Bài viết phân tích chi phí – hiệu quả của phác đồ phối hợp bevacizumab-carboplatin-paclitaxel (BCP) và paclitaxel-carboplatin (PC) trong điều trị UTPKTBN GĐM tại Việt Nam.
Trang 1PHÂN TÍCH CHI PHÍ – HIỆU QUẢ CỦA BEVACIZUMAB PHỐI HỢP VỚI CARBOPLATIN/PACLITAXEL SO VỚI PACLITAXEL/CARBOPLATIN
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ
GIAI ĐOẠN MUỘN TẠI VIỆT NAM
Trần Thị Thu Hà*, Nguyễn Thị Thu Thủy*, Phạm Đình Luyến*
TÓM TẮT
Mở đầu: Bevacizumab (Bev) - liệu pháp nhắm trúng đích được chỉ định phối hợp với phác đồ hóa trị trong
điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn (UTPKTBN GĐM) với hiệu quả và an toàn của được chứng minh trong nhiều thử nghiệm lâm sàng Tuy nhiên, giá thành cao của Bev là rào cản rất lớn khi chỉ định thuốc trên thực tế lâm sàng đặc biệt đối với quốc gia có ngân sách dành cho y tế chưa cao như tại Việt Nam
Mục tiêu: Phân tích chi phí – hiệu quả của phác đồ phối hợp bevacizumab-carboplatin-paclitaxel (BCP) và paclitaxel-carboplatin (PC) trong điều trị UTPKTBN GĐM tại Việt Nam
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Đối tượng: Phác đồ điều trị ung thư phổi của Hệ thống ung thư
Hoa Kỳ; thử nghiệm ECOG 4599; Bảng giá dịch vụ khám chữa bệnh một số Bệnh viện chuyên khoa tại Tp.HCM; Tổng hợp kê khai và kê khai lại thuốc nhập khẩu của Cục Quản lý Dược tính đến tháng 07/2014 Phương pháp:
Mô hình hóa bằng mô hình Markov, phân tích chi phí – hiệu quả, phân tích độ nhạy một chiều
Kết quả: Trong điều trị UTKTBN GĐM, phối hợp Bev vào PC làm chi phí tăng thêm 279 triệu đồng và
thêm 0,15 năm sống có chất lượng so với phác đồ không phối hợp Với mỗi năm sống có chất lượng tăng thêm bệnh nhân phải chi trả khoảng 1,86 tỷ đồng Phân tích độ nhạy cho thấy đơn giá Bev và cân nặng bệnh nhân là 2
yếu tố ảnh hưởng nhất đến hiệu quả kinh tế của Bev
Kết luận: Bev không có hiệu quả kinh tế khi phối hợp với PC trong điều trị UTPKTBN GĐM tại Việt Nam
Từ khóa: Bevacizumab, ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn, chi phí – hiệu quả
ABSTRACT
COST-EFECTIVENESS ANALYSIS OF BEVACIZUMAB/CARBOPLACTIN/PACLITAXEL VERSUS PACLITAXEL/CARBOPLATIN IN THE TREATMENT OF ADVANCED NON-SMALL CELL LUNG
CANCER IN VIETNAM
Tran Thi Thu Ha, Nguyen Thi Thu Thuy, Pham Dinh Luyen
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 24 - 30
Background - Objectives: Bevacizumab – the target therapy combining with chemotherapy has been
indicated in advanced non-small cell lung cancer (NSCLC) with the efficacy and safety of bevacizumab proved in many clinical researches However, the high price of bevacizumab causes certain barriers in treatment, especially
in Vietnam The study aims to analyze the cost-effectiveness of the combination of bevacizumab with carboplatin/paclitaxel (BCP) versus paclitaxel/carboplatin (PC) in the treatment of advanced NSCLC
Materials and methods: Materials: Guidelines of National Comprehensive Cancer Network in NSCLC
treatment; ECOG trial 4599; Pricelists of medical services in some hospitals in Ho Chi Minh city; Pricelists of imported drugs of Pharmaceutical Administration Department until July, 2014 Methods: Markov modelling,
*Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: Trần Thị Thu Hà ĐT: 0905 101 812 Email: tranthithuha09@gmail.com
Trang 2cost of illness analysis, cost-effectiveness analysis, one-way probabilistic sensitivity analysis
Results: In the treatment of advanced NSCLC, the combined regimen of bevacizumab and PC raised about
297 millions VND in the treatment cost and 0.15 quality-adjusted life years (QALY) compared with PC regimen only The cost for one incremental QALY was about 1.86 billions VND One-way probabilistic sensitivity analysis showed that the price of bevacizumab and patient’s weight was 2 leading factors that significantly influenced the economic effectiveness of bevacizumab in NCSLC treatment
Conslusion: Bevacizumab showed no economic benefit when combining with PC in treatment of advanced
NSCLC patients in Vietnam
Key words: Bevacizumab, advanced non-small cell lung cancer, cost-effectiveness analysis
MỞ ĐẦU
Theo ước tính của GLOBOCAN năm 2008,
ung thư phổi là loại ung thư phổ biến nhất trên
thế giới cả về số ca mắc (1,6 triệu ca, chiếm 12,7%
tổng số ca ung thư) và số ca tử vong (1,4 triệu ca,
chiếm 18,2% số ca tử vong do ung thư)(1) Nghiên
cứu từ năm 1980 của Jacques Ferlay cho thấy số
bệnh nhân mới mắc ung thư phổi tăng nhanh
với tỉ lệ 31%(3) Tại Việt Nam, nghiên cứu tình
hình ung thư năm 2004 cho thấy ở Hà Nội, ung
thư phổi là loại ung thư hàng đầu ở nam giới với
tỷ lệ mới mắc là 39,8/100.000(8) Trong các loại
ung thư phổi, ung thư phổi không tế bào nhỏ
(UTPKTBN) là loại phổ biến nhất và chiếm tỉ lệ
cao nhất (85%)(6) Phần lớn các trường phát hiện
ở giai đoạn muộn (GĐM) làm gia tăng gánh
nặng kinh tế cho bệnh nhân và xã hội Vì vậy,
điều trị UTPKTBN, đặc biệt GĐM luôn được đặc
biệt quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả điều trị,
đẩy lùi tần số mắc bệnh và tỉ lệ tử vong
Từ năm 1990, đã có nhiều bước tiến mới
trong điều trị UTPKTBN với sự ra đời và phát
triển của liệu pháp điều trị trúng đích, đáng chú
ý nhất là bevacizumab (Bev) Bev là kháng thể
đơn dòng tái tổ hợp ức chế thụ thể của yếu tố
tăng sinh nội mô mạch máu Từ năm 2006, Cục
quản lí Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kì đã
cho phép sử dụng Bev phối hợp carboplatin và
paclitaxel như là liệu pháp điều trị đầu tay trong
điều trị UTPKTBN GĐM Hiệu quả và an toàn
của Bev trong điều trị UTPKTBN GĐM đã được
chứng minh trong nhiều thử nghiệm lâm sàng
Tuy nhiên, giá thành thuốc cao là rào cản rất lớn
khi chỉ định thuốc trên thực tế lâm sàng, đặc biệt
ở quốc gia có chi phí dành cho y tế chưa cao như tại Việt Nam Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả kinh
tế của Bev là đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện tại chưa có nghiên cứu kinh tế dược nào tương tự được thực hiện Vì vậy, đề tài
“phân tích chi phí-hiệu quả của bevacizumab phối hợp với carboplatin/paclitaxel so với paclitaxel/carboplatin trong điều trị UTPKTBN GĐM tại Việt Nam” được thực hiện nhằm 2 mục tiêu chính:
Phân tích chi phí - hiệu quả của BCP so với
PC trong điều trị UTPKTBN GĐM ở Việt Nam Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của bevacizumab trong điều trị UTPKTBN GĐM ở Việt Nam
