1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo ca lâm sàng: Tổn thương đám rối thắt lưng cấp sau gây tê trục thần kinh

8 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 297,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gây tê tủy sống là một phương pháp vô cảm phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Đây là một kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, tương đối rẻ tiền và hiệu quả để tạo ra tình trạng mất cảm giác và vận động khá tốt cho phẫu thuật vùng bụng dưới và hai chi dưới, cũng như giảm đau sau mổ với tỷ lệ thành công khá cao.

Trang 1

BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: TỔN THƯƠNG ĐÁM RỐI THẮT LƯNG CẤP SAU GÂY TÊ TRỤC THẦN KINH

Lưu Kính Khương*, Lê Thị Bích Trâm*

TÓM TẮT

Gây tê tủy sống là một phương pháp vô cảm phổ biến và được sử dụng rộng rãi Đây là một kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, tương đối rẻ tiền và hiệu quả để tạo ra tình trạng mất cảm giác và vận động khá tốt cho phẫu thuật vùng bụng dưới và hai chi dưới, cũng như giảm đau sau mổ với tỷ lệ thành công khá cao Một số lợi ích của gây tê tủy sống bao gồm giảm huyết khối tĩnh mạch sâu, giảm mất máu trong khi mổ, cũng như phòng ngừa hít sặc trong trường hợp mổ cấp cứu, đặc biệt ở những bệnh nhân có vấn đề về đường hô hấp tiềm ẩn và các bệnh lý đường hô hấp mà không thể gây mê nội khí quản được Do tính chất xâm lấn của tê tủy sống, có một số loại biến chứng có thể xảy ra với tỷ lệ khác nhau Tổn thương thần kinh trung ương hiếm nhưng thường đe dọa tính mạng, trong đó xuất huyết gây chèn ép tủy cấp chiếm 1/220.000 Tổn thương thần kinh thoáng qua thường gặp hơn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như kỹ thuật, loại thuốc tê sử dụng… nhưng thường ít khi phục hồi tốt Qua ca lâm sàng chúng tôi báo cáo một trường hợp tổn thương đám rối thần kinh cấp tính sau phẫu thuật thay khớp háng

Ca lâm sàng: Bệnh nhân nam, 35 tuổi, tiền sử khỏe, được chẩn đoán thoái hóa khớp háng phải Xét nghiệm

tiền phẫu bình thường cho phép gây tê tủy sống ở khoang liên đốt sống L3L4 phối hợp gây tê ngoài màng cứng phẫu thuật thay khớp háng phải Sau phẫu thuật bệnh nhân yếu và mất cảm giác chân bên trái Kết quả MRI cột sống thắt lưng không cản từ: không ghi nhận tổn thương tủy chóp cùng hoặc chèn ép rễ thần kinh Kết quả EMG lần 1: gợi ý tổn thương dây thần kinh mác, rễ L5 Kết quả EMG lần 2: tổn thương cấp tính đám rối thần kinh thắt lưng cùng bên trái, trong đó tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng là chủ yếu, còn tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng cùng thấp mức độ nhẹ Bệnh nhân được điều trị kháng viêm giảm đau và tập vật lý trị liệu tích cực Kết quả EMG lần 3 sau 4 tuần điều trị: tổn thương sợi trục cấp tính đám rối thần kinh thắt lưng cùng bên trái, trong đó tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng nặng hơn đám rối thần kinh thắt lưng cùng dưới Bệnh nhân đang có dấu hiệu phục hồi so với lần đo trước Sau 06 tháng điều trị bệnh nhân phục hồi

Kết luận: Nhiều biến chứng khác nhau có thể xảy ra trong gây tê trục thần kinh và có liên quan đến kỹ thuật

hoặc các loại thuốc được sử dụng trong suốt quá trình Tổn thương trục thần kinh hiếm nhưng thường vĩnh viễn

do đó cần theo dõi sát phát hiện sớm và xử trí khẩn cấp khi tổn thương thần kinh trung ương còn có khả năng hồi phục TNPs thường gặp nhưng tổn thương hiếm khi kéo dài Đa số các tổn thương thần kinh thoáng qua hồi phục tốt với điều trị thuốc kháng viêm và tập vật lý trị liệu tích cực

Từ khóa: Tổn thương thần kinh trung ương, Tổn thương thần kinh thoáng qua (TNSs), thay khớp háng ABSTRACT

CASE REPORT: LUMBAR RADICULOPATHY AFTER NEUROXIAL ANESTHESIA

Lưu Kinh Khuong, Le Thi Bich Tram * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 22 - No 3- 2018: 155- 162

