Bài viết trình bày mô tả thực trạng tế bào CD4, tải lượng virut HIV và hành vi nguy cơ ở các cặp vợ chồng có một người mới phát hiện nhiễm HIV được quản lý tại phòng khám ngoại trú tỉnh Điện Biên và thành phố Cần Thơ (2013 - 2014).
Trang 1THỰC TRẠNG TẾ BÀO CD4, TẢI LƯỢNG VIRUT HIV VÀ HÀNH VI NGUY CƠ Ở CÁC CẶP VỢ/CHỒNG CÓ MỘT NGƯỜI NHIỄM HIV/AIDS
TẠI ĐIỆN BIÊN VÀ CẦN THƠ (2013 - 2014)
Đoàn Văn Việt 1 ; Nguyễn Thanh Long 2 ; Nguyễn Văn Hưng 3
TÓM TẮT
Mục tiêu: mô tả thực trạng tế bào CD4, tải lượng virut HIV và hành vi nguy cơ ở các cặp vợ
chồng có một người mới phát hiện nhiễm HIV được quản lý tại phòng khám ngoại trú tỉnh Điện Biên
và thành phố Cần Thơ (2013 - 2014) Đối tượng và phương pháp: mô tả cắt ngang; phỏng vấn
trực tiếp đối tượng nghiên cứu và xét nghiệm máu định lượng tế bào CD4 và tải lượng virut HIV Tổng số có 133 cặp vợ chồng có một người nhiễm HIV/AIDS (Điện Biên: 98 cặp; Cần Thơ 36 cặp)
tham gia vào nghiên cứu Kết quả: tế bào CD4 và tải lượng virut của người nhiễm HIV: 20,9% và
26,1% có tế bào CD4 ở mức nguy hiểm và nguy cơ rất cao, có thể đe dọa viêm màng não bất kỳ khi nào, 64,9% đối tượng có nguy cơ nhiễm trùng cơ hội; đa số (92,2%) có tải lượng virut ở mức nguy
cơ rất cao (dễ lây qua đường tình dục) và mức rất nguy hiểm với người tiếp xúc; 95,3% đối tượng
có nguy cơ làm lây nhiễm HIV cho người xung quanh Hành vi nguy cơ của các cặp vợ chồng: 6,7% người nhiễm HIV có tiêm chích ma túy trong vòng 3 tháng qua; 77,6% vợ hoặc chồng của người nhiễm HIV cho rằng người nhiễm HIV vẫn còn tiêm chích ma túy trong vòng 3 tháng qua 24,6% cặp vợ/chồng có một người bị nhiễm HIV có quan hệ tình dục với nhau trong vòng 3 tháng
qua, trong đó 87,9% có sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục Kết luận: tỷ lệ người nhiễm HIV
có tế bào CD4 ở mức nguy hiểm và nguy cơ rất cao là 20,9% và 26,1%, 92,2% có tải lượng virut ở mức nguy cơ rất cao và rất nguy hiểm với người tiếp xúc Trong 3 tháng qua: 24,6% cặp vợ/chồng
có quan hệ tình dục với nhau (87,9% có sử dụng bao cao su) và 77,6% vợ hoặc chồng âm tính với HIV cho rằng người nhiễm HIV vẫn còn tiêm chích ma túy
* Từ khóa: Nhiễm HIV; Tế bào CD4; Tải lượng virut; Hành vi nguy cơ; Cặp vợ/chồng
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch HIV ở Việt Nam vẫn đang tập
trung trong các nhóm lây nhiễm chính và
mô hình lây nhiễm chủ yếu thông qua
tiêm chích ma túy Theo ước tính mới đây
cho thấy, lây truyền qua đường tình dục
bắt đầu chiếm một tỷ lệ đáng kể và
thường xảy ra chủ yếu trong nhóm giữa
người tiêm chích ma túy với bạn tình của
họ, giữa phụ nữ bán dâm với khách hàng
của họ, giữa khách làng chơi với vợ của
họ và nhóm quan hệ tình dục đồng giới
với bạn tình của họ kể cả nam và nữ
Các hành vi có nguy cơ cao như tình dục không an toàn vẫn diễn ra phổ biến Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học (IBBS) [1] và đánh giá liệu pháp điều trị thay thế methadone trong những năm gần đây cho thấy, tỷ lệ người nghiện chích ma túy thấp và không thường xuyên, tỷ lệ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm trong nhóm nghiện chích
ma túy chỉ đạt 22 - 63% Còn đối với bản thân nhóm phụ nữ bán dâm, tỷ lệ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với khách hàng của họ cũng chỉ đạt 31 - 81%