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Phác đồ điều trị ung thư phổi của Hệ thống ung thư quốc gia Hoa Kì(7); thử nghiệm ECOG
4599(10); Bảng giá dịch vụ trong các cơ sở khám chữa bệnh nhà nước theo thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 29/02/2012; Tổng hợp kê khai và kê khai lại thuốc nhập khẩu của
Cục Quản lý Dược đến 2014
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mô hình hóa bằng mô hình Markov
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của Bev trong điều trị UTPKTBN GĐM, mô hình Markov được xây dựng gồm 5 trạng thái: Bệnh ổn định (BÔĐ), Giảm bạch cầu (GBC), Xuất huyết (XH), Bệnh tiến triển (BTT) và Tử vong (TV) (hình 1)
Trang 3Hình 1: Mô hình Markov
Mô hình Markov được xây dựng có những
đặc điểm sau:
Trạng thái Markov: bao gồm 5 trạng thái
BÔĐ, BTT, GBC, XH và TV
Chu kỳ Markov: 1 tháng
Thời gian Markov: toàn thời gian sống của
bệnh nhân (life-time horizone)
Quần thể bệnh nhân: 1000 bệnh nhân được
đưa vào mô hình ở tình trạng ổn định với 45,5%
bệnh nhân nữ và 54,5% bệnh nhân nam; 26,4%
bệnh nhân trên 70 tuổi theo nghiên cứu lâm sàng
ECOG 4599 và dữ liệu dịch tễ học tại Việt Nam
Mô hình giả định cân nặng trung bình bệnh
nhân là 45 kg và diện tích da trung bình là 1,5
m2
Sau mỗi chu kì, mô hình ghi nhận số bệnh
nhân ở mỗi trạng thái với qui tắc chuyển giữa
các trạng thái như sau: bệnh nhân ở trạng thái
BÔĐ có thể chuyển sang tất cả các trạng thái
khác trừ TV, bệnh nhân ở trạng thái BTT chỉ có
thể chuyển sang trạng thái TV hoặc ở lại trạng
thái ban đầu, bệnh nhân ở trạng thái XH hoặc
GBC có thể được chữa khỏi nên có thể chuyển
sang trạng thái BÔĐ hoặc chuyển sang trạng thái
TV nếu không được chữa khỏi
Phương pháp phân tích chi phí – hiệu quả
Chỉ số chi phí - hiệu quả được tính toán theo
công thức:
Trong đó:
CER: cost – effectiveness ratio (chỉ số chi phí – hiệu quả)
DC: direct cost (chi phí trực tiếp) IC: indirect cost (chi phí gián tiếp) QALY: quality-adjusted life-years (số năm sống được điều chỉnh bởi chất lượng sống) Chỉ số gia tăng chi phí – hiệu quả được tính toán theo công thức:
Trong đó:
ICER: Incremental Cost- Effectiveness Ratio (Chỉ số gia tăng chi phí – hiệu quả)
DC1, DC2: Chi phí trực tiếp liệu pháp điều trị
1, 2
IC1, IC2: Chi phí gián tiếp liệu pháp điều trị 1,
2 QALY1, QALY2: Chỉ số hiệu quả của liệu pháp điều trị 1, 2
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên quan điểm của bảo hiểm y tế vì vậy chỉ đánh giá chi phí trực tiếp gồm chi phí thuốc và dịch vụ y tế
Phân tích độ nhạy một chiều
Để đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố lên hiệu quả kinh tế của Bev, phương pháp phân tích độ nhạy một chiều được sử dụng Trong đó, các yếu tố được đánh giá bao gồm: giá của Bev, giá carboplatin, giá paclitaxel, giá xét nghiệm, tiêm truyền, giá giường bệnh, cân nặng, diện tích da Phân tích độ nhạy được tiến hành nhằm đánh giá sự thay đổi của chỉ
số ICER dựa trên sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng, trong đó giá trị của các yếu tố này thay đổi trong khoảng -50% → + 50% Kết quả được trình bày ở dạng bảng biểu để có thể đánh giá tổng quan ảnh hưởng của các yếu tố lên hiệu quả kinh tế của Bev
(DC 1 + IC 1 ) – (DC 2 + IC 2 ) ICER =
