Woo(15), Rasool và CS(11)
Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết thanh với đặc điểm dịch tễ học
Nồng độ vitamin D trung bình ở nhóm bệnh nhân ≤30 tuổi thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm
>30 tuổi, nữ giảm vitamin D nhiều hơn nam, nồng độ vitamin D thấp nhất ở nhóm sinh viên,
kế đến là nội trợ, công nhân viên chức, công nhân, buôn bán và cao nhất ở nhóm đối tượng làm ruộng
Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết thanh với một số đặc điểm lâm sàng
Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết thanh với tiền sử gia đình
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về nồng độ vitamin D trên 2 nhóm có và không
có tiền sử gia đình mắc bệnh mề đay mạn (p=0,3)
Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết thanh với tuổi khởi phát bệnh
Bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có tuổi khởi phát trung bình ≥ 50 tuổi và ≤ 30 tuổi có nồng độ vitamin D thấp, độ tuổi khởi phát từ 40-49 tuổi có nồng độ vitamin D cao nhất Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết thanh với thời gian bệnh
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về nồng độ vitamin D và thời gian mắc bệnh giữa các nhóm trong mẫu nghiên cứu (p=0,52)
Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết thanh và thời gian tồn tại thương tổn
Không có mối liên quan giữa nồng độ
Trang 6vitamin D huyết thanh và thời gian tồn tại
thương tổn (p=0,52)
Mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết
thanh và tình trạng phù mạch
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và tình
trạng phù mạch (p=0,25)
Mối liên quan giữa vitamin D huyết thanh và
độ nặng của bệnh
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận
có mối liên quan giữa giảm nồng độ vitamin D
và độ nặng của bệnh Nồng độ vitamin D trung
bình ở nhóm bệnh nặng thấp hơn có ý nghĩa so
với nhóm bệnh nhẹ - trung bình (21,77 ± 6,48
ng/ml so với 28,63 ± 8,44 ng/ml, với p=0,003) Bên
cạnh đó, nhóm có sự thiếu hụt vitamin D (≤ 20
ng/ml) thì tỉ lệ bệnh nhân được phân độ nặng
cao hơn so với nhóm gần đủ và đủ vitamin D
(>20 ng/ml) Kết quả nghiên cứu phù hợp với tác
giả Chandrashekar và CS(1), Woo và CS(15)
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ
vitamin D huyết thanh giảm ở bệnh nhân mề
đay mạn tính, đặc biệt giảm nhiều ở nữ so với
nam, giảm nhiều ở nhóm sinh viên, công nhân
viên chức, nội trợ so với nhóm công nhân, buôn
bán, làm ruộng, giảm ở nhóm bệnh nặng so với
nhẹ-trung bình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chandrashekar L, et al (2014), "25-Hydroxy vitamin D levels
in chronic urticaria and its correlation with disease severity
from a tertiary care centre in South India", Clin Chem Lab Med
52(6), pp 115-8
2 Deacock SJ (2008), "An approach to the patient with urticaria",
Clin Exp Immunol 153(2), pp 151-61
3 Gaig P, Olona M, Caballero MT (2004), "Epidemiology of
urticaria inSpain", J Investig Allergol Clin Immunol 14(3), pp
214-20
4 Huỳnh Thị Thanh Thùy (2014), Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mề đay mạn tính đến khám tại bệnh viện Da Liễu Thành Phố
Hồ Chí Minh, Luận văn Tốt nghiệp Thạc sĩ, Đại Học Y Dược
Thành Phố Hồ Chí Minh
5 Kang MJ, Kim HS, Kim HO (2009), "The impact of chronic
idiopathic urticaria on quality of life in Korean patient", Ann Dermatol 21(3), pp 226-9
6 Kaplan AP (2012), "Urticaria and Angioedema", Fitzpatrick’s Dermatology in General Medicine 8(1), pp 414-430
7 Lê Thị Minh Ngọc (2013), Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân mề đay đến khám tại bệnh viện Da Liễu Thành Phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại Học Y Dược
Thành Phố Hồ Chí Minh
8 Lê Trần Anh, Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Nguyễn Khắc Lực (2012), "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng mày đay mạn tính ở
bệnh nhân nhiễm Toxocara", Tạp chí y dược học quân sự,2, tr 2
9 Oren E, Banerji A, Camargo CA (2008), "Vitamin D and atopic disorders in an obese population screened for vitamin D
deficiency", J Allergy Clin Immunol ,121, pp 533-534
10 Rapini RP (2008), "Urticarias", Bolognia: Dermatology (2 nd ed, vol.1), pp 459-567
11 Rasool R, et al (2015), "Chronic urticaria merits serum vitamin
D evaluation and supplement: a randomized case control
study", World Allergy Organ J 8(1), pp 15
12 Sackesen C, et al (2004), "The etiology of different forms of
urticaria in childhood", Pediatr Dermatol ,21(2), pp 102-8
13 Toubi E, Kessel A, Avshovich N, et al (2004), "Clinical and laboratory parameters in predicting chronic urticaria duration:
a prospective study of 139 patients", Allergy ,59, pp 869–873
14 Thorp WA, et al (2010), "Reduced vitamin D levels in adult
subjects with chronic urticaria", J Allergy Clin Immunol 126(2),
pp 413
15 Woo YR, et al (2015), "Vitamin D as a Market for Disease severity in chronic urtiaria and its possible role in
pathogenesis", Ann Dermatol 27(4), pp 423-30
16 Zuberbier T, et al (2014), "The EAACI/GA²LEN/EDF/WAO Guideline for the definition, classification, diagnosis and
managementof Urticaria The 2013 revision and update", Allergy, 69, pp 868–887
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/11/2016 Ngày bài báo được đăng: 01/03/2017