1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi tuyến yên qua xoang bướm

6 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 286,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồi cứu các trường hợp u Tuyến Yên đã được ứng dụng phẫu thuật nội soi qua xoang bướm từ tháng 4/20011 - 7/2017. Bệnh nhân được ghi nhận các dấu hiệu lâm sàng, hình ảnh học, xét nghiệm nội tiết và kết quả điều trị, phân loại u theo vị trí theo Hardy và chức năng nội tiết.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI TUYẾN YÊN

QUA XOANG BƯỚM

Trần Hoàng Ngọc Anh**, Nguyễn Thị Kiều Thơ**, Trần Đình Khả*, Trần Minh Bảo Lộc*,

Lê Trọng Nghĩa*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi U tuyến yên qua xoang bướm

Phương pháp: Hồi cứu các trường hợp u Tuyến Yên đã được ứng dụng phẫu thuật nội soi qua xoang

bướm từ tháng 4/20011 - 7/2017 Bệnh nhân được ghi nhận các dấu hiệu lâm sàng, hình ảnh học, xét nghiệm nội tiết và kết quả điều trị, phân loại u theo vị trí theo Hardy và chức năng nội tiết Đánh giá kết quả điều trị bằng thang điểm GOS tại thời điểm xuất viện và MRI kiểm tra sau 3 tháng

Kết quả: Từ tháng 4/2011 - 7/2017, có 19 trường hợp được phẫu thuật nội soi tuyến yên qua xoang bướm

với độ tuổi từ 23- 74 tuổi, tỉ lệ nử/nam:10/9 Biểu hiện lâm sàng với giảm thị lực 15/19 (78%), bán manh thái dương hai bên 11/19 (58%), 17/19 (89,5%) là U không chế tiết, 6/19 (31,5%) có suy tuyến yên trước phẫu thuật Kích thước U trung bình 21.6mm, 10/19 (52,5 %) phân độ B theo Hardy và 7/19 (37%) phân độ C, 10/19 (52%)

là U dạng hổn hợp, 3/19 (16%) là U dạng nang và 6/19 (32%) là U dạng đặc Kết quả sau mổ lấy toàn bộ u trong 13/19 trường hợp (68,4%), 2trường hợp (10,5%) lấy gần hết u, 4/19 (21,1%) trường hợp lấy được bán phần u Theo thang điểm GOS tất cả bệnh nhân đều kết quả tốt, 1 trường hợp có xuất huyết mũi tái phát sau mổ 12/15 (80%) thị lực có cải thiện sau mổ, tuy nhiên chỉ có 1/6 (12,5%) có cải thiện nội tiết sau mổ

Kết luận: Với tổng kết hiệu quả của phẫu thuật nội soi tuyến yên qua xoang bướm tai bệnh viện Nhân Dân

Gia Định cho thấy một kết quả tương đối an toàn và hiệu quả Góp phần vào sự phát triển chung của chuyên nghành ngoại thần kinh Việt Nam

Từ khóa: U tuyến yên, nội soi, qua xoang bướm, bán manh thái dương hai bên

ABSTRACT

ENDOSCOPIC ENDONASAL TRANSPHENOIDAL APPROACH FOR TREATMENT THE PITUITARY

ADENOMAS

Tran Hoang Ngoc Anh, Nguyen Thi Kieu Tho, Tran Đinh Kha, Tran Minh Bao Loc, Le Trong Nghia

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 6- 2018: 94 – 99

Objectives: We evaluated the short-term results of endoscopic transphenoidal treatment of pituitary

adenomas

Methods: We performed retrospective analyses of all pituitary adenomas operated by endoscopic

transphenoidal technique at Nhan Dan Gia Dinh hospital from the April 2011 to July 2017 These patients were recorded the clinical, imaging features, bilan the endocrine test and surgical results Classification of tumors based

on the Hardy, the results were evaluated by GOS when discharge and MRI check after 3 months

Results: From the April 2011 to July 2017, 19 cases pituitary adenomas were operated by endoscpopic

transphenoidal, age 23 - 74 yrs, Female/male = 10/9 Clinical feature with reduce visual acuity in 15/19 (78%), hemianopsia temporal bilateral in 11/19 (58%), 17/19 (89.5%) non-secrecting tumeur, 6/19 (31.5%) present with