QALY 1 – QALY 2
(DC + IC)
CER=
QALY
BÔĐ
TV
Trang 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Nghiên cứu so sánh chi phí và hiệu quả
của 2 phác đồ BCP và PC trong điều trị
UTPKTBN GĐM Cả hai phác đồ đều bao gồm
6 chu kì (21 ngày) trong năm, trong đó
carboplatin (diện tích dưới đường cong [AUC]
= 6 mg/ml x phút), paclitaxel (200 mg/m2) và
Bev (15 mg/kg) đều được chỉ định vào ngày
đầu tiên của chu kì Sau 6 chu kỳ đầu tiên chỉ
định phối hợp, bệnh nhân nhóm BCP sẽ được
tiếp tục chỉ định Bev cho đến khi xuất hiện các tác dụng phụ cần phải ngưng thuốc
Phân tích chi phí-hiệu quả của BCP so với
PC trong điều trị UTPKTBN GĐM
Chi phí và hiệu quả đầu vào cho mỗi trạng thái trong mô hình
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của Bev trong điều trị UTPKTBN GĐM, nghiên cứu đánh giá chi phí và hiệu quả của mỗi trạng thái trong mô hình xây dựng Kết quả được trình bày trong bảng 1
Bảng 1: Chi phí trung bình 1 tháng điều trị cho mỗi trạng thái bệnh (VNĐ)
STT Loại chi phí Bệnh ổn định Giảm bạch cầu Xuất huyết Bệnh tiến triển
4 Điều trị và dự phòng các tác dụng
5 Liệu pháp hỗ trợ giảm đau 180.694 180.694 180.695 180.694 180.694
6 Khám lâm sàng và cận lâm sàng 15.000 84.000 212.000 994.833 994.833
Tổng cộng 195.695 2.774.991 642.695 45.575.929 15.364.545
Theo bảng 1, chi phí trung bình 1 tháng điều
trị UTPKTBN GĐM của bệnh nhân bệnh tiến
triển bằng phác đồ BCP hay PC là cao nhất
(45.575.929 VNĐ và 15.364.545, tương ứng), kế
đến là chi phí điều trị cho bệnh nhân giảm bạch
cầu (2.774.991 VNĐ) Chi phí điều trị bệnh nhân
xuất huyết và bệnh ổn định là thấp nhất (642.695
VNĐ và 195.695, tương ứng)
Mỗi trạng thái có chỉ số hiệu quả khác nhau
Trong đó, trạng thái BÔĐ có chỉ số hiệu quả cao
nhất (0,58) Kế đến là trạng thái GBC và BTT với
chỉ số hiệu quả lần lượt là 0,56 và 0,47; tương
ứng Trạng thái XH có chỉ số hiệu quả thấp nhất
(0,3) Bệnh nhân TV có chỉ số hiệu quả là 0(10)
Chi phí, hiệu quả của 2 phác đồ so sánh trong
toàn thời gian sống của bệnh nhân
Dựa trên mô hình được xây dựng và dữ liệu
về chi phí và hiệu quả của mỗi trạng thái được
trình bày ở trên, nghiên cứu đánh giá chi phí và
hiệu quả của 2 phác đồ điều trị nghiên cứu trên
toàn thời gian sống của bệnh nhân với kết quả được trình bày trong hình 2
Chi phí
Hiệu quả
Hình 2: Chi phí và hiệu quả của BCP so với PC
triệu VNĐ
QALY
Trang 5Theo hình 2, so với phác đồ PC, sử dụng
phác đồ BCP trong điều trị UTPKTBN GĐM làm
gia tăng chi phí 279.191.079 VNĐ (416.786.092
VNĐ so với 137.595.013 VNĐ, tương ứng) tương
ứng với 0,15 QALY tăng thêm (0,83 QALY so với
0,68 QALY, tương ứng)
Số CER và ICER
Dựa trên chi phí và hiệu quả của 2 phác đồ
so sánh, nghiên cứu tiến hành đánh giá chỉ số
CER, ICER, kết quả được trình bày trong bảng 2
Bảng 2: Các chỉ số chi phí - hiệu quả của phác đồ
BCP so với PC
Chỉ số chi phí – hiệu
Chi phí (VNĐ) 416.786.092 137.595.013
Hiệu quả (QALY) 0,83 0,68
CER (VNĐ/QALY) 502.151.918 202.345.607
ICER (VNĐ/QALY) 1.861.273.860
Phân tích chỉ số chi phí – hiệu quả cho
thấy, chỉ số CER của phác đồ BCP cao gấp 2,5
lần so với chỉ số tương ứng của phác đồ PC
(502.151.918 VNĐ/QALY so với 202.345.607
VNĐ/QALY, tương ứng) Để đánh giá tính
