1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn bằng mảnh ghép theo Lichtenstein với tê tại chỗ

6 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 276,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm của bệnh nhân bị thoát vị bẹn và hiệu quả của phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn theo Lichtenstein với vô cảm tê tại chỗ.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN BẰNG MẢNH GHÉP THEO LICHTENSTEIN VỚI TÊ TẠI CHỖ

Vũ Hoàng Hà*, Ngô Mạnh Hùng*, Trương Quốc Cường*, Đỗ Văn Liêm*, Giang Kim Hùng*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tê tại chỗ trong phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn theo Lichtenstein vẫn chưa được ứng dụng

rộng rãi ở Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm của bệnh nhân bị thoát vị bẹn và hiệu quả của

phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn theo Lichtenstein với vô cảm tê tại chỗ

Phương pháp: Tiền cứu, can thiệp lâm sàng

Kết quả: 39 trường hợp bị thoát vị bẹn được một phẫu thuật viên thực hiện theo Lichtenstein với vô cảm tê

tại chỗ có các đặc điểm sau: trẻ nhất 19 tuổi, lớn nhất 91 tuổi, 72,8% bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên; 4 BN thoát vị bẹn kẹt; ở nhóm bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên có 57,2% mắc các bệnh nội khoa ảnh hưởng đến phẫu thuật (ASA III, IV) Thời gian phẫu thuật từ 45 đến 75 phút, 97% bệnh nhân có thể đi lại sau mổ 3,5 - 4,5 giờ Không có tai biến, biến chứng đáng kể nào trong và sau mổ; tất cả các bệnh nhân đều đủ tiêu chuẩn ra viện sau mổ 1-2 ngày

Kết luận: Tê tại chỗ trong phẫu thuật Lichtenstein điều trị thoát vị bẹn (không phải thoát vị bẹn tái phát) ở

bệnh nhân trưởng thành còn đi lại được, không có chống chỉ định đặc biệt nào, tránh được các biến chứng của tê tủy sống,giúp bệnh nhân sớm đi lại và có thể xuất viện trong ngày

Từ khoá: phẫu thuật thoát vị bẹn, phương pháp Lichtenstein

ABSTRACT

ASSESSMENT THE RESULTS OF LICHTENSTEIN TENSION-FREE MESH INGUINAL HERNIA

REPAIR WITH LOCAL ANESTHETIC

Vu Hoang Ha, Ngo Manh Hung,Truong Quoc Cuong, Do Van Lien, Giang Kim Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 2 - 2017: 99 - 104

Background: The Lichtenstein technique repair of inguinal hernias with local anesthetic has not been widely

applied in Vietnam

Objectives: This study was to describe the characteristics of patients with inguinal hernia and efficacy of The

Lichtenstein technique repair with local anesthetic

Methods: Prospective, clinical intervention

Results: 39 cases of inguinal hernia was performed by a surgeon with the following characteristics: the

youngest 19, the oldest 91 years old, 72.8% of patients aged 40 years and older; patients aged 60 years or older with 57.2% suffering from medical conditions affecting surgery (ASA III, IV) Surgical time from 45 to 75 minutes, 97% of patients could walk after surgery from 3.5 - 4.5 hours No significant complications during and after surgery; all patients could discharged from hospital 1-2 days after surgery

Conclusions: Local anesthetic in Lichtenstein tension-free mesh inguinal hernia repair in adult patients

(non-recurrent inguinal hernia) has no specific contraindications, avoid the complications of spinal anesthesia, help patients early mobilization and discharged of the day

Keywords: Lichtenstein tension-free mesh inguinal hernia repair

Bệnh viện Gò Vấp

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoát vị bẹn (TVB) là bệnh lý thường gặp