1 Trung tâm Y tế quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
2 Ban Tuyên giáo Trung ương
3 Học viện Quân y
Người phản hồi (Corresponding): Đoàn Văn Việt (drviet67@gmail.com)
Ngày nhận bài: 30/08/2019; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 09/09/2019
Ngày bài báo được đăng: 10/10/2019
Trang 2Các số liệu tại Việt Nam cho thấy, hiện
có một số lượng đáng kể các cặp bạn
tình dị nhiễm HIV Kết quả điều tra 2.597
người nhiễm HIV tại 22 tỉnh/thành phố đã
chỉ ra, 46% vợ/bạn tình của nam nhiễm
HIV hiện đang âm tính hoặc không biết rõ
tình trạng nhiễm HIV của mình, trong khi
đó tỷ lệ này đối với chồng/bạn tình của
người nữ nhiễm HIV là 15% Khoảng
40% số người nhiễm HIV đã lập gia đình
hiện đang điều trị tại phòng khám ngoại
trú của Bệnh viện Bạch Mai thuộc nhóm
các cặp bạn tình dị nhiễm HIV [2]
Điện Biên và Cần Thơ thuộc nhóm
các tỉnh trọng điểm và chịu nhiều tác
động của dịch HIV tại Việt Nam Điện
Biên là tỉnh miền núi phía Bắc, có đường
biên giới với Lào, nơi có dịch HIV đang
gia tăng và tác động lớn đến nhóm người
tiêm chích ma túy và bạn tình của họ Tỷ
lệ nhiễm HIV của nhóm nghiện chích ma
túy năm 2009 tại Điện Biên là 56% [3] Tỷ
lệ phát hiện nhiễm HIV của bà mẹ mang
thai theo kết quả giám sát trọng điểm
năm 2010 là 1,5% và là tỉnh cao nhất
trong cả nước Cần Thơ là tỉnh phía Nam
thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có mô
hình lây nhiễm HIV kết hợp, với số lượng
đáng kể phụ nữ bán dâm nhiễm HIV Tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích
ma túy của tỉnh năm 2009 là 32%, trong
khi tỷ lệ này ở nhóm phụ nữ bán dâm là
16% [4] Ở cả hai tỉnh, lây nhiễm HIV do
tiêm chích ma túy vẫn là phương thức lây
nhiễm chính Tuy nhiên, cho đến nay, tại
hai tỉnh chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu,
xác định đặc điểm và hành vi nguy cơ
trong các cặp vợ/chồng dị nhiễm HIV
Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
nhằm mục tiêu: Mô tả thực trạng tế bào
CD4, tải lượng virut HIV và hành vi nguy
cơ ở các cặp vợ chồng có một người mới được phát hiện nhiễm HIV được quản lý tại phòng khám ngoại trú tỉnh Điện Biên
và thành phố Cần Thơ (2013 - 2014).
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Đối tượng:
Các cặp vợ/chồng mà một trong hai người đến tìm kiếm dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV tại phòng khám ngoại trú ở Điện Biên, Cần Thơ, được khẳng định nhiễm HIV
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu: các cặp vợ/chồng hiện có quan hệ tình dục thường xuyên (kể cả đồng giới hay khác giới); tuổi ≥ 18 và đang sinh sống tại Điện Biên và Cần Thơ trong thời gian nghiên cứu; một trong hai người đã được khẳng định HIV dương tính, người còn lại âm tính; cả hai đều chấp nhận tham gia nghiên cứu (có nghĩa
cả hai đều tham gia tư vấn cặp, người có HIV (+) chấp nhận điều trị ARV ngay)
* Thời gian và địa điểm:
Nghiên cứu tiến hành từ 2013 - 2014 tại tỉnh Điện Biên và thành phố Cần Thơ
2 Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
* Cỡ mẫu và chọn mẫu: áp dụng công thức trong nghiên cứu mô tả [5]:
Trang 32
) 1 (
d
p
Trong đó: n: số cặp vợ/chồng được
chọn nghiên cứu tối thiểu; α: mức ý nghĩa