* BM Ngoại Thần Kinh – ĐHYD

** Khoa Ngoại Thần kinh, Khoa Tai Mũi Họng - Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Trang 2

pituitary insufficiency Tumeur diameter averrage 21.6 mm, 10/19 (52%) in tumeur type mix, 3/19 (16%) in tumeur type cyst and 6/19 (32%) in tumeur type compact

Surgical results with total removal in 13/19 (71%), nearly total removal in 2/19 (10.5%) and 4/19 (21.1%) removed sub-total GOS =5 in all most the cases 12/15 (80%) visual acuity improve post -op and only 1/6 case endocrine improve post-op

Conclusion: This initial resultconfirms the safety and relative effication of endoscopic transphenoidal

treatment for the patients with the pituitary adenomas at Nhan Dan Gia Dinh hospital

Key words: Pituitary adenoma, endoscopy, transphenoidal, hemianopsia temporal bilaterale

ĐẶT VẤN ĐỀ

U tuyến yên là U lành tính phát triển từ tế

bào thùy trước tuyến yên Đây là một trong

bốn loại u trong sọ hay gặp nhất, chiếm 8-15%

tổng số u trong hộp sọ U tuyến yên cũng là U

hay gặp nhất ở vùng hố yên U lần đầu tiên

được Pierre Marie mô tả năm 1866 với dấu

hiệu to các đầu chi và hố yên dãn rộng Chẩn

đoán U tuyến yên không quá khó khăn khi

dựa vào lâm sàng với 3 hội chứng là hội chứng

rối loạn nội tiết, chèn ép giao thoa thị giác và

tăng áp lực nội sọ(2,3)

Phương pháp phẫu thuật U tuyến yên

bằng đường mổ qua xoang bướm là phương

pháp được chọn lựa đầu tiên khi quyết định

phẫu thuật Đây là đường mổ đi qua nền sọ để

mở vào sàn hố yên và lấy u mà không phải mở

hộp sọ và không phải vén não Kỹ thuật này

đã áp dụng thành công ở các nước phát triển

nhờ những tiến bộ về phương tiện chẩn đoán

hình ảnh, kính vi phẫu thuật và nội soi Tuy

nhiên với sự tiến bộ của phẫu thuật nội soi

xoang và với sự phối hợp giữa Phẫu thuật viên

Tai Mũi Họng và ngoại Thần Kinh thì kỹ thuật

ứng dụng nội soi trong phẫu thuật U tuyến

yên qua xoang bướm bắt đầu được sử dụng

rộng rãi(4,5) Tại Việt Nam Phẫu thuật nội soi

tuyến yên qua xoang bướm cũng đã được thực

hiện tại các trung tâm phẫu thuật thần kinh

lớn trong nước Tại Bệnh Viên Nhân dân Gia

Định với sự phát triển của khoa Tai Mũi Họng

và Khoa ngoại Thần Kinh trong lĩnh vực nội

soi sàn sọ với bước đầu là sự phối hợp hai

chuyên khoa trong phẫu thuật u tuyến yên, vì

vậy cần thực hiện đề tài đánh giá hiệu quả của

việc ứng dụng kỷ thuật này tại bệnh viện(1,7,9)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu hồi cứu mô

tả hàng loạt ca Địa điểm thực hiện là Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định Thời gian thu thập số liệu

là từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 7 năm 2017 Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bệnh nhân

U tuyến yên được phẫu thuật nội soi tuyến yên qua xoang bướm Mỗi bệnh nhân được khám lâm sàng, khám mắt đánh giá thị lực thì trường, bilan nội tiết trước mổ, chụp MRI não có thuốc tương phản để chẩn đoán xác định U, phân loại

U trên MRI theo tác giả Hardy Các bệnh nhân sẽ được đánh giá lại lâm sàng lúc xuất viện và chụp lại MRI não và Bilan nội tiết sau 3 tháng

Phân loại dựa theo vị trí của khối u trên hình ảnh của cộng hưởng từ (phân loại của Hardy): Giai đoạn A: U chỉ nằm trong hố yên, phía trên không vượt qua hoành yên không quá 10mm và nằm trong bể gaio thoa thị giác;

Giai đoạn B: U phát triển lên trên từ 10-20

mm, đè đẩy cuống tuyến yên và giao thoa thị giác; Giai đoạn C: U phát triển lên phía trên yên

20 - 30 mm, đè đẩy phần trước não thất III, u phát triển đến lỗ Monro;