kinh tế của phác đồ BCP so với phác đồ PC,
chỉ số gia tăng chi phí - hiệu quả (ICER) được đánh giá dựa trên tỷ lệ giữa chênh lệch chi phí
và hiệu quả của phác đồ BCP so với phác đồ
PC với kết quả là 1.861.273.860 VNĐ/QALY Như vậy, với mỗi QALY tăng thêm khi sử dụng phác đồ BCP so với phác đồ PC trong điều trị UTPKTBN GĐM, bệnh nhân phải trả thêm 1.861.273.860 VNĐ
Đánh giá mức độ chi trả của bệnh nhân với Bev
Để đánh giá khả năng chi trả của Việt Nam đối với phác đồ BCP trong điều trị UTPKTBN GĐM, chi phí tăng thêm này được so sánh với WTP theo khuyến cáo của WHO Theo đó, WTP được tính toán bằng 3 lần PPP Tính cho năm
2013, PPP của Việt Nam năm 2013 là 4.001 USD,
tỷ giá hối đoái năm 2013 là 19.098,76 VNĐ, WTP tương ứng của Việt Nam năm 2013 là 229.242.416 VNĐ So sánh ICER với WTP cho thấy ICER cao gấp 8 lần WTP (1.861.273.860 VNĐ/QALY so với 229.242.416 VNĐ, tương ứng) Vì vậy, Bev không
có hiệu quả kinh tế trong phác đồ phối hợp với
PC trong điều trị UTPKTBN GĐM tại Việt Nam
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của Bev
Hình 3: Phân tích độ nhạy một chiều
Để đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố
trong mô hình Markov lên hiệu quả kinh tế của
Bev trong điều trị UTPKTBN GĐM, đề tài tiến
hành phân tích độ nhạy với các yếu tố ảnh hưởng lên hiệu quả kinh tế của Bev bao gồm đơn giá Bev, đơn giá carboplatin và đơn giá
Trang 6paclitaxel, cân nặng, diện tích da, chi phí tiêm
truyền, chi phí giường bệnh, chi phí dự phòng
và điều trị tác dụng phụ, chi phí thuốc hỗ trợ
giảm đau, chi phí khám lâm sàng và cận lâm
sàng, chi phí điều trị sốt giảm bạch cầu và điều
trị cầm máu Với giá trị của các yếu ảnh hưởng
thay đổi từ - 50% đến + 50%, giá trị ICER được
ghi nhận và kết quả được trình bày trong hình 3
Đơn giá Bev và cân nặng bệnh nhân là 2 yếu
tố có ảnh hưởng nhất đến hiệu quả kinh tế của
Bev trong điều trị UTPKTBN GĐM tại Việt Nam
Khi đơn giá Bev thay đổi trong khoảng giảm
50% đến tăng 50% so với giá hiện tại làm ICER
thay đổi trong khoảng 554.101.510 VNĐ/QALY
Bev giảm 50% thì ICER của phác đồ BCP so với
phác đồ PC nằm trong ngưỡng chấp nhận của
WTP với điều kiện có sự hỗ trợ nhất định Bởi vì
liều Bev được tính toán dựa trên cân nặng của
bệnh nhân nên cân nặng có sự ảnh hưởng tương
đồng với giá Bev đến hiệu quả kinh tế Với cân
nặng bệnh nhân thay đổi trong khoảng 23 – 68
kg, ICER của phác đồ BCP so với PC thay đổi từ
VNĐ/QALY
BÀN LUẬN
Phác đồ BCP trong điều trị UTPKTB GĐM
có chi phí cao gấp 3 lần đồng thời làm tăng
0,15 QALY so với PC Với mỗi QALY tăng
thêm khi chỉ định điều trị bằng phác đồ BCP,
bệnh nhân phải chi trả thêm khoảng 1,86 tỷ
VNĐ So sánh với WTP thì chi phí này cao gấp
8 lần WTP Vì vậy, Bev không có hiệu quả
kinh tế khi phối hợp với PC trong điều trị
UTKTBN GĐM tại Việt Nam
Có bốn nghiên cứu khác đã đánh giá hiệu
quả kinh tế của Bev khi phối hợp với hóa trị liệu
trong điều trị UTPKTBN GĐM Cả 4 nghiên cứu
để kết luận Bev làm tăng chi phí đồng thời kéo
dài thời gian sống của bệnh nhân Trong đó, hai
nghiên cứu kết luận phối hợp Bev với hóa trị có
hiệu quả kinh tế là nghiên cứu của Giuliani (Ý)(4)
và Ahn (Hàn Quốc và Đài Loan)(5) Tuy nhiên, 2