thống kê: chọn α = 0,05; z: hệ số tin cậy =
1,96 (α = 0,05 độ tin cậy 95%); p: tỷ lệ
người nhiễm HIV tham gia khám tư vấn
và xét nghiệm HIV (ước tính) được xác
định có vợ hoặc chồng hiện đang âm tính
hoặc không biết rõ tình trạng nhiễm HIV
của mình, lấy p = 0,50 (1 - p = 0,50);
d: sai số cho phép 0,09 (độ chính xác
mong muốn) Thay các giá trị vào công
thức tính được n = 118 cặp Ước lượng
tỷ lệ từ chối trong nghiên cứu khoảng
10% để duy trì độ chính xác của kết quả,
cỡ mẫu tính toán là 130 cặp Trên thực tế
đã điều tra 134 cặp vợ/chồng
Phương pháp chọn mẫu dây chuyền
có kiểm soát được sử dụng để tuyển chọn
người tham gia nghiên cứu Đầu tiên,
dựa vào danh sách người nhiễm HIV
mà nhóm nghiên cứu đã biết hoặc được
các đồng đẳng viên giới thiệu, ba cặp
vợ/chồng dị nhiễm HIV “hạt giống” sẽ
được chọn làm những người tham gia
nghiên cứu đầu tiên Sau khi phỏng vấn,
mỗi cặp tham gia (sẽ trở thành những
người tuyển chọn) được nhận 03 phiếu
mời để mời những cặp vợ/chồng dị
nhiễm HIV khác mà họ biết tham gia vào
nghiên cứu Nếu những cặp vợ/chồng dị
nhiễm HIV trong cộng đồng nhận được
phiếu mời và muốn tham gia, họ cầm
theo phiếu mời và đến cơ sở tư vấn,
xét nghiệm HIV để làm thủ tục nghiên cứu Quy trình tuyển chọn sử dụng 03 phiếu mời tiếp tục như vậy cho đến khi
đủ cỡ mẫu thì dừng lại
* Phương pháp và kỹ thuật thu thập
số liệu:
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu (gồm cả vợ và chồng), trong đó một người có HIV dương tính và một người
có HIV âm tính
- Xét nghiệm: xác định tình trạng nhiễm HIV dựa vào hướng dẫn quốc gia, xét nghiệm mẫu máu bằng test nhanh, sau đó khẳng định lại bằng test EIA và test Murex HIV Ag/Ab Xét nghiệm xác định tế bào CD4 thực hiện tại Trung tâm Phòng chống AIDS tỉnh Điện Biên và thành phố Cần Thơ Xét nghiệm tải lượng virut HIV thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai (với các mẫu thu được ở Điện Biên)
và tại Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh (với các mẫu thu được ở Cần Thơ)
* Xử lý và phân tích số liệu:
Số liệu được nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1 và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 11.5 cho các thông tin mô tả và phân tích thống kê
* Đạo đức nghiên cứu:
Nghiên cứu được thông qua tại Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng trước khi triển khai chính thức Bản đồng ý tham gia nghiên cứu được cả 2 đối tượng trong cặp vợ/chồng
dị nhiễm HIV ghi nhận
n = Z2(1-α/2)
Trang 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thực trạng tế bào CD4 và tải lượng virut nhiễm HIV/AIDS ở người nhiễm HIV
Bảng 1: Phân mức tế bào CD4 trên đối tượng nhiễm HIV
Điện Biên
Phân mức tế bào CD4/µl
Tỷ lệ có tế bào CD4 ở mức nguy hiểm (< 100 tế bào/µl) và ở mức nguy cơ rất cao (100 - < 350 tế bào/µl) có thể đe dọa viêm màng não bất kỳ khi nào, chung của 2 tỉnh
là 21,1% và 26,3% (Điện Biên: 16,3 và 28,6%; Cần Thơ: 34,3% và 20,0%)
Tổng đối tượng có nguy cơ nhiễm trùng cơ hội (CD4 < 500 tế bào/µl) chung của
2 tỉnh là 65,4% (Điện Biên: 64,3%; Cần Thơ: 68,6%)
Sự khác biệt về mức tế bào CD4 trong máu ở người nhiễm HIV giữa 2 tỉnh Điện Biên
và Cần Thơ không có ý nghĩa thống kê (Chi2 test, p > 0,05)
Bảng 2: Số tế bào CD4 trên đối tượng nhiễm HIV