Giai đoạn E: U xâm lấn sang bên như xoang hang, hố thái dương hay nơi khác

Kỹ thuật mổ nội soi UTY qua xoang bướm

Chuẩn bị tại phòng bệnh

Xem xét lại toàn bộ dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm nội tiết, hình ảnh khôi U trên CTscan và CHT.Vệ sinh vùng mũi, họng (bằng nước muối sinh lý) trước khi mổ một ngày

Trang 3

Chuẩn bị tại phòng mổ

Gây mê nội khí quản, chuẩn bị hệ thống nội

soi, chuẩn bị C-arm trong mổ, định vị khối U,

vùng xoang bướm và sàn hố yên trên máy

C-arm, gây tê và vệ sinh niêm mạc mũi 2 bên

Kỹ thuật mổ

Tư thế mổ

Bệnh nhân nằm ngửa, đầu đặt trên vòng

đầu, cao 15 độ, lệc sang trái 15 độ PTV đứng bên

phải và dụng cụ viênvà phụ mổ đứng bên trái

PTV Màn hình camera đứng bên trái trên bệnh

nhân, máy gây mê và bác sỹ gây mê đứng bên

phải trên của bệnh nhân

Các thì phẫu thuật

Phẫu thuật viên Tai Mũi Họng

Thì 1: Ép hoặc cắt cuốn mũi giữa, bộc lộ lỗ

bướm, tách niêm mạc vách mũi lên trên hoặc

xuống dưới bộc lộ thành trước xoang bướm

Thì 2: Mở vào xoang bướm, mở thành trước

xoang bướm, có thể lấy bỏ vách ngăn xoang

bướm nếu cần và lấy niêm mạc xoang bướm

Phẫu thuật viên ngoại Thần Kinh

Thì 3: Mở thành trên xoang bướm (hay sàn

hố yên)

Thì 4: Mở màng não và bao U đề lấy U bằng

Ring curret hoặc ống hút

Thì 5: Kiểm tra, cầm máu, đặt Merocel cầm

máu hai bên hốc mũi

KẾT QUẢ

Triệu chứng lâm sàng

Trong 19 trường hợp phẫu thuật, bệnh nhân

có độ tuổi nhỏ nhất 23 và lớn nhất là 74 tuổi với

độ tuổi trung bình 48 Có 10 trường hợp nữ

chiếm 52,6% và 9 trường hợp nam chiếm 47,4%

Thời gian khởi phát bệnh dài nhất là 12 tháng

ngắn nhất là 10 ngày trung bình là 6,5 tháng Lý

do nhập viện chủ yếu của bệnh nhân là đau đầu

và giảm thị lực với đau đầu 18/19 trường hợp

chiếm 94%, mờ mắt trong 15/19 bệnh nhân

chiếm 78%, 3 trường hợp rối loạn kinh nguyệt

sau đó tắt kinh sớm, 1 trường hợp rối loạn điện

tri giác do hạ Natri máu, 1 trường hợp khác do

to đầu chi, và 1 trường hợp khác do bị cường giáp Biểu hiện lâm sàng với các triệu chứng của khiếm khuyết thị trường với bán manh thái dương hai bên 11/19 trường hợp chiếm 58%, góc manh thái dương 4/19 chiếm 21%, 2 trường hợp

có liệt vẫn nhãn 1 bên mắt trước mổ Bilan nội tiết trước mổ cho thấy chỉ có 2 trường hợp là U chế tiết bao gồm 1 trường hợp gây bệnh cảnh cường giáp do tăng tiết TSH, trường hợp còn lại

là bệnh to đầu chi do tăng tiết GH, 17/19 trường hợp còn lại là U không chế tiết

Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng

Đặc điểm Tần số (n) Tỉ lệ %, độ lệch chuẩn

Giới

Thời gian khởi phát 6,5 tháng 15,2

Lý do nhập viện

Đau đầu

Mờ mắt Rối loạn kinh nguyệt Khác

18

15

3

5

94

78

16

14 Lâm sàng

Bán manh thái dương 2 bên 11 58 Góc manh thái dương 4 21 Liệt vận nhãn 2 10,5 Hội chứng nội tiết

U không chế tiét

U chế tiết

17

2

895

105

Xét nghiêm nội tiết và hình ảnh học

Xét nghiệm nôi tiết trước mổ cho thấy có 6/19 trường hợp bị suy tuyến yên trước mổ chiếm 31,5%, chủ yếu là giảm Cortisol và chức năng tuyến giáp