chiếm 75% tổng số thoát vị thành bụng (khoảng

5% dân số có thoát vị thành bụng), ngoài lứa tuổi

nhủ nhi, tần suất tăng lên theo tuổi Phẫu thuật

điều trị TVB là một trong những phẫu thuật theo

chương trình được thực hiện nhiều nhất trong

chuyên khoa ngoại tổng quát(3) Tuy nhiên không

có sự đồng thuận giữa các phẫu thuật viên trong

chọn lựa phương pháp vô cảm tối ưu để phẫu

thuật Ngày ngay, phẫu thuật Lichtenstein với tỉ

lệ tái phát < 1% được xem là tiêu chuẩn khi so

sánh các phương pháp phẫu thuật điều trị thoát

vị bẹn có sử dụng mảnh ghép Mặc dầu vậy

không có phẫu thuật viên nào có kết quả lý

tưởng vì còn những biến chứng như đau sau mổ,

tổn thương thần kinh, nhiễm trùng và tái phát

Có nhiều phương pháp vô cảm trong phẫu

thuật điều trị TVB như tê tại chỗ, tê vùng (ngoài

màng cứng, tủy sống), gây mê; lựa chọn phương

pháp vô cảm nào phụ thuộc vào phương pháp

phẫu thuật (mổ mở hay nội soi), thoát vị có

nghẹt hay không, tình trạng bệnh lý toàn thân,

kinh nghiệm của phẫu thuật viên, điều kiện

trang bị của cơ sở y tế… ưu, nhược điểm của

từng phương pháp vô cảm trên từng loại bệnh

nhân củng ảnh hường lớn đến chất lượng điều

trị Có một vài nghiên cứu đã cho thấy tê tại chỗ

để phẫu thuật thoát vị bẹn theo Lichtenstein là

hiệu quả nhất cho người bệnh về y học cũng như

kinh tế, nhưng vấn đề này còn chưa được nghiên

cứu nhiều ở Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

của BN thoát vị bẹn được phẫu thuật tái tạo

sàn bẹn bằng mảnh ghép theo Lichtenstein với

vô cảm tê tại chỗ

Đánh giá hiệu quả của phương pháp tê tại

chỗ trong phẫu thuật điều trị TVB bằng mảnh

ghép theo Lichtenstein

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả, can thiệp lâm sàng, không đối chứng

Thời gian nghiên cứu

Từ 1/2014 đến 11/2016

Địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Gò Vấp, Bệnh viện Hồng Đức

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Tất cả các bệnh nhân TVB được phẫu thuật đặt mảnh ghép tái tạo sàn bẹn theo Lichtenstein với vô cảm tê tại chỗ tại Bệnh viện Gò vấp và Bệnh viện Hồng Đức trong thời gian nghiên cứu

có bệnh án lưu trữ

Tiêu chuẩn loại trừ

Tất cả các bệnh nhân TVB không thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh (TVB nghẹt quá 6g, vô cảm bằng phương pháp khác)

TVB tái phát

Bị thất lạc bệnh án

Bệnh nhân < 15 tuổi

Quy trình phẫu thuật thoát vị bẹn theo Lichtenstein với vô cảm tê tại chỗ

Chuẩn bị trước mổ

Bệnh nhân

Được khám lâm sàng

Đánh giá toàn thân

Làm các xét nghiệm cơ bản

Siêu âm ổ bụng, (CT scan nếu cần)

Kiểm tra các bệnh kết hợp Điều trị bệnh kết hợp

Bệnh nhân và gia đình được giải thích

Chẩn đoán

Phương pháp phẫu thuật

Diễn biến sau mổ

Săn sóc sau mổ

Các tai biến, biến chứng

Trang 3

Nâng cao thể trạng

Truyền máu, truyền đạm, mỡ nếu cần

Vệ sinh

Vùng phẫu thuật, toàn thân

BN được đánh giá các yếu tố nguy cơ trước

mổ theo ASA (American Society of

Anesthesiologist grade)