Người nhiễm HIV có số tế bào CD4/µl thấp nhất chỉ 1 - 2 tế bào (gần như mất hết tế bào CD4); cao nhất từ 1.231 - 1.308 tế bào/µl Giá trị trung vị (Median) dao động từ
348 - 375 tế bào/µl Trung bình số tế bào CD4 ở người nhiễm HIV tại Điện Biên và Cần Thơ lần lượt: 336,9 (95%CI: 336,9 - 437,8) và 378,3 (95%CI: 260,6 - 495,9) Sự khác biệt trung bình số tế bào CD4 ở người nhiễm HIV giữa hai tỉnh không có ý nghĩa thống
kê (p > 0,05)
Trang 5Bảng 3: Phân mức tải lượng virut HIV trên đối tượng nhiễm HIV
Điện Biên (n = 98) Cần Thơ (n = 29) Chung 2 tỉnh (n = 127) Phân mức tải lượng virut HIV
Tỷ lệ có tải lượng virut ở mức dưới ngưỡng phát hiện, mức rất tốt (< 20 copies/ml)
và ở mức tốt (20 - < 200 copies/ml; mức không lây qua đường tình dục) chiếm tỷ lệ rất thấp, chung 2 tỉnh là 4,7% (Điện Biên: 5,1%; Cần Thơ: 3,4%)
Đa số người nhiễm HIV có tải lượng virut ở mức nguy cơ rất cao (1.000 - < 100.000 copies/ml; dễ dàng lây qua đường tình dục) và mức rất nguy hiểm (≥ 100.000 copies/ml; rất nguy hiểm với người tiếp xúc), chung của 2 tỉnh là 92,2% (Điện Biên: 90,8%; Cần Thơ: 96,6%)
Tổng đối tượng có nguy cơ làm lây nhiễm HIV cho người xung quanh (tải lượng virut HIV ở mức ≥ 200 copies/ml) chiếm tỷ lệ rất cao: 95,3% (Điện Biên: 94,9%; Cần Thơ: 96,6%)
Bảng 4: Tải lượng virut HIV/ml trên đối tượng nhiễm HIV
Trong số những người có tải lượng virut HIV vượt ngưỡng (Điện Biên: 95 người; Cần Thơ: 28 người) cho thấy: tải lượng virut thấp nhất từ 50 - 1.170 copies/ml và cao nhất 3.410.000 - 5.850.000 copies/ml Giá trị trung vị nằm trong khoảng 63.400 - 93.300 copies/ml Trung bình cộng của tải lượng virut trên các đối tượng ở Điện Biên 336.409,4 (95%CI: 155.829,5 - 516.989,2), Cần Thơ: 418.241,8 (95%CI: 133.522,6 - 702.960,9)
Trang 62 Một số hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của các cặp vợ/chồng người nhiễm HIV
Bảng 5: Thực trạng hành vi tiêm chích ma túy của người nhiễm HIV trong vòng
3 tháng qua
Điện Biên (n = 98)
Cần Thơ (n = 36)
Chung 2 tỉnh (n = 134) Hành vi tiêm chích ma túy
Không dùng bơm kim tiêm mới lần
Dùng chung bơm kim tiêm với
Trong số có
hành vi tiêm
chích ma túy
Dùng chung bơm kim tiêm với
Tỷ lệ có tiêm chích ma túy trong vòng 3 tháng qua của người nhiễm HIV chung 2 tỉnh là 6,7% (Điện Biên: 7,1%; Cần Thơ: 5,6%) Sự khác biệt về tỷ lệ tiêm chích giữa 2 tỉnh không có ý nghĩa thống kê (Chi2 test, p > 0,05) 6/7 người ở Điện Biên và 2/2 người ở Cần Thơ không dùng bơm kim tiêm mới lần gần nhất; 7/7 người ở Điện Biên
và 1/2 người ở Cần Thơ có dùng chung bơm kim tiêm với vợ/chồng và với người khác trong vòng 3 tháng qua
Bảng 6: Nhận định của vợ/chồng về tình trạng tiêm chích ma túy của người nhiễm HIV trong 3 tháng qua
Tình trạng tiêm chích ma túy
Vợ/chồng của người nhiễm HIV cho rằng người nhiễm HIV vẫn còn tiêm chích ma túy trong vòng 3 tháng qua chung của 2 tỉnh là 77,6% (Điện Biên: 69,4%; Cần Thơ: 100%) Tại Điện Biên, 22,4% vợ/chồng của người người nhiễm HIV không biết được người nhiễm HIV có còn tiếp tục tiêm chích ma túy nữa hay không
Trang 7Bảng 7: Hành vi tình dục trong vòng 3 tháng qua của vợ/chồng người nhiễm HIV
Điện Biên (n = 98)
Cần Thơ (n = 36)
Chung 2 tỉnh (n = 134) Hành vi tình dục
Trong đó