Tất cả bệnh nhân đều được chẩn đoán xác định bằng MRI có bơm thuốc cản từ Phát hiện U với kích thước lớn nhất là 33 mm, nhỏ nhất là 14mm trung bình 21,6 mm với phân loại nhóm B theo Hardy 10/19 trường hợp chiếm 52,5% và 7/19 trường hợp có phân loại C, 2 trường hợp U

có kích thước nhỏ nhưng đã xâm lấn vào xoang hang gây liệt các dây vận nhãn nên được phân loại E Phân loại tính chất U dựa trên hình ảnh hợc MRI cho thấy 3/19 trường hợp U dạng nang,

Trang 4

6/19 trường hợp U dạng hổn hợp và 10/17

trường hợp chiếm 52% là U dạng hổn hợp vừa

có phần đặc và phần nang bên trong

Bảng 2: Cận lâm sàng

Đặc điểm Tần số (n) hay

trung bình

Tỉ lệ % hay độ lệch chuẩn

Rối loạn Nội Tiết

Suy Yên

Cường Giáp

To cực

6

1

1

31,5 5,25 5,25 Kích thước U 21,6 mm 4,8

Phân loại Hardy:

B

C

E

10

7

2

52,5

37

105 Tính chất U:

Dạng nang

Dạng đặt

Hổn hợp

3

6

10

16

32

52

Kết quả phẫu thuật và biến chứng

Kết quả lấy U được đánh giá bởi phẩu thuật

viên trong mổ và được kiểm tra lại bởi hình ảnh

học sau mổ 3 tháng cho thấy kết quả lấy toàn bộ

U trong 13/19 trường hợp chiếm 68,4% 2 trường

hợp chiếm 10,5% lấy gần hết U nhóm này chủ

yếu là do U xâm lấn 1 phần vào xoang hang Có

4 trường hợp lấn được bán phần U do mật độ U

chắc gặp trong 1 trường hợp, còn 3 tường hợp

còn lại do U lớn, khi lấy trong lòng U, màng

nhện hoành yên xuống nhanh nên màng nhện

che khuất phần U còn lại Trong 6 trường hợp U

còn lại này, 1 bệnh nhân được phẫu thuật lại để

lấy toàn bộ U, 5 trường hợp còn lại được chuyển

xạ trị Gamma Knife

Biến chứng sau mổ có 1 trường hợp xuất

huyết trong U sau mổ bệnh nhân xấu hơn

nhưng điều trị nội, theo dõi các ngày sau bệnh

ổn định lại, 1 trường hợp sau mổ 2 tuần nhập

viện vì bị chảy máu mũi tái phát phải cần nội soi

kiểm tra cầm máu Tất cả 19 trường hợp đều có

GOS = 5 khi xuất viện, 12/15 trường hợp có cải

thiện thị lực sau mổ chiếm 80%, tuy nhiên 3/15

trường hợp thị lực không thay đổi nằm trong

nhóm chỉ lấy được bán phần U

Trong nhóm 8 bệnh nhân có rối loạn nội tiết

sau mổ, chỉ có 2 trường hợp có cải thiện nội tiết

sau mổ, trường hợp cường giáp mặt dù trên MRI

U đã lấy hết tuy nhiên triệu chứng lâm sàng và cận laam sàng chưa cải thiện cần phải điều trị nội khoa thêm 6 trường hợp suy tuyến yên trước mổ, chỉ có 1 trường hợp nhẹ có cải thiện, 5 trường hợp còn lại có suy toàn bộ tuyên yên trước mổ thì không cải thiện sau mổ phải cần điều trị hóc môn thay thế

Bảng 3: Kết quả và biến chứng phẫu thuật

Đặc điểm Tần số

(n)

Tỉ lệ % hay độ lệch chuẩn

Mức độ lấy U:

Toàn bộ Gần hết Bán phần

13

2

4

68,4 10,5 21,1 GOS 519 100

Biến chứng sau mổ:

Xuất huyết trong U Chảy máu mũi tái phát

1

1

5.2 5,2 Rối loạn nội tiết sau mổ:

Cải thiện Không cải thiện

2

6

25

75

BÀN LUẬN

Tuyến yên là một tuyến nội tiết và do đặc điểm giải phẫu đặt biệt của tuyến yên được bao quanh bởi các cấu trúc quanh trọng bao gồm động mạch cảnh hai bên, dây thị và giao thoa thị giác phía trên nên biểu hiện lâm sàng của U tuyến yên bao gồm hội chứng do chèn ép của u

và hội chứng nội tiết Trong nghiên cứu của chứng tôi 78% trường hợp có giảm thị lực khi nhập viên trong đó 58% có bán manh thái dương hai bên và 21% có góc manh thái dương, đặt biệt

có 2 trường hợp có liệt vận nhãn khi nhập viện

do u xâm lấn thành xoang hang và xuất huyết Ngoài ra chúng tôi có 6 trường hợp bệnh nhân

có suy tuyến yên khi nhập viện do khối U chèn

ép trong đó 5 trường hợp bị suy tuyến yên toàn

bộ và 1 trường hợp suy tuyến yên 1 phần, tất cả các trường hợp này chứng tôi cần phải hội chẩn vơi nội tiết và sử dụng hóc môn thay thế bù ổn định trước phẫu thuật Suy tuyến yên trước mổ

là tiên lượng xấu cho sự hồi phục, 5 trường hợp suy tuyến yên toàn bộ của chúng tôi không hồi phục sau phẫu thuật và cần phải sử dụng hốc môn thay thế đặt biêt là hóc môn tuyến giáp và Cortisol, riêng chỉ có trường hợp suy 1 phần

Trang 5

tuyến yên thì có hồi phục sau mổ

Măc dù kỹ thuật vi phẫu thuật U tuyến yên

qua xoang bướm được ứng dụng rộng rãi trong

các trung tâm phẫu thuật thần kinh với số lương

bệnh nhân lớn như E Laws mổ 3580 bệnh nhân

năm 1999, C Wilson báo cáo 3182 bệnh nhân

năm 2001 Tuy nhiên với sự tiến bộ của phẫu

thuật nội soi xoang và với sự phối hợp giữa

phẫu thuật viên Tai Mũi Họng và phẫu thuật

viên ngoại thần kinh chuyên về sàn sọ thì kỹ

thuật ứng dụng nội soi trong phẫu thuật U

tuyến yên qua xoang bướm được sử dụng rộng

rãi đặt biệt là H D Iho, C Teo đã sử dụng kỹ

thuật này với tỉ lệ thành công trên 90%, biến

chứng dưới 5%, và tử vong dưới 1%(6,8) Tại bệnh

viện Nhân Dân Gia Định ngay từ lúc ban đầu

chúng tôi cũng thực hiện một đội gồm hai

chuyên khoa ngoại Thần Kinh và Tai mũi họng

phối hợp nhịp nhàng trong khi tiến hành phẫu

thuật U vị trí này, phẫu thuật viên ngoại thần

kinh và Tai mũi họng đều hội chẩn và lên kế

hoạch tỉ mỹ trước mổ cho từng trường hợp, mặc

khác chuyên khoa nội tiết xem xét và cho những

hướng dẫn nội tiết trước và sau mổ là rất cần

thiết để mang lại các kết quả tốt cho bệnh nhân

Mức độ lấy U là một trong những yếu tố

quan trọng cho sự thành công của phẫu thuật,

đễ đạt được kết quả lấy u tốt phụ thuộc vào hai

yếu tố, yếu tố đầu tiên là phụ thuộc vào tính

chất, đường kính và mức độ xâm lấn U Trong

nghiên cứu của chúng tôi 18/19 trường hợp u có

mật độ mềm nên việc lấy u thuận lợi, chỉ duy

nhất 1 trường hợp U dai chắc nên chỉ lấy được 1

phần u, 2 trường hợp U xâm lấn vào xoang hang

chúng tôi khi lấy u cũng để lại phần u này và 3

trường hợp còn lại u khá lớn, khi vừa lấy được 1

phần u, màng nhện hoành yên di chuyển đi

xuống cản trở thao tác lấy u nên sau khi chụp

liểm tra thấy còn lại một phần u Yếu tố quan

trọng thứ hai là kinh nghiệm của phẫu thuật

viên khi lấy u, yếu tố này ngày càng được cải

thiện khi có ứng dụng nôi soi, sau khi lấy trong

lòng U, chúng tôi tiến hành đưa nội soi vào

trong lòng U, quan sát xung quanh để xác định

có còn u hay không, giúp lấy đươc U nhiều nhất

có thể Do đặc điểm số lượng bênh mổ chưa nhiều nên chưa thể có kết luận chính xác, qua 19 trường hợp phẫu thuật trong 6 năm chúng tôi cũng chỉ đạt được 68,4% trưởng hợp lấy toàn bộ