ASA I: bệnh nhân khỏe mạnh, không mắc

bệnh kèm theo

ASA II: bệnh nhân mắc một bệnh nhẹ, không

ảnh hưởng đến chức năng các cơ quan trong cơ

thể

ASA III: bệnh nhân mắc một bệnh nặng,

gây ảnh hưởng đến chức năng các cơ quan

trong cơ thể

ASA IV: bệnh nhân mắc một bệnh nặng,

thường xuyên đe dọa đến tính mạng bệnh

nhân và gây suy sụp chức năng các cơ quan

trong cơ thể

ASA V: bệnh nhân đang hấp hối, có thể tử

vong trong vòng 24 giờ dù mổ hay không mổ

ASA VI: bệnh nhân đã chết não, có thể lấy cơ

quan để ghép

Trang thiết bị: thuốc tê lidocaine, bộ phẫu

thuật tổng quát, mảnh ghép optilene mesh LP

kích thước 5 x10 cm

Kỹ thuật

Vô cảm: tiền mê bằng benzodiazepine kết

hợp với opioid đường tiêm truyền

Các bước tiến hành

Tê tại chỗ theo từng lớp bằng tiêm

lidocaine 1% liều tối đa 4mg/kg cân nặng, nếu

có pha thêm adrenalin liều tối đa có thể lên tới

7mg/kg Bơm thuốc tê thấm đều toàn bộ lớp

da và mô mỡ dưới da với bề rộng cách đường

rạch đã được đánh dấu 2-4 cm

Tiêm 5ml lidocaine ngay dưới lớp da dọc

theo đường rạch da

Tiêm 5-10 ml lidocaine vào mô mỡ dưới da

Chờ khoảng 5 phút tiến hành rạch da, bóc tách cân mỡ dưới da đến mạc cơ chéo bụng ngoài

Tiêm 5-10 ml lidocaine vào mạc cơ chéo bụng ngoài dọc theo ống bẹn

Mở thành trước ống bẹn từ lổ bẹn nông đến hết chiều dài ống bẹn, tránh tổn thương thần kinh chậu hạ vị

Di động thừng tinh dọc theo cơ bìu cùng với thần kinh chậu bẹn, nhánh sinh dục của sinh dục đùi

Phóng bế vài ml lidocaine 1% vào cổ và thành túi thoát vị với thoát vị gián tiếp

Mở thừng tinh và túi thoát vị giải phóng tạng thoát vị khâu cột túi thoát vị (thoát vị gián tiếp), hoặc khâu mạc ngang vùi túi thoát

vị (thoát vị trực tiếp)

Chích 1-2 ml lidocaine 1% vào mạc củ mu trước khi khâu mảnh ghép vào củ mu

Khâu vắt cố định mảnh ghép vào dây chằng bẹn

Khâu mũi rời cố định mảnh ghép vào mặt trước cơ chéo bụng trong, tránh tổn thương dây thần kinh chậu hạ vị

Khâu bắt chéo đuôi mảnh ghép và khâu cố định đuôi mảnh ghép

Khâu đóng lại vết mổ 3 lớp

Lưu ý: kỹ thuật tiêm lidocaine tránh bơm thuốc vào tĩnh mạch

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Trong thời gian từ tháng 3/2014 đến 11/2016 chúng tôi có 39 BN thỏa mãn tiêu chí chọn bệnh

do một phẫu thuật viên thực hiện với độ tuổi trẻ nhất 19 tuổi, cao nhất 91 tuổi, tất cả đều nam giới, bảng 1 thể hiện cơ cấu tuổi của bệnh nhân qua đó cho thấy đa số BN (71,8%) trong nghiên cứu của chúng tôi từ 40 tuổi trở lên

Trang 4

Bảng 1 Phân bố tuổi của BN

Tỉ lệ thoát vị bên trái và bên phải tương

đương nhau, có 4 bệnh nhân thoát vị bẹn kẹt,

thoát vị gián tiếp (62%) chiếm ưu thế so với thoát

vị trực tiếp (38%) ở cả hai nhóm tuổi dưới 60 và

trên 60 tuổi nhưng khác biệt không có ý nghĩa

thống kê (Bảng 2)

Bảng 2 Phân loại thoát vị theo tuổi

Các bệnh kết hợp đi kèm chủ yếu tập trung ở

nhóm BN trên 60 tuổi gồm các bệnh lý tiểu

đường (7 BN), tăng huyết áp (12 BN), thiếu máu

cơ tim (5BN), rung nhĩ, ngoại tâm thu (1BN), sa

sút trí tuệ (1 BN) Các yếu tố ảnh hưởng đến

cuộc mổ được chúng tôi phân loại theo ASA

Bảng 3 Tương quan giữa tuổi BN và bệnh lý kết hợp

ảnh hưởng đến cuộc mổ

Ở Bảng 2 cho thấy ở nhóm từ 60 tuổi trở lên

có tới 57,2% BN có các bệnh lý đi kèm ảnh

hưởng đến phẫu thuật trong khi ở nhóm dưới 60

tuổi chỉ có 2 (8%) BN có bệnh lý nặng kèm theo

Có 01 BN 84 tuổi thoát vị bẹn phải kẹt có bệnh lý

rung nhỉ, ngoại tâm thu thất suy nhược cơ thể

kèm theo (ASA IV)