Tỷ lệ các cặp vợ/chồng có một người bị nhiễm HIV có quan hệ tình dục với nhau trong vòng 3 tháng qua chung của 2 tỉnh là 24,6% (Điện Biên: 19,4%; Cần Thơ: 38,9%) Trong quan hệ tình dục, các cặp vợ/chồng có dùng bao cao su chung của 2 tỉnh là 87,9% (Cần Thơ: 100%; Điện Biên: 78,9%)
Bảng 8: Thực trạng các cặp vợ/chồng người nhiễm HIV đã tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ cai nghiện, chăm sóc sức khỏe và phòng lây nhiễm HIV
Loại dịch vụ
Vợ hoặc chồng của người nhiễm HIV
ở 2 tỉnh chủ yếu tiếp cận và sử dụng dịch
vụ khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc
sức khỏe tại các cơ sở y tế nói chung
(trạm y tế xã/phường, phòng khám ) ở
Điện Biên là 80,6% và Cần Thơ là 69,4%
BÀN LUẬN
* Về tế bào CD4 ở người nhiễm HIV:
Ở thời điểm năm 2013, chỉ số CD4 là chỉ số thay thế tốt để biết mức độ HIV đã phá hủy hệ miễn dịch của người nhiễm HIV và cho biết nguy cơ nhiễm khuẩn
Trang 8cũng như thời điểm cần bắt đầu điều trị
Với những người nhiễm HIV có CD4 <
350 được chỉ định điều trị ARV là phù
hợp tại thời điểm 2013 Trong nghiên cứu
của chúng tôi, tỷ lệ tế bào CD4 ở mức nguy
hiểm và mức nguy cơ rất cao, có thể đe
dọa viêm màng não bất kỳ khi nào, chung
của 2 tỉnh là 21,1% và 26,3% (Điện Biên:
16,3 và 28,6%; Cần Thơ: 34,3% và 20,0%)
Tổng đối tượng có nguy cơ nhiễm trùng
cơ hội (CD4 < 500 tế bào/µl) chung của
2 tỉnh là 65,4% Số CD4 trung bình ban
đầu của người nhiễm HIV dương tính
trung bình 384,9 và 47,0% CD4 < 350
Như vậy, gần một nửa vợ hoặc chồng
dương tính có nguy cơ đe dọa biến
chứng về sức khỏe và có chỉ định điều trị
ARV Tuy nhiên, Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) đã khuyến cáo phương pháp dự
phòng HIV bằng cách điều trị ARV cho
người nhiễm HIV nên bắt đầu sớm hơn,
không phụ thuộc vào số lượng CD4 của
người nhiễm HIV sẽ có tác động tích cực
trong giảm thiểu khả năng lây nhiễm HIV
từ người nhiễm HIV sang vợ chồng/bạn
tình âm tính của họ [6]
* Về tải lượng virut ở người nhiễm HIV:
Nhóm nghiên cứu Rakai do Thomas
Quinn chủ trì đã theo dõi 415 cặp không
đồng nhiễm HIV tại Uganda trong suốt 30
tháng để đánh giá tác động của một số
yếu tố nguy cơ sinh học và hành vi gồm
tải lượng virut trong khả năng lây truyền
qua tình dục khác giới Nghiên cứu đã chỉ
ra nguy cơ lây truyền cho bạn tình không
bị nhiễm thay đổi rõ rệt dựa trên mức tải
lượng virut khác nhau Mức ARN HIV-1
trung bình trong huyết thanh cao hơn
đáng kể ở người bệnh gây lây truyền virut HIV (90.254 copies/ml) so với người bệnh không lây truyền virut (38.029 copies/ml)
Không có lây truyền HIV nào diễn ra
từ người bệnh HIV có tải lượng virut
< 1.500 copies/ml Trong số 90 ca lây nhiễm, 23% lây truyền từ bạn tình bị nhiễm với mức tải lượng virut khoảng
400 - 9.999 copies/ml, 40% có tải lượng
từ 10.000 - 49.999 copies/ml, 37% có tải lượng khoảng > 50.000 copies/ml Dựa vào phân tích này, > 75% ca nhiễm có tải lượng virut cao trên 10.000 copies/ml [7]
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, đa số người nhiễm HIV có tải lượng virut ở mức nguy cơ rất cao (1.000 -
< 100.000 copies/ml) dễ dàng lây qua đường tình dục và ở mức rất nguy hiểm (≥ 100.000 copies/ml), rất nguy hiểm với người tiếp xúc, chung của 2 tỉnh là 92,2%
(Điện Biên: 90,9%; Cần Thơ: 96,6%)