Spinal anesthesia is one of the most popular and widely used anesthetic procedures It is a simple, cost effective and efficient technique that provides complete sensory and motor block, as well as postoperative analgesia with a high success rate Several advantages of spinal anesthesia include a decreased incidence of deep vein thrombosis, reduced intraoperative blood loss, as well as the prevention of pulmonary aspiration in case of emergency, especially in patients with potential airway problems and known respiratory diseases Due to the

* Khoa Gây mê Hồi sức, Bệnh viện Nhân Dân 115

Trang 2

invasive nature of spinal anesthesia, there are several types of complications that may occur with different incidence At least some of these problems appear to be inevitable Central nerve damage is rare but usually life-threatening, the incidence of this condition has been accepted as 1 in 220,000 patients undergoing spinal anesthesia Transient neurologic problems are more common depending on a variety of factors such as the technique, the local anesthetics, additive medicines used but rarely and good recovery In our case report, we report a case of radiculopathy after hip arthroplasty

- Case report: A 35 years old men, healthy history, is diagnosed with right hip degeneration Normal

preoperative laboratories allow spinal anesthesia in the L3L4 intervertebral compartment to be combined with epidural anesthesia to operative the right hip arthroplasty After surgery the patient had motor weakness and sensory loss on the left leg Magnetic resonance imaging (MRI): normal Results of EMG 1: suggesting damage to the peroneal nerve, L5 root Results of the second EMG: acute left lumbar plexopathy, in which lumbar pflexopathy is more than lower lumbosacral plexopathy Patients were treated for analgesia and physical therapy Results of the third EMG after 4 weeks of treatment: acute left lumbar pflexopathy, in which lumbar pflexopathy

is more than lower lumbosacral plexopathy Patients are showing signs of recovery compared to the first result After 6 months of treatment patients recovered

Conclusion: Various complications can occur during neuraxial anesthesia and are widely related to the

procedure itself or drugs used during the procedure Spinal hematoma following spinal anesthesia is a severe complication that requires early surgical intervention to prevent permanent neurological damage Transient neurologic problems are common but the lesions are seldom prolonged Most transient neurologic problems recovered well to anti-inflammatory drugs and active physical therapy

Key words: Central nervous system injury, transient neurologic problems, hip arthroplasty

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gây tê tuỷ sống kỷ niệm tròn 120 năm ra đời

vào năm nay 2018 và vẫn là một trong những

phương pháp gây tê vùng hiện đại 1898, August

Bier từ Đức là người đầu tiên báo cáo về gây tê

tủy sống thành công đầu tiên với cocaine cho

bạn mình và trợ lý Hildebrandt Kể từ đó, gây tê

tủy sống trở thành một trong những kỹ thuật

gây tê phổ biến nhất và được sử dụng rộng rãi

Đây là một kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện,

tương đối rẻ tiền và hiệu quả để tạo ra tình trạng

mất cảm giác và vận động khá tốt cho phẫu

thuật vùng bụng dưới và hai chi dưới, cũng như

giảm đau sau mổ với tỷ lệ thành công khá cao

Một số lợi ích của gây tê tủy sống bao gồm giảm

huyết khối tĩnh mạch sâu, giảm mất máu trong

khi mổ, cũng như phòng ngừa hít sặt trong

trường hợp mổ cấp cứu, đặc biệt ở những bệnh

nhân có vấn đề về đường hô hấp tiềm ẩn và các

bệnh lý đường hô hấp mà không thể gây mê nội

khí quản được Do tính chất xâm lấn của tê tủy

sống, có một số loại biến chứng có thể xảy ra với

tỷ lệ khác nhau Ít nhất một số trong những biến chứng này dường như không thể tránh khỏi và

do đó, không thể loại bỏ tất cả Trong những ngày đầu gây tê tủy sống, nó được cho là một phương pháp rất an toàn và đã được sử dụng thành công với tỷ lệ tử vong thấp Sau sự phổ biến rộng rãi ban đầu, một số sự kiện bi thảm xảy ra với gây tê tủy sống Nổi tiếng nhất của những bi kịch này là vụ Woolley và Roe đã bị liệt hai chi dưới sau khi tê tủy sống đối với các phẫu thuật tương đối nhỏ(4) Tuy nhiên, hiếm khi xảy

ra các biến chứng về thần kinh nghiêm trọng như tử vong, bệnh thần kinh, viêm màng não và chấn thương thần kinh vĩnh viễn Tỷ lệ các biến chứng thần kinh gia tăng khi có gây tê ngoài màng cứng phối hợp