Thời gian phẫu thuật nhanh nhất 45 phút,

dài nhất 75 phút, theo nhận xét của chúng tôi

thời gian phẫu thuật kéo dài trên một giờ khi

bệnh nhân có lớp mỡ dưới da vùng bẹn dày trên

5 cm hoặc khi thoát vị bẹn kẹt

Chúng tôi sử dụng thuốc giảm đau dạng

NSAID sau mổ đường uống trong 7 ngày sau mổ

cho 38 BN, 1 BN có bệnh lý nặng kèm theo nên

chúng tôi sử dụng tiêm thuốc giảm đau trong

ngày đầu sau mổ sau đó chuyển sang dạng

uống Theo P Sanjay(6) nghiên cứu so sánh giữa 2 nhóm BN được phẫu thuật thoát vị bẹn cho thấy

ở nhóm BN tê tại chỗ sử dụng thuốc giảm đau sau mổ ít hơn nhóm BN tê tủy sống và khác biệt

có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Tất cả các BN đều được chích kháng sinh nhóm Penicillin trước mổ và 01 ngày sau mổ sau

đó chuyển sang uống kháng sinh trong 6 ngày tiếp theo, nên các BN trong nghiên cứu của chúng tôi có thể xuất viện sau 01 ngày

Không có biến chứng sau mổ như tụ máu, nhiễm trùng, teo tinh hoàn, sau 3 tháng chỉ có 1

BN có cảm giác tê vùng bẹn

Hầu hết BN đều có thời gian nằm hậu phẫu ngắn và đi lại sớm, tuy nhiên có sự tương quan giữa thời gian nằm ở phòng hậu phẫu, thời từ khi ra khỏi phòng mổ đến khi BN đi lại được với ASA (Bảng 3)

Bảng 4 Mối liên quan giữa thời gian hậu phẫu, thời

gian đi lại được với ASA

ASA Thời gian hậu phẫu Thời gian đi lại được

Lidocaine(1) được phát hiện vào năm 1946 và

sử dụng vào mục đích thương mại năm 1948, là thuốc gây tê thuộc nhóm amid, thuốc tê tại chỗ phóng bế cả sự phát sinh và dẫn truyền xung động thần kinh bằng cách giảm tính thấm của tế bào thần kinh với ion Na+ Do đó ổn định màng

và ức chế sự khử cực dẫn đến làm giảm lan truyền hiệu điện thế hoạt động tiếp đó là chặn dẫn truyền xung động thần kinh(4) Khi sử dụng đường tiêm, lidocain bắt đầu có tác dụng trong vòng 4 phút và kéo dài từ 90 phút đến 3 giờ(4,5) Tác dụng phụ thường gặp khi tiêm vào tĩnh mạch bao gồm buồn ngủ, co giật cơ, lú lẫn, thay đổi thị lực, tê, ngứa ran, và ói mửa Nó có thể gây

hạ huyết áp và nhịp tim không đều(4) Trong 40 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi, lidocaine được pha loãng 1%, không pha với epinephrine BN được tiêm ít nhất là 60mg, nhiều nhất là 240mg, trung bình chúng tôi

sử dụng liều 1,5-3mg/ kg cân nặng Chúng tôi

Trang 5

ghi nhận BN nhạy cảm đau nhiều nhất ở da,

vùng quanh thừng tinh và gai mu; khoảng hơn

50% lượng thuốc tê được sử dụng để phóng bế

cho da và mô mỡ dưới da, lượng thuốc tê sẽ tăng

lên khi BN có mô mỡ dưới da dày đặc biệt là

vùng trên lỗ bẹn nông và khi có thoát vị bẹn kẹt

Chúng tôi không gặp trường hợp nào có tác

dụng phụ của lidocaine Parviz(2) nhấn mạnh kỹ

thuật gây tê như sử dụng kim nhỏ, di chuyển

kim khi bơm thuốc để giảm thiểu tối đa nguy cơ

bơm thuốc tê vào tĩnh mạch

Ưu điểm của tê tại chỗ so với gây tê vùng và

gây mê trong phẫu thuật thoát vị bẹn theo

Lichtenstein ở những điểm sau:

Không ảnh hưởng đến chức năng tim phổi,

nên phù hợp với BN lớn tuổi hoặc có suy giảm

chức năng tim phổi

Không cần đặt thông tiểu trong và sau

phẫu thuật

Không có chống chỉ định đặc biệt nào ngoài

chống chỉ định của phẫu thuật nói chung Khi

BN có nguy cơ về gây mê (tuổi quá già, bệnh lý

tim phổi, bệnh lý gan, bệnh lý thận, tiểu đường,

tăng huyết áp) bác sĩ gây mê phải đánh giá cẩn

thận các yếu tố nguy cơ và tính khả thi làm cho

phẫu thuật có thể bị trì hoãn

tủy sống(3) như:

+ Tai biến tức thì:

Tụt huyết áp (tần suất 10 - 40%), giảm cung

lượng tim, giảm nhịp tim

Gây tê toàn bộ tủy sống: liệt toàn thân, mất

tri giác

Tổn thương thần kinh: do chọc kim vào tổ

chức thần kinh

Ức chế hô hấp, bí tiểu cấp tính

+ Biến chứng muộn:

7 – 14% BN nhức đầu sau tê tủy sống

Đau lưng

+ Tỷ lệ tai biến như nhồi máu cơ tim, tim

ngừng đập, đột quỵ, thuyên tắc tĩnh mạch sâu và

tắc động mạch ngoại biên sẽ tăng lên khi BN có những biến chứng vừa nêu trên

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu đánh giá 39 trường hợp được phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn theo Lichtestein do một phẫu thuật viên thực hiện, nhóm nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận:

80% bệnh nhân có độ tuổi từ 40 trở lên, thoát

vị bẹn gián tiếp (62%) chiếm tỉ lệ cao hơn so với thoát vị bẹn trực tiếp (38%)

Thời gian phẫu thuật từ 45 đến 75 phút, lượng lidocaine sử dụng 60mg – 240mg (1,5 - 4 mg/kg cân nặng) cho mỗi bệnh nhân Lượng thuốc tê được sử dụng sẽ tăng lên và thời gian phẫu thuật kéo dài trên 1 giờ khi lớp mỡ dưới

da vùng bẹn dày trên 5 cm hoặc khi thoát vị bẹn kẹt

Không có tai biến, biến chứng đáng kể nào trong và sau mổ; 29 bệnh nhân (74%) mức ASA I,II có thời gian ra khỏi hậu phẫu 30 phút và thời gian đi lại được là 3 giờ, các thời gian này sẽ tăng lên khi bệnh nhân ở mức ASA III, IV

Lợi ích của tê tại chỗ trong phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn ở người lớn có thể tóm tắt:

Bệnh nhân

Giảm chi phí điều trị

Tránh được các nguy cơ và bất tiện của tê tủy sống và gây mê

Là lựa chọn tốt nhất cho bệnh nhân lớn tuổi hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ

Bệnh nhân đi lại sớm, rút ngắn thời gian điều trị

Phẫu thuật viên

Đơn giản hóa các thủ tục có thể đem đến những kết quả tốt cho phẫu thuật

Cơ vùng bẹn ở trạng thái bình thường nên phẫu thuật viên dễ dàng đặt mảnh ghép chính xác, giảm đau sau mổ và nguy cơ tái phát

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alexander S (1999) Discovery and development of major drugs currently in use Pharmaceutical Innovation:

Trang 6

Revolutionizing Human Health Philadelphia: Chemical Heritage

Press, p 211

2 Amid PK (1994) Local anesthesia for inguinal hernia repair

step-by-step procedure Ann Surg, 220(6): 735–737

3 Baskerville PA, Jarrett PE (1983) Day case inguinal hernia

repair under local anaesthetic Ann R Coll Surg Engl,

65(4):224-5

4 Lidocain Hydroclorid The American Society of Health-System

https://en.wikipedia.org/wiki/American_Society_of_Health-System_Pharmacists

5 Nolan JP,Baskett PJF (1997) Analgesia and anaesthesia Cambridge Textbook of Accident and Emergency Medicine

Cambridge University Press p 194

6 Sanjay P (2007) Inguinal Hernia Repair: Local or General

Anaesthesia? Ann R Coll Surg Engl, 89(5): 497–503

Ngày nhận bài báo: 01/12/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/12/2016 Ngày bài báo được đăng: 01/03/2017

Ngày đăng: 14/01/2020, 22:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w