U được kiểm tra lại bằng cộng hưởng từ sau mổ,

6 trường hợp lấy gần hết và bán phần U, 1 trường hợp chúng tôi phải phẫu thuật lại do U phát triển chèn ép vào giao thoa thị giác 1 năm sau đó, còn 5 trường hợp còn lại chứng tôi phối hợp điều trị Gamma knife bổ sung, tất cả bệnh nhân đều có kết quả tốt

Với sự kết hợp giữa phẫu thuật viên Tai Mũi Họng thao tác thuần thục nội soi xoang nên việc

đi vào, xác định lỗ bướm cũng như bộc lộ thành trước xoang bướm khá thuận lợi Tiếp theo phẫu thuật viên ngoại thần kinh với các tiếp cận hai bên mũi với một bên phẫu thuật viên phụ giữ Scope, phẫu thuật viên chính thao tác hai tay hai bên giống như thao tác dưới vi phẫu đã tạo cho phẫu thuật viên cảm giác thoải mái và an toàn khi tiếp cận và xử lý thương tổn Nhược điểm của sự phối hợp này là thời gian phẫu thuật kéo dài hơn so với bình thường, tuy nhiên cách phối hợp đã mang lại hiệu quả an toàn trong phẫu thuật trên bệnh nhân như trong nghiên cứu của chúng tôi không có các biến chứng như chảy dịch não tuỷ sau mổ, cũng như đi lạc đường tổn thương các cấu trúc lân cận, chúng tôi chỉ có một trường hợp chảy máu mũi tái phát 10 ngày sau phẫu thuật do chảy máu từ động mạch bướm khẩu cái tái phát Trường hợp này chúng tôi phải tiến hành nội soi cầm máu lại và sau đó ổn định Vì vậy sự phối hợp giữa phẫu thuật viên Tai Mũi Họng chuyên về nội soi xoang với phẫu thuật viên ngoại thần kinh chuyên về phẫu thuật sàn sọ để xử lý các thương tổn dưới nội soi là xu thế của thời đại mang lại sự an toàn khi phẫu thuật cho bệnh nhân

KẾT LUẬN

Với kết quả bước đầu ứng dụng nội soi qua xoang bướm trên 19 bệnh nhân U tuyến yên với 79% bệnh nhân được phẫu thuật lấy hết và gần hết u Kết quả theo thang điểm GOS =5 đạt được

Trang 6

cho tất cả các trường hợp cho thấy một bước tiến

bộ mới trong khoa phẫu thuật ngoại thần kinh

bệnh viện Nhân Dân Gia Định Tuy nhiên cần

phải cải thiện về kỹ thuật mổ, phương tiện phẫu

thuật cũng như phác đồ theo dõi bệnh nhân để

hạn chế tối đa các biến chứng khi điều trị bệnh lý

khó khăn này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Atkingson JL et al (2008), Sublabial transseptal vs transnasal

combine endoscopic microsurgery in patients with Cushing

disease and MRI- depicted microadenoam Mayo clin Proc 83(5):

550-553

2 Charalampaki P et al (2006), Image –guided endonasal

transphenoidal microsurgical treatment of recurrent

microadenomas of the pituitary gland, Minim Invasive

Neurosurg: 4992): 93-97

3 Hong J et al (2008), clinical analysis of 103 elderly patients with

pituitary adenomas: Transsphenoidal surgery and follow-up J

Clin Neurosci 15(10): 1091-1095

4 Jho HD and Alfieri A (2001), Endoscopic endonasal pituitary surgery: evolation of surgical technique and equipment in 150

operations, Minim Invasive Neurosurg, 44, 1-12

5 Kitano IL et al (2008), Extended transsphenoidal approach,

Journal of Neurosurgery, 95, 917-918

6 Lubbe D and Semple P (2008), Pre-operative assessement of patients undergoing endoscopic, transnasal, transsphenoidal

pituitary surgery J Laryngol Otol 122 (6): 644-646

7 Lý ngọc Liên, Lê Hồng Nhân và Đồng Văn Hệ (2002), Đánh giá kết quả mổ U tuyến bằng đường mổ qua xoang bướm (nhân 42

ca), Tạp chí Ngoại Khoa

8 Neal JG et al (2007), Comparision of techniques for

transsphenoidal pituitary surgery Am J Rhinol, 21 (2): 203-206

9 Nguyễn Phong và Võ Văn Nho (2003), Adenoma tuyến yên: đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật bằng đường mổ qua

xoang bướm, Y học Tp Hồ Chí Minh, 7, 1-4

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/09/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/11/2018

Ngày đăng: 14/01/2020, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w