nghiên cứu này so sánh Bev-cisplatin-gemcitabin (BCG) với cisplatin-pemetrexed (CP) ICER của BCG so với CP là 34.919€ (Giuliani) thấp hơn ngưỡng chi trả của Ý là 50.000€(4) Nghiên cứu của Ahn ước tính ICER của BCG so với CP là 30.318$ (Hàn Quốc) và 54.317$ (Đài Loan)(5) Hai nghiên cứu còn lại đều được tiến hành tại Mỹ là nghiên cứu của Klein (2010)(9) và Goulart (2011)(2)
phân tích chi phí – hiệu quả của BCP so với PC cho kết quả ngược lại Nghiên cứu của Klein ước tính ICER của BCP so với PC khoảng 259.128$; cao gấp 2,59 lần ngưỡng chi trả của Mỹ (100.000$)(9) Trong khi đó, nghiên cứu Goulart cho kết quả ICUR của BCP so với PC khoảng 559.609$ (tương ứng khoảng 11,2 tỷ VNĐ năm 2013)(2) Như vậy, hiệu quả kinh tế của Bev khi phối hợp với hóa trị liệu vẫn còn là vấn đề tranh cãi và kết luận khác nhau tùy theo mỗi quốc gia Kết quả của đề tài là cơ sở cho cơ quan bảo hiểm
y tế và nhà sản xuất, phân phối thuốc hỗ trợ cho bệnh nhân nhằm tăng số lượng bệnh nhân được điều trị với phác đồ có hiệu quả cao
Bên cạnh những kết quả thu được, đề tài có những hạn chế khi mới đánh giá chi phí trực tiếp
y tế, trong khi chưa đánh giá chi phí trực tiếp ngoài y tế và chi phí gián tiếp Giá thuốc và dịch
vụ y tế được khảo sát chưa toàn diện trên lãnh thổ Việt Nam, mới chỉ thực hiện tại một số Bệnh viên chuyên khoa lớn Hi vọng, nếu đề tài tiếp tục được triển khai trong tương lai và khắc phục những hạn chế trên, đề tài sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp với điều kiện bệnh nhân và tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN
Bev không có hiệu quả kinh tế trong điều trị UTPKTBN giai đoạn muộn tại Việt Nam Do đó,
để tăng hiệu quả điều trị cần có sự hỗ trợ của nhà cung ứng, cơ quan bảo hiểm và nhà nước để thuốc có thể tiếp cận đến bệnh nhân UTPKTBN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ahmedin J et al (2011), Global cancer statistics CA Cancer J Clin, 61: 69 – 90
Trang 72 Bernardo G and Scott R (2011), A Trial-Based Assessment of the
Cost-Utility of Bev and Chemotherapy versus Chemotherapy
Alone for Advanced Non-Small Cell Lung Cancer Value in
Health, 14: 836 – 845
in 2008: GLOBOCAN 2008 International Journal of Cancer,
127: 2893 - 2917
versus pemetrexed for advanced non-squamous NSCLC in
Italy Lung Cancer, 69S1: S11 - S17
therapy versus cisplatin plus pemetrexed for the first-line
treatment of advanced nonsquamous NSCLC in Korea and
Taiwan Asia-Pacific Journal of Clinical Oncology 2011, 7: 22 -
23
Hussain AN, Hensing (2011), Mind-mapping for lung cacer:
Towards a personalized therapeutics approach Adv Ther, 28:
173 – 194
Guidelines in Oncology Non – small cell lung cancer version
đoạn 2001-2004 Tạp chí Y học thực hành, 9-17
Cisplatin as First-Line Therapy for Advanced Nosquamous Non-small Cell Lung Cancer Journal of Thoracic Oncology, 4:
1404 - 1414
10 Suresh SR et al (2008) Outcomes for elderly, advanced-stage non-small-cell lung cancer patients treated with bevacizumab
in combination with carboplatin and paclitaxel: Analysis of Eastern Cooperative Oncology Group trial 4599 J Clin Oncol, 26: 60 – 65
Ngày nhận bài báo: 30/10/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/02/2016