Trong một cuộc điều tra tầm quốc gia được thực hiện ở Anh, tỷ lệ tổn thương thần kinh vĩnh viễn và tử vong dao động từ 0,7 - 1,8/100.000 bệnh nhân(3) Mặt khác, lựa chọn bệnh nhân thích hợp, chú ý tỉ mỉ đến tiền sử bệnh, những thay đổi liên quan đến bệnh nhân và trong trường

Trang 3

hợp khó khăn, sử dụng các kỹ thuật hình ảnh (X-

quang, và siêu âm) để hướng dẫn có thể giúp

ngăn ngừa hoặc giảm các biến chứng Bệnh nhân

có bệnh lý nội khoa đi kèm, các thuốc dùng

chung, phẫu thuật các bệnh lý ác tính tiến triển,

bệnh nhân bị suy giảm hệ thống miễn dịch, cũng

như trường hợp nhiễm trùng gây ra một thách

thức thực sự khi tê tủy sống Bệnh nhân có dị tật

cột sống thoái hóa hoặc đã trải qua các cuộc

phẫu thuật cột sống trước đây cũng là những

trường hợp khó khăn; điều này đòi hỏi phải

đánh giá thêm, và việc tăng cường các nỗ lực

thực hiện gây tê tủy sống và giảm đau sau mổ

trong các tình huống này có thể gây ra những

hậu quả không mong muốn

BÁO CÁO CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân nam, 35 tuổi, nhập viện 26/4/2017

Chẩn đoán hoại tử chỏm xương đùi phải Các xét

nghiệm tiền phẫu trong giới hạn bình thường

Ngày 04/5/2017 tiến hành phẫu thuật thay khớp

háng phải Phương pháp vô cảm: gây tê tủy sống

và gây tê ngoài màng cứng phối hợp tại khoang

liên đốt sống L3-4, đâm kim dễ, luồn catheter

vào khoang ngoài màng cứng 4cm, thuốc gây tê

tủy sống 12 mg chirocain + 2mcg sufentanil, sau

gây tê bệnh nhân tê tốt được tiến hành phẫu

thuật Tư thế người bệnh nằm nghiêng trái Cuộc

mổ kéo dài từ 11giờ 15phút – 14giờ 30phút (3

tiếng 15 phút) Trong quá trình phẫu thuật sinh

hiệu ổn, máu mất khoảng 350ml, bù 1000ml dịch

tinh thể + 500ml dung dịch keo Sau mổ bệnh

nhân được truyền hai đơn vị máu

Diễn biến sau mổ: Ra hậu phẫu lúc 14 giờ 30

đến 16 giờ bệnh nhân than đau buốt vùng hông

phải lan xuống chân phải, nhấc được chân trái,

cử động được cổ chân phải: xử trí cho

paracetamol 1G TTM + thuốc giảm đau ngoài

màng cứng: Chirocain + sufentanil 4ml/giờ (#

chirocain 4mg + sufentanil 2mcg)

Chuyển khoa chấn thương chỉnh hình 8

giờ 30 phút ngày 05/05/2017: cảm giác đau

giảm, cử động được hai chi dưới tại khoa

bệnh nhân được cho thuốc giảm đau paracetamol và kháng sinh

Ngày 06/05/2017: bệnh nhân được cho rút bỏ catheter ngoài màng cứng, cho thêm xarelto 15

mg 1 viên uống Đến 13 giờ 30 bệnh nhân than tê

và yếu chân trái Bác sỹ gây mê khám lúc 14 giờ: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, sinh hiệu ổn, tê hai chân, yếu chân trái, chân phải còn đau

+ Ngoại thần kinh khám: tê hai chân, chân trái yếu, hạn chế cử động

+ Kết quả MRI cột sống thắt lưng không cản từ: không ghi nhận tổn thương tủy chóp cùng hoặc chèn ép rễ thần kinh

+ Nội thần kinh: theo dõi tổn thương đám rối thắt lưng/hậu phẫu thay khớp háng bên phải Kết quả EMG: gợi ý tổn thương dây thần kinh mác, rễ L5 (Đề nghị đo lại điện cơ sau 01 tuần do thời gian tổn thương sớm) Xử trí: solumedrol 40

mg 01 lọ x 2 TMC; panangin 01 viên x 2 uống 07/5/2017: Ngưng xarelto Tiếp tục solumedrol + tập vật lý trị liệu (điện xung kích thích cơ đùi trái, bàn chân trái, tập vận động có trợ giúp hai chân, tập vận động đoạn chi)