Tổng đối tượng có nguy cơ làm lây nhiễm HIV cho người xung quanh chiếm tỷ lệ rất cao, chung của 2 tỉnh là 95,3%
* Về hành vi nguy cơ của các cặp vợ/chồng dị nhiễm HIV:
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ có tiêm chích ma túy trong vòng 3 tháng qua của người nhiễm HIV chung 2 tỉnh là 6,7% (Điện Biên: 7,1%; Cần Thơ: 5,6%)
Tuy nhiên, vợ/chồng của người nhiễm HIV lại cho rằng người nhiễm HIV vẫn còn tiêm chích ma túy trong vòng 3 tháng qua, chung của 2 tỉnh là 77,6% (Điện Biên:
69,4%; Cần Thơ: 100%) Mặc dù hai tỷ lệ
về tiêm chích ma túy của người nhiễm HIV của hai đối tượng trả lời rất khác nhau, nhưng đều phản ảnh một thực tế
Trang 9người nhiễm HIV khi sử dụng ma túy
bằng đường tiêm chích, nguy cơ lây
nhiễm HIV/AIDS ra cộng đồng là điều khó
tránh khỏi
Hành vi quan hệ tình dục không dùng
bao cao su với bạn tình thường xuyên là
nguy cơ cao gây lây nhiễm HIV Kết quả
nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ các cặp
vợ/chồng có một người bị nhiễm HIV có
quan hệ tình dục với nhau trong vòng
3 tháng qua, chung của 2 tỉnh là 24,6%
(Điện Biên: 19,4%; Cần Thơ: 38,9%)
Trong quan hệ tình dục, các cặp vợ/chồng
có dùng bao cao su, chung của hai tỉnh là
87,9% (Cần Thơ: 100%; Điện Biên: 78,9%)
Như vậy, nguy cơ lây nhiễm HIV từ người
nhiễm sang vợ hoặc chồng âm tính với
HIV vẫn còn hiện hữu và ở mức cao tại
Điện Biên Do vậy, cần nâng cao nhận
thức cho người nhiễm HIV cũng như các
nhóm có nguy cơ lây nhiễm HIV cao về
việc thường xuyên sử dụng bao cao su
khi quan hệ tình dục với vợ/chồng hoặc
bạn tình
KẾT LUẬN
Tỷ lệ người nhiễm HIV có tế bào CD4
ở mức nguy hiểm và ở mức nguy cơ rất
cao (21,1% và 26,3%), có nguy cơ nhiễm
trùng cơ hội (65,4%), có tải lượng virut ở
mức nguy cơ rất cao và mức rất nguy
hiểm với người tiếp xúc rất cao (92,2%);
tổng đối tượng có nguy cơ làm lây nhiễm
HIV cho người xung quanh chiếm tỷ lệ rất
cao (95,3%) Trong 3 tháng qua: 24,6%
cặp vợ/chồng có quan hệ tình dục với
nhau (trong đó, sử dụng bao cao su 87,9%) và 77,6% vợ hoặc chồng âm tính với HIV cho rằng người nhiễm HIV vẫn còn tiêm chích ma túy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. Kết quả giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam - vòng III - 2013 và xu hướng qua 03 vòng của cuộc điều tra 2014
2 Cục Phòng chống HIV/AIDS Liệu pháp kháng retrovirus nhằm dự phòng lây nhiễm cho các cặp bạn tình dị nhiễm HIV tại Việt Nam Dự án của Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới về "Điều trị ARV cho các cặp bạn tình dị nhiễm HIV, phiên bản 13.0" 2012
3.Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS tỉnh Điện Biên. Báo cáo kết quả công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 2015
4.Trung tâm Phòng, Chống HIV/AIDS thành phố Cần Thơ. Báo cáo số 21/BC-AIDS
về kết quả công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2015 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 2015
5 Trường Đại học Y Hà Nội Dịch tễ và thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học Nhà xuất bản Y học 1999, tr.32
6 WHO Antiretroviral Treatment as Prevention (TasP) of HIV and TB 2012
7 Quinn T.C et al Viral load and heterosexual transmission of human immunodeficiency virus type 1 Rakai Project Study Group N Engl J Med 2000, 342 (13), pp.921-929.