08/5/2017: Sức cơ chân trái vùng cẳng chân trước và sau M3, cơ tứ đầu đùi M0, cơ thắt lưng chậu M0, mất cảm giác toàn bộ chân trái Chân phải vùng cẳng chân M3, đùi trước và sau M3 Solumedrol + tập vật lý trị liệu

09-11/5/2017: Sức cơ không đổi, Solumedrol + Arcoxia + tập vật lý trị liệu

12-17/5/2017: Sức cơ cải thiện nhẹ, paracetamol + Arcoxia + tập vật lý trị liệu

18/5/2017: Sức cơ chân trái vùng cẳng chân trước và sau M4, cơ tứ đầu đùi M0, cơ thắt lưng chậu M0 Kết quả EMG tổn thương cấp tính đám rối thần kinh thắt lưng cùng bên trái, trong đó tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng là chủ yếu, còn tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng cùng thấp mức độ nhẹ Tiếp tục điều trị kháng viêm + giảm đau + vật lý trị liệu

6/6/2017: kết quả EMG tổn thương sợi trục cấp tính đám rối thần kinh thắt lưng cùng bên

Trang 4

trái, trong đó tổn thương đám rối thần kinh thắt

lưng nặng hơn đám rối thần kinh thắt lưng cùng

dưới Bệnh nhân đang có dấu hiệu phục hồi so

với lần đo trước

Hội chẩn ngoại viện với các chuyên gia chỉnh

hình và nội thần kinh kết luận: bệnh lý rễ thần

kinh sau gây tê tủy sống phối hợp gây tê ngoài

màng cứng, khả năng do phản ứng với thuốc

gây tê Hướng xử trí tiếp theo: thuốc kháng viêm

+ bổ sung thuốc hỗ trợ thần kinh + tập vật lý trị

liệu tích cực Đề nghị siêu âm mạch máu vùng

đùi-khung chậu kiểm tra tắc nghẽn

+ Kết quả siêu âm hai chi dưới (07/6/2017):

suy tĩnh mạch sâu hai chi dưới, hiện không thấy

huyết khối hệ tĩnh mạch

- 07/6/2017: Neurontine + Tập vật lý trị liệu

(Điện châm + hồng ngoại + tập vận động trợ

giúp + tập mạnh cơ đùi)

20/7/2017: bệnh nhân tạm ổn có thể tự đi lại

bằng nạng cho xuất viện

Chẩn đoán ra viện

Tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng bên

trái sau gây tê trục thần kinh thay khớp háng

bên phải do thoái hóa

BÀN LUẬN

Schneider và các cộng sự báo cáo đầu tiên

về các tổn thương thần kinh thoáng qua

(TNPs) sau khi gây tê tủy sống với thuốc

lidocaine 5% vào năm 1993 Kết luận này sau

đó đã được xác nhận bởi một số nghiên cứu

khác(2).Trước một bệnh nhân có rối loạn cảm

giác, yếu hoặc liệt một hoặc hai chân sau gây

tê trục thần kinh đầu tiên người bác sĩ gây mê

phải nghĩ ngay đến nguyên nhân ngoại khoa

Máu tụ tủy sống hay trong khoang ngoài

màng cứng, áp xe… sau tê trục thần kinh là

một biến chứng nghiêm trọng đòi hỏi sự can

thiệp phẫu thuật sớm để ngăn ngừa tổn

thương thần kinh vĩnh viễn Tỷ lệ xuất huyết

sau gây tê tủy sống là 1/220.000 Các yếu tố

nguy cơ như bệnh nhân lớn tuổi, giới tính nữ,

bệnh nhân dùng thuốc có ảnh hưởng quá trình

đông máu, khó khăn trong việc thực hiện đâm kim và đặt catheter Một nghiên cứu điều tra các biến chứng thần kinh sau khi gây tê trục thần kinh, được thực hiện ở Thụy Điển trong khoảng thời gian 10 năm, cho thấy tỉ lệ gia tăng ở những bệnh nhân nữ được phẫu thuật thay khớp háng với tỉ lệ 1/22.000 so với 1/480.000 khi tất cả các bệnh nhân được gây

tê(7) Hematoma thường gặp hơn với gây tê ngoài màng cứng hoặc đặt catheter vì sự gia tăng mạch máu của khoang ngoài màng cứng Nghĩ tới máu tụ khi bệnh nhân liệt vận động kéo dài hơn so với dự tính hoặc chậm phục hồi sau gây tê Phẫu thuật thần kinh trong vòng tám giờ sau khi bị máu tụ ngoài màng cứng là bắt buộc để phục hồi chức năng vận động mà không có tổn thương thần kinh Nếu nghi ngờ có tổn thương hệ thần kinh cần chụp cắt lớp vi tính hoặc tốt nhất là MRI, nên được thực hiện càng sớm càng tốt Thật không may, kết quả phục hồi thần kinh tương đối nghèo nàn ở phần lớn bệnh nhân, ngay cả khi phẫu thuật đã được thực hiện trong vòng tám giờ Các catheter tủy sống nên được coi như là catheter ngoài màng cứng, trong đó việc đặt hoặc rút bỏ đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt theo các hướng dẫn rút catheter để tránh ảnh hưởng đến liệu pháp chống đông máu Nhiều loại thuốc ảnh hưởng quá trình đông máu, cầm máu do đó yêu cầu tuân thủ các khuyến nghị để rút catheter trục thần kinh Các thuốc chống viêm non-steroid được coi là an toàn, nhưng sử dụng thuốc cùng một lúc có thể tăng nguy cơ máu tụ Vì vậy, bệnh nhân nhận nhiều hơn một loại thuốc ảnh hưởng đến đông, cầm máu cần được đánh giá cẩn thận Ngoài ra, một số loại thuốc thảo dược đơn độc hoặc kết hợp với thuốc chống đông máu có thể làm tăng nguy cơ tụ máu tủy sống hay khoang ngoài màng cứng Gây tê trục thần kinh ở bệnh nhân có rối loạn huyết học trước đó hoặc bệnh ảnh hưởng đến đông máu dường như không phải là một vấn đề đáng kể Trong bài đánh giá, Choi và Brull (8) đã điều tra kết quả

Trang 5

của gây tê trục thần kinh ở những bệnh nhân

bị rối loạn đông máu thông thường Tổng

cộng có 78 ca tê tuỷ sống, 53 ca chọc dò thắt

lưng chẩn đoán và hai ca kết hợp gây tê tủy

sống và gây tê ngoài màng cứng Không có

biến chứng chảy máu, ngoại trừ một đứa trẻ

sơ sinh, một người không biết bị haemophilia

A trước đó, đã bị tụ máu tủy sống và cần phẫu

thuật giải ép Gây tê tủy sống có vẻ an toàn ở

những bệnh nhân được biết có rối loạn đông

máu, với điều kiện là tình trạng đông máu cần

được theo dõi Mặc dù không có sự đồng

thuận về số lượng tiểu cầu an toàn, 50.000 –

80.000/ mm3 thường được coi là một số liệu

quan trọng đối với tê tủy hoặc gây tê ngoài

màng cứng Cần đánh giá bệnh nhân riêng lẻ

được thực hiện ở những bệnh nhân có số tiểu

cầu thấp hơn.(5)

Theo Brull và cộng sự, báo cáo một loạt các

biến chứng thần kinh, cho thấy tỷ lệ tổn thương

thần kinh vĩnh viễn sau gây tê tuỷ sống khác

nhau từ 0- 4,2/10.000 bệnh nhân Trong một cuộc

khảo sát của Pháp, chấn thương thần kinh vĩnh

viễn khác mà không phải là do xuất huyết là phổ

biến hơn và bao gồm cả thương tích chóp tủy, và

nguy cơ ước tính được là 1/78.660 bệnh nhân gây

tê tuỷ sống Các bệnh lý tủy sống có trước đó

làm tăng tỷ lệ mắc phải các biến chứng thần kinh

sau gây tê trục thần kinh Gây tê lặp đi lặp lại

hoặc tư thế không đúng của bệnh nhân có thể

tạo thuận lợi làm tổn thương thần kinh Hẹp ống

sống thắt lưng là yếu tố góp phần gây ra các kết

cục thần kinh bất lợi Sự xuất hiện của chứng vẹo

cột sống có hoặc không có phẫu thuật trước đó

gây khó khăn cho việc gây tê tủy sống Khi so

với gây tê tủy sống, tỷ lệ gây tê ngoài màng cứng

thành công thấp hơn, do khó khăn về kỹ thuật

và sự phân bố không phù hợp của thuốc gây tê

Mặc dù cơ chế chính xác không được xác định,

áp suất thủy tĩnh trong suốt thời gian gây tê

ngoài màng cứng đã được chỉ ra như là một

nguồn có thể gây tổn thương Mặt khác, chấn

thương thần kinh trực tiếp do kim gây tê là một

trong những lý do có thể dự phòng cho biến

chứng thần kinh Tốt nhất là rút kim trong trường hợp bệnh nhân dị cảm, mà nó có liên quan nhiều đến tổn thương thần kinh sau phẫu thuật và tránh lặp lại phương pháp gây tê cục bộ

để ngăn ngừa tình trạng ngộ độc do nồng độ thuốc trong tủy sống

Reynolds đã báo cáo một loạt các trường hợp chấn thương chóp tủy gồm 01 bệnh nhân nữ không liên quan sản khoa và sáu bệnh nhân nữ liên quan sản khoa, dẫn đến tổn thương hệ thần kinh lâu dài Gây tê tủy sống được thực hiện ở

ba bệnh nhân, trong khi tê tủy sống kết hợp với gây tê ngoài màng cứng đã được thực hiện ở phần còn lại của các bệnh nhân khác Chỉ có một bệnh nhân bị đau trong khi đâm kim Những lý

do có thể lý giải cho điều này là đâm nhầm kim

ở phần thấp của tủy sống, không xác định được đường Tuffier hoặc màng nhện có thể đã dính vào chóp tủy như một mạng lưới Tác giả kết luận rằng đường Tuffier là một phương pháp không đáng tin cậy để xác định khoảng liên đốt sống chính xác Ở người béo phì, hoặc trong trường hợp mang thai do tăng lớp mỡ dưới da vùng mào chậu có thể sai lầm dẫn đến việc đâm kim ở khoang liên đốt sống cao hơn Thật vậy, Broadbent và cộng sự chứng minh rằng một bác

sỹ không xác định chính xác khoang liên đốt sống bằng cách sờ Khoang liên đốt sống đã được xác định chính xác chỉ có 30% bệnh nhân bằng cách sờ và trong 71% khi sử dụng siêu

âm(1) Trong một nghiên cứu MRI của 690 bệnh nhân, Kim và công sự cho thấy rằng nên thực hiện thận trọng khi lựa chọn khoảng liên đốt sống thích hợp, đặc biệt là ở người béo phì và bệnh nhân cao tuổi Mức chóp tủy có thể thấp hơn dự kiến ở phụ nữ có xẹp hay gãy đốt sống ngực Bác sĩ lâm sàng nên đặc biệt chú ý đến những thay đổi giải phẫu học Hình ảnh siêu âm giúp hướng dẫn hoàn thành gây tê trục thần kinh Mặc dù kết quả đầy hứa hẹn đã được công

bố về việc tạo điều kiện gây tê thần kinh trong những trường hợp khó khăn bằng cách giảm thời gian và số lần cố gắng đâm kim,(6) cho đến nay vẫn chưa thể kết luận rằng sử dụng siêu âm

Trang 6

hướng dẫn có thể giảm các biến chứng Các bác

sĩ gây mê cũng nên thận trọng liên quan đến

bệnh nhân với các bệnh kèm theo như bệnh

mạch máu ngoại biên và đái tháo đường, có thể

có những bệnh thần kinh tiềm ẩn có thể khiến

cho bệnh nhân tổn thương thần kinh sau gây tê

tủy sống(9).

Khử trùng da bằng chlorhexidine đã chứng

minh là tốt hơn iodopovidone ASRA khuyên sử

dụng chlorhexidine trong dung dịch cồn trước

khi thực hiện tất cả các biện pháp gây tê vùng để

ngăn ngừa các biến chứng nhiễm trùng Tuy

nhiên, sử dụng chlorhexidine không phải hoàn

toàn không có nguy cơ Bogod báo cáo hai

trường hợp chlorhexidine gây ra thương tích

thần kinh vĩnh viễn Trong một trường hợp,

dung dịch chlorhexidine đã được đưa vào

khoang ngoài màng cứng Trong trường hợp thứ

hai, 0.1 mL dung dịch kháng khuẩn

(chlorhexidine) pha nhầm với thuốc gây tê rồi

tiêm vào khoang dưới nhện Tác giả khuyên sử

dụng dạng phun để sát trùng da, cảnh báo với

nồng độ cao [> 2%] Chỉ cần xịt một nhát và chờ

cho tới khi da khô là được

Ngoài tổn thương thần kinh trực tiếp, do

máu tụ thì tổn thương thần kinh còn có thể do

ngộ độc thuốc tê, thiếu máu thần kinh thứ phát

do căng giãn thần kinh đặc biệt là tư thế

lithotomy, thiếu máu nuôi do nhồi máu, co mạch

máu nuôi tủy sống, do thuốc test catheter ngoài

màng cứng có chứa epinephrine nồng độ cao, tụt

huyết áp kéo dài, lôi kéo trong lúc phẫu thuật…

Trong gần 60 năm, lidocaine đã được chứng

minh là an toàn và đáng tin cậy cho gây tê tuỷ

sống với dung dịch lidocaine 5% ưu trọng(5) đã

được xem là nguyên nhân gây ra hội chứng

chùm đuôi ngựa, liên quan đến việc sử dụng các

micro-catheter Tần số các triệu chứng TNPs

được quan sát thấy nhiều ở bệnh nhân phẫu

thuật ngoại trú và tư thế mổ lithotomy(8)

Sau các báo cáo ban đầu về TNPs với

lidocaine, triệu chứng này cũng có liên quan tới

các thuốc gây tê khác Tỷ lệ TNPs do lidocaine

5% đã được ghi nhận từ 10% - 37% Nguy cơ đối

với TNPs cao nhất với lidocaine cũng như mepivacaine và có vẻ như dùng lidocain có nguy

cơ cao hơn 7 lần sau khi dùng bupivacaine, prilocaine, procaine, levobupivacain thấp hơn bupivacain Người ta cho rằng khi gây tê tủy sống bằng thuốc tê có nồng độ cao có thể là một yếu tố đóng góp quan trọng gây TNPs(1) Bởi vì độc tính được cho là có liên quan mật thiết với nồng độ, một cách tiếp cận hợp lý để giải quyết vấn đề này là xem xét dùng thuốc tê lidocaine có nồng độ thấp khi tê tủy sống Tuy nhiên, trong các nghiên cứu lâm sàng, giảm nồng độ lidocaine từ 5% xuống 2% không ngăn cản sự phát triển của TNPs

Tỷ lệ TNPs sau khi tiêm mepivacain 4% gây

tê tủy sống khá cao và lên đến 30%.Ba nghiên cứu ngẫu nhiên kết hợp cho một tỷ lệ tương tự TNPs giữa mepivacaine so với lidocaine Tỷ lệ những triệu chứng này với tetracaine 0,5% có pha phenylephrine là 12,5%, nhưng chỉ 1,0% khi dùng tetracaine 0,5% không có pha phenylephrine.(11) Tỷ lệ TNPs sau khi dùng bupivacaine tăng trọng 0,5% hoặc 0,75% là 0% - 3%.(12) Thời gian tồn tại các triệu chứng sau gây tê tuỷ sống bằng bupivacaine ít hơn 12 giờ so với 12-120 giờ sau khi gây tê tủy sống bằng mepivacaine Đối với prilocaine tỷ lệ mắc TNPs thấp từ 0% đến 4%

Ngoài các tác động độc hại của thuốc gây tê tại chỗ, tư thế lithotomy trong suốt quá trình phẫu thuật góp phần gây TNPs Vị trí phẫu thuật lithotomy gây TNPs bằng cách kéo căng chùm đuôi ngựa và và dây thần kinh tọa, làm giảm cung cấp máu và tăng tính dễ tổn thương của sợi thần kinh Trong quá trình phẫu thuật khớp gối,

vị trí của chân phẫu thuật bị thay đổi và việc kéo căng thần kinh có thể xảy ra, làm tăng nguy cơ bị TNPs Tỉ lệ TNPs cao hơn sau phẫu thuật khớp gối so với điều trị thoát vị bẹn

Các thuốc co mạch phối hợp trong gây tê có thể liên quan đến thiếu máu cục bộ hoặc làm gây

tê kéo dài do giảm sự hấp thu thuốc tê Thêm phenylephrine vào tetracaine làm tăng tần số các triệu chứng thần kinh thoáng qua Tetracaine

Trang 7

trong ống sống làm tăng lưu lượng máu tủy

sống và ảnh hưởng có thể được đảo ngược hoặc

ngăn ngừa bằng epinephrine(9) Lidocaine gây ra

giãn mạch trong tủy sống ít hơn và bupivacaine

là thuốc co mạch Epinephrine được thêm vào

lidocaine đã không làm tăng tỷ lệ TNPs so với

lidocaine mà không có epinephrine Mặc dù,

nồng độ khác nhau của lidocaine (5% có

epinephrine và 2% không có epinephrine) đã

được dùng

Chấn thương do kim thường là một bên và

có liên quan chặt chẽ với việc đâm kim hoặc tiêm

thuốc tê TNPs xuất hiện sau khi gây tê tủy sống

bình thường và không có tương quan với dị cảm

và tỷ lệ xuất hiện triệu chứng đã được tìm thấy

Một nghiên cứu hồi cứu tại Pháp của Auroy Y, và công sự về biến chứng gây tê vùng, Đăng trên tạp chí Anesthesiology 1997;87:479 ghi nhận rằng:

Bảng 1: Biến chứng gây tê vùng theo nghiên cứu của

Auroy Y tại Pháp (1997)

Kỹ thuật Hội chứng chùm

đuôi ngựa

Liệt hai chi dưới

Bệnh lý rễ thần kinh

Gây tê tủy

Gây tê ngoài

Một nghiên cứu khác ở Thụy Điển của Moen

và cộng sự ghi nhận đang trên tạp chí Anesthesiology, 2004; 101: 1274-1280 ghi nhận:

Bảng 2: Biến chứng thần kinh của gây tê vùng theo nghiên cứu của Moen tại Thụy Điển (2004)

Kỹ thuật Gây tê ngoài màng cứng CSE* Gây tê tủy sống Gây tê tủy sống liên tục Tổng cộng

*CSE: combined spinal and epidural anesthesia: gây tê tủy sống và gây tê ngoài màng cứng phối hợp

Hầu hết những bệnh lý rễ thần kinh sau gây

tê trục thần kinh thường hồi phục tốt sau khoảng

sáu tháng với điều trị bằng corticoid hay kháng

viêm non-steroid và tập vật lý trị liệu tích cực

KẾT LUẬN

Nhiều biến chứng khác nhau có thể xảy ra

trong gây tê trục thần kinh và có liên quan đến

kỹ thuật hoặc các loại thuốc được sử dụng trong

suốt quá trình Người bác sỹ gây mê có thể được

giảm bớt các biến chứng này bằng cách hỏi bệnh

sử cẩn thận và thực hiện thủ thuật một cách tỉ

mỉ, chú ý đến các chi tiết trong suốt thời gian

thực hiện gây tê Thực hiện dưới hướng dẫn của

siêu âm có thể giúp việc giảm các biến chứng

trong các trường hợp khó khăn Để giảm các

biến chứng nghiêm trọng, lựa chọn bệnh nhân

và tuân thủ các hướng dẫn cơ bản Tổn thương

trục thần kinh hiếm nhưng thường vĩnh viễn do

đó cần theo dõi sát phát hiện sớm và xử trí khẩn

cấp khi tổn thương thần kinh trung ương còn có khả năng hồi phục, TNPs thường gặp nhưng tổn thương ít khi kéo dài, vĩnh viễn đa số đáp ứng tốt với thuốc kháng viêm và tập vật lý trị liệu tích cực

TÀI LIỆU THAM KHẢO

lidocaine-induced irreversible conduction loss in frog nerve

Anesthesiology 8: p 657–667

neurologic deficit after spinal anesthesia: local anesthetic

maldistribution with pencil point needles? Anesth Analg 81: p

314–320

complication of central neuraxial block: report on the third

national audit project of the Royal College of Anaesthetists Br

J Anaesth 102: p 79-90

9:249–270

complications after anaesthesia A follow-up of 18,000 spinal

and epidural anaesthetics performed over three years Acta

Anaesthesiol Scand; 39: p.872–880

Trang 8

6 Gerancher J (1997) Cauda equina syndrome following a

single spinal administration of 5% hyperbaric lidocaine

through a 25-gauge Whitacre needle Anesthesiology 87: p.687–

689

Hyperosmolarity does not contribute to transient radicular

irritation after spinal anesthesia with hyperbaric 5% Anaesth

75: p 3–5

anesthesia in the anticoagulated patient: defi ning the risks

Reg Anesth Pain Med 29: p S1–S11

blood flow following subarachnoid tetracaine Can J Anaesth

32: p.23–29

10 Rodriguez-Chinchilla R, Rodriguez-Pont A, Pintanel T, et al

(1996) Bilateral severe pain at L3-4 after spinal anaesthesia

with hyperbaric 5% lignocaine Br J Anaesth 76: p.328–329

11 Sakura S, Sumi M, Sakaguchi Y, et al (1997) The addition of phenylephrine contributes to the development of transient neurologic symptoms after spinal anesthesia with 0.5%

tetracaine Anesthesiology 87: p.771–778

12 Tarkkila P, Huhtala J, Tuominen M, Lindgren L (1996) Transient radicular irritation after bupivacaine spinal

anesthesia Reg Anesth 2: p.26–29

Ngày nhận bài báo: 17/01/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 09/02/2018 Ngày bài được đăng: 10/05/2018

Ngày đăng: 14/01/2020, 